Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .

TRUYỆN THƠ TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

(Tập 4)

ẨN SĨ KHỔ HẠNH

Người kể chuyện: Tâm Minh Ngô Tằng Giao

* DIỆU PHƯƠNG XUẤT BẢN 2006 *


     

 

MỤC LỤC

 

LỜI NÓI ĐẦU.

 

1) Người bắn cung nhỏ bé.

2) Ẩn sĩ trong vườn vua.

3) Anh hùng tên “Xui”.

4) Thắc mắc trẻ thơ.

5) Học theo loài rắn.

6) Thầy tu thờ vận may.

7) Giả dạng thầy tu.

8) Tử tế một chiều.

9) Súc sắc tẩm độc.

10) Bí mật dây chuyền mất trộm.

      Ch.1: Từ tội này tới tội khác.

11) Bí mật dây chuyền mất trộm.

      Ch.2: Khám phá bí mật.

12) Sư tử bất cẩn.

13) Ẩn sĩ khổ hạnh.

14) Vua Đại Thiện Kiến.

15) Hoàng tử và các nữ quỷ.

      Ch.1: Năm bữa ăn trong rừng.

16) Hoàng tử và các nữ quỷ.

      Ch.2: Bữa tiệc trong hoàng cung.

17) Một người tên “Xấu”.

18) Một người tên “Khôn”.

19) Đạt được chữ “Không”.

20) Lời mẹ khuyên.

21) Chúa voi sáu ngà.

      Ch.1: Bồ Tát tái sinh.

22) Chúa voi sáu ngà.

       Ch.2: Nơi ở và gia đình.

23) Chúa voi sáu ngà.

      Ch.3: Hoàng hậu đầy hận thù.

24) Chúa voi sáu ngà.

      Ch.4: Cuộc săn.

25) Chúa voi sáu ngà.

      Ch.5: Hoàng hậu đắc thắng.

26) Ngỗng vàng.

27) Voi trắng.

28) Khỉ từ bi.

29) Bài học của nhà vua.

30) Vua hung ác.

31) Diều hâu hiếu thảo.

32) Chàng con khôn ngoan.

33) Người đẹp tuyệt trần.

 

* NHẬN DIỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT.

* NHẬN XÉT VỀ TIỀN THÂN.

 

 

             _________

LỜI NÓI ĐẦU

 

     TRUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT được ghi chép trong Kinh Bổn Sanh (Jàtaka). Đây là tập thứ 10 trong Tiểu Bộ Kinh. “Tiền thân” là những đời sống trước, những kiếp quá khứ. Mỗi truyện thường gồm: phần truyện hiện tại, phần truyện quá khứ, phần kết hợp và một bài kệ.

     Phần “TRUYỆN HIỆN TẠI” kể một câu truyện được xem là đang xảy ra trong thời Đức Phật còn tại thế. Nhân dịp này Đức Phật nhắc lại một câu truyện trong quá khứ có liên quan.

     Phần “TRUYỆN QUÁ KHỨ” kể một câu truyện từ thời xa xưa có liên hệ đến những nhân vật trong câu truyện hiện tại. Trong truyện quá khứ luôn luôn có sự hiện diện của một vị Bồ Tát, vị này là tiền thân của Đức Phật.

     Phong cách đạo đức của các vị Bồ Tát thật toàn hảo từ sự suy tư cho đến lời ăn tiếng nói và việc làm. Ngài là nhân vật chính cao cả, phi thường với nếp sống chân thiện, hướng thượng. Ngài thường giáo hóa người chung quanh bằng tấm gương đạo đức của chính mình. Ngài có đầy đủ các đức tính như trì giới thanh tịnh, bố thí rộng rãi, Thiền định tinh tấn liên tục và hành trì hạnh nhẫn nhục cao độ đến mức xả thân. Các vị Bồ Tát này khi thì làm thú vật, khi thì làm người, đôi khi làm chư thiên, có lúc làm thần cây v.v…

     Phần “KẾT HỢP” là phần liên kết truyện hiện tại với truyện quá khứ. Chỉ rõ sự liên hệ giữa những nhân vật chính trong hai câu truyện, để rồi “nhận diện tiền thân” tức là nói rõ ra rằng “người này”, “sinh vật này” trong truyện quá khứ “là ai” trong truyện hiện tại.

     Mỗi truyện tiền thân có một bài “KỆ”. Kệ đó thường dựa vào câu truyện để đưa ra lời phê bình.

     Tập TRUYỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT được coi là do các đệ tử của Đức Phật trước tác và mượn tiếng là Phật dạy để phổ biến những lời giáo huấn của Đức Phật. Người ta suy ra rằng các vị này sống trong thời Đức Phật hoặc chỉ sau đó khoảng vài chục năm. Đầu tiên truyện được truyền khẩu, về sau người ta sưu tập lại và ghi chép thành kinh sách.

     Các truyện tiền thân thật sự là những tài liệu có giá trị cả về mặt văn học, sử học, ngôn ngữ học, đạo đức học và giáo dục Phât giáo... Truyện có mục đích tạo niềm tin vào đạo pháp trong mọi tầng lớp xã hội. Truyện mở ra một kỷ nguyên mới trong cung cách truyền bá đạo Phật. Các truyện tiền thân này, nhất là các truyện về súc vật, nhiều khi vượt qua biên giới tôn giáo và trở thành cổ tích dân gian, nửa thần thoại, nửa thực tế, không lệ thuộc một tôn giáo nào hay xứ sở nào cả. Đây là gia tài chung của nền văn hóa dân gian. Chính vì vậy mà các truyện tiền thân này rất được phổ biến, không những trong giới Phật tử mà còn lan ra khắp cả mọi địa phương và mọi dân tộc nữa. Truyện tồn tại với giá trị độc đáo trong nền văn chương thánh thiện của thế giới. Mặc dù đã hơn hai ngàn năm trăm năm qua kể từ khi những truyện này được kể, ngày nay truyện vẫn chứa đựng sự hấp dẫn và còn có khả năng lôi cuốn làm say mê tâm hồn các độc giả trẻ em cũng như người lớn.

     Các truyện tiền thân Đức Phật đã được nhiều người kể lại, thường là bằng văn xuôi, đôi khi bằng tranh ảnh. Trong cuốn sách này, và có lẽ đây là lần đầu tiên, truyện được kể lại bằng một ngôn ngữ bình dị dưới hình thức thơ, những vần thơ “lục bát” có tính cách thuần túy dân tộc, để người đọc và người nghe dễ hiểu và dễ nhớ:   

 

     1) 25 truyện đầu tiên đã dựa vào tài liệu là hai cuốn: “BUDDHIST TALES FOR YOUNG AND OLD” của Ven. Kurunegoda Piyatissa Maha Thera và Todd Anderson. Phần tranh phụ họa trong cuốn thứ nhất (1995) là do Sally Bienemann, Millie Byrum và Mark Gilson. Phần tranh phụ họa trong cuốn thứ nhì (1996) là do John Patterson. Vì truyện kể nhắm cho các độc giả phương Tây nên các tranh vẽ hầu như thiếu sắc thái Á Đông.

     2) 8 truyện sau dựa vào “THE STORIES OF BUDDHA’S FORMER BIRTHS” của Anjali Pal và “STORIES OF THE BUDDHA” của Caroline A.F. Rhys Davids.

     Các tài liệu trên đây không đề cập tới phần “Truyện Hiện Tại” mà chỉ đơn giản đề cập đến phần “Truyện Quá Khứ” của các truyện tiền thân mà thôi.

     Cuối sách là phần “Nhận Diện Tiền Thân Đức Phật” giới thiệu cho mọi người được biết người nào, sinh vật nào, thần nào là vị Bồ Tát (tức tiền thân Đức Phật) trong câu truyện quá khứ đã kể ở trên.

     Tác giả khi kể truyện lại bằng thơ cũng đã tham khảo thêm các truyện về tiền thân Đức Phật của Hòa thượng Thích Minh Châu và cư sĩ Nguyên Tâm Trần Phương Lan dịch từ nguyên bản tiếng Pali và tiếng Anh, do Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn hành.

     Bộ “TRUYỆN THƠ TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT” của cư sĩ Tâm Minh Ngô Tằng Giao gồm nhiều tập. Tập số 4 này gồm 33 truyện thơ và có nhan đề là: “ẨN SĨ KHỔ HẠNH.”

     Ước mong rằng người đọc cũng như người nghe truyện sẽ ghi nhớ mãi trong tâm cái nếp sống đạo đức chân chính cùng những lời khuyên dạy quý báu của vị Bồ Tát trong truyện để cùng nhau cố gắng noi theo hầu đạt được cái Chân, Thiện, Mỹ trong cuộc sống hàng ngày.

 

DIỆU PHƯƠNG

______________

 

* 1 *

NGƯỜI BẮN CUNG NHỎ BÉ

 

Ngày xưa, ngày xửa, ngày xưa

Có gia đình nọ rất ư sang giàu

Chàng con lại lạ lùng sao

Người còng như có bướu sau lưng mình

Tướng trông xấu xí thật tình

Gầy còm, lùn thấp dáng hình khó coi,

Muốn theo học để nên người

Chàng tìm thầy giỏi đương thời trứ danh

Học về tôn giáo cho rành

Cùng môn khoa học, thêm ngành bắn cung

Ai ngờ bắn giỏi lạ lùng

Trở nên vô địch tiếng lừng khắp nơi.

Rời khỏi trường bước vào đời

Chàng thầm nghĩ ngợi: “Mọi người thường ưa

Xét người theo tiêu chuẩn xưa

Bề ngoài là chuộng, còn như thực tài

Dễ gì hấp dẫn được ai.”

Chàng cho rằng đến lâu đài hoàng cung

Muốn xin việc, khó vô cùng

Chắc vua sẽ hỏi: “Người lùn như mi

Thời làm được trò trống chi?”

Thế là hỏng việc, khó bề êm xuôi.

Chàng mong dựa dẫm một người

Bề ngoài bộ mã trông thời dễ coi

Để làm cái gốc mà thôi

Đứng ra lo liệu việc đời chung quanh

Còn chàng thời sẽ ẩn danh

Giữ phần đầu óc, nép mình phía sau

Cả hai kết hợp cùng nhau

Cách này kiếm sống dài lâu dễ dàng.

*

Một hôm dạo bước lang thang

Trong khu thợ dệt thời chàng gặp ngay

Một người cao lớn tại đây

To con, khoẻ mạnh, đẹp thay mã ngoài

Chàng làm quen rồi thốt lời

Hỏi thăm mới biết là người địa phương

Chuyên nghề thợ dệt tầm thường

Chàng bèn thắc mắc: “Đường đường tấm thân

Oai phong lẫm liệt vô ngần

Sao làm thợ dệt chôn chân xóm nghèo?”

Anh cao nói vẻ tiêu điều:

“Bản thân tôi có biết nhiều nghề đâu.”

Thật là thuận tiện biết bao

Chàng bèn đề nghị anh cao bỏ nghề

Hoàng cung chốn đó tìm về

Đúng theo kế hoạch trước kia của mình,

Chàng lên tiếng, giọng tâm tình:

“Gặp vua nói chuyện xin dành bạn thôi

Cho vua biết bạn là người

Bắn cung giỏi nhất ít ai sánh cùng

Vua nhìn bạn sẽ tin dùng

Sẽ thuê ngay đó bạn đừng ngại chi,

Phần tôi sẽ chỉ theo đi

Giúp ngầm cho bạn mỗi khi thấy cần

Việc cung tên đừng ngại ngần

Chính tôi ngầm bắn, đích thân trổ tài

Đôi ta sẽ có tiền hoài

Lại thêm địa vị bao người cầu mong

Chỉ cần bạn biết phục tùng

Làm theo tôi nói, nhớ đừng cãi tôi.”

Anh cao thợ dệt nghe rồi

Nghĩ mình chẳng bị thiệt thòi mất chi

Cho nên đồng ý tức thì

Nhắm Ba La Nại cùng đi vào chầu

Gặp vua kính cẩn cúi chào

Vua nhìn bộ mã anh cao đẹp người

Nên lên tiếng hỏi: “Các ngươi

Cần chi mà lại tới nơi triều đình?”

Anh cao thay mặt thưa trình:

“Muôn tâu bệ hạ tôi rành bắn cung

Nghề riêng thông thạo vô cùng

Mong vào phục vụ hoàng cung giúp ngài.”

Vua nhìn hình dáng bên ngoài

Thấy anh tốt mã, chắc tài cũng hay

Cho nên tin tưởng anh ngay

Cho anh chức vụ tại đây dễ dàng,

Sau khi ấn định tiền lương

Nhà vua mới hỏi tới chàng lùn kia

Đứng yên lặng, không nói chi

Phía sau khuất dạng, người thì nhỏ con,

Anh cao kính cẩn thưa luôn

Đó là phụ tá chuyên môn của mình.

Kể từ đó trong triều đình

Anh cao thợ dệt được dành chức cao

Được vua trọng dụng biết bao

Hoàn thành công việc vua trao mọi đường,

Thật ra mọi việc đảm đương

Là do tài nghệ của chàng lùn thôi!

*

Ít lâu xảy chuyện nguy tai

Có con cọp dữ sống nơi ven rừng

Luôn rình rập khách qua đường

Để rồi giết hại thảm thương vô vàn

Người dân sợ hãi kêu than

Vua bèn ra lệnh phải ngăn chặn liền.

Anh cao được hỏi trước tiên

Vì là người giỏi cung tên hàng đầu

Anh thưa: “Nào khó gì đâu

Tài tôi dư sức hạ mau cọp này.”

Vua tin lời sai đi ngay

Thưởng thêm tiền bạc. Vận may tốt lành!

Anh cao về kể ngọn ngành

Chàng lùn bèn vạch chương trình đi săn:

“Chuyện này bạn hãy đích thân

Một mình thực hiện chẳng cần đến tôi,

Gom dân làng khoảng ngàn người

Mang cung tên đến tận nơi cọp rừng

Tuy rằng bạn có đi chung

Nhưng vào bụi rậm bên đường núp đi

Để dân gặp cọp dữ kia

Dân làng vì cọp lâm nguy nhiều rồi

Cho nên vây giết cọp thôi

Cung tên giáo mác mọi người phóng qua

Cọp tuy dữ, sẽ tiêu ma

Bạn đừng vội vã bước ra phía ngoài

Hãy tìm một sợi dây dài

Dây leo trong bụi rậm thời thiếu chi

Cầm dây chạy tới cọp kia

Giơ dây nói lớn: ‘Ta đi kiếm tìm

Tìm dây trói cọp cuồng điên

Lệnh vua bắt sống cọp liền hôm nay

Sao ai giết cọp tại đây

Vua mà nổi giận làng này khó yên!’

Thế là dân hốt hoảng lên

Sợ vua bắt tội cho nên tìm đường

Bạc tiền hối lộ vội vàng

Để nhờ bạn cứu cả làng thoát nguy,

Riêng phần bạn khi trở về

Được vua trọng thưởng nể vì thêm lên

Tưởng rằng bạn với cung tên

Là người giết cọp dữ bên rừng già.”

Đúng theo kế hoạch vạch ra

Anh cao thực hiện quả là thành công

Khi anh trở lại hoàng cung

Được vua trọng thưởng tưng bừng, vẻ vang.

*

Ít lâu sau tại xóm làng

Có tin loan báo mùa màng ruộng nương

Bị trâu hung dữ điên cuồng

Kéo về phá hoại tang thương não nề,

Anh cao lại được cử đi

Chàng lùn cố vấn cứu nguy bạn mình

Đưa kế hoạch, thảo chương trình

Giống như kỳ trước lại thành công thêm

Vua thời thưởng, quan thời khen

Anh cao thợ dệt trở nên giàu rồi

Quyền hành, uy tín hơn người

Say mê danh tiếng anh thời u mê

Tưởng mình tài giỏi mọi bề

Khinh thường và ngỏ ý chê chàng lùn

Không thèm hỏi ý kiến luôn

Nói rằng: “Bạn tưởng bạn hơn tôi à

Bạc tiền danh vọng tạo ra

Xét cho thực sự chính là do tôi

Không ai cần bạn nữa rồi.”

Anh cao thô lỗ tuôn lời ra thêm.

*

Ít lâu sau nước kế bên

Sẵn lòng thù nghịch nên liền tấn công

Vây kinh đô, thật nguy vong

Gửi thư tuyên chiến vào trong nội thành

Nhà vua sai kẻ nổi danh

Anh cao thợ dệt từng giành chức cao

Hãy tiên phong ra đối đầu

Phá quân xâm lược, đánh nhau diệt thù,

Anh cao tuân thủ lệnh vua

Cân đai, áo giáp rất ư oai hùng

Cưỡi voi ra thẳng chiến trường

Chàng lùn sợ bạn tử thương chuyến này

Nên mang áo giáp vào ngay

Ngồi sau lưng bạn ra tay giúp ngầm

Theo sau là đám quan quân

Hò reo tiến bước vô ngần hăng say.

Khi nghe trống trận quanh đây

Ầm ầm nổi dậy, hồn bay mất rồi

Anh cao suýt ngã xuống voi

Chàng lùn vội giữ chặt người bạn kia

Lấy dây buộc lại cứu nguy

Anh cao run sợ trông thì thảm sao

Khiến phân, nước tiểu tuôn trào

Ướt lưng voi trận! Ai nào ngờ đây!

Chàng lùn chê: “Từ lâu nay

Bạn từng khoác lác là tay anh hùng

Hôm nay làm chuyện điên khùng

Hoảng kinh phóng uế trên lưng voi rồi

Tuy nhiên tôi nói vậy thôi

Có tôi bảo vệ bạn thời sợ chi

Giờ quay về tắm ngay đi

Khi người sạch sẽ bạn thì dễ coi.”

Chàng lùn đỡ bạn xuống voi

Sau khi chỉ trích chê cười anh cao.

*

Một mình còn lại tự hào

Xông ra lâm trận đối đầu địch quân

Chàng lùn vui sướng nghĩ thầm:

“Lúc này tài nghệ ta cần biểu dương

Để vua đừng có coi thường

Xét người cẩn thận, tránh đường lầm sai

Đừng xét đoán theo bề ngoài.”

Nghĩ xong chàng phóng qua nơi quân thù

Nhắm nơi đầu não có vua

Phóng vào hét lớn rất ư hào hùng

Phô tài nghệ giỏi vô song

Bất ngờ bắt sống vua không khó gì

Đội quân xâm lược tan đi

Không cần chém giết thêm chi nhọc lòng

Chàng lùn hoàn tất chiến công

Giải vua thù địch vào trong hoàng thành.

Vua Ba La Nại hoan nghênh

Khen chàng tài giỏi, xứng danh người hiền

Ban chức tước, thưởng bạc tiền

Chàng từ khi đó khắp miền vang danh

“Tiểu xạ thủ” của triều đình

Một bậc “hiền triết” rất rành kiếm cung.

Còn anh thợ dệt tầm thường

Nhà vua gửi trả về làng dệt thôi.

“Tiểu xạ thủ” sống trọn đời

Gieo bao công đức cho người chung quanh,

Khi qua đời được tái sinh

Vào nơi xứng đáng nghiệp mình sẵn gây.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

FEAR MAKER AND LITTLE ARCHER

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 2 *

ẨN SĨ TRONG VƯỜN VUA

 

Thuở xa xưa có một người

Trong gia đình nọ sống đời giàu sang

Nhưng mà ông lại chẳng màng

Chẳng ưa cuộc sống tầm thường thế nhân

Ông vào Hy Mã Lạp Sơn

Sống đời ẩn sĩ ở luôn trong rừng

Hàng ngày thiền định tập trung

Chân tâm phát triển vô cùng an vui

Hưởng thiền lạc thật tuyệt vời

Ung dung, tự tại, xa nơi thị thành

Khi ông thâu nhận môn sinh

Năm trăm người đã nhiệt tình ghi danh.

*

Mùa mưa giăng phủ rừng xanh

Quỳ bên sư trưởng môn sinh thưa thầy:

“Chúng con xin rời khỏi đây

Trở về thành thị ít ngày tạm nương

Để chờ bá tánh thập phương

Sẽ đem muối, giấm cúng dường thành tâm

Nhận xong về chốn sơn lâm

Thầy trò lại sẽ quây quần một nơi.”

Thầy đồng ý khẽ thốt lời:

“Các con trở lại khi trời hết mưa

Riêng ta vẫn cứ ẩn tu

Một mình trong chốn rừng thưa an lành.”

Tuân lời cả đám môn sinh

Cùng quỳ tạm biệt, về kinh đô liền

Ở vườn vua chốn công viên

Thành Ba La Nại giữa miền hoàng cung.

Hôm sau họ mới thong dong

Ra đi khất thực quanh trong xóm làng

Bà con hoan hỉ cúng dường

Muôn phần hậu hĩnh, trăm đường thành tâm

Vài ngày sau khắp xa gần

Thầy tu khất thực tiếng đồn loan nhanh

Nhà vua nghe được ngọn ngành:

“Các thầy khắc khổ tu hành nêu gương

Các căn nhiếp phục đàng hoàng

Luôn luôn giữ giới nghiêm trang vô ngần

Thật là công đức bội phần.”

Vua nghe vội tới ân cần thăm ngay

Sau khi đảnh lễ các thầy

Vua mời họ ở lại đây suốt mùa

Trong công viên bốn tháng mưa,

Các thầy vui nhận lời vua thỉnh mời.

Kể từ khi đó thảnh thơi

Ăn trong cung điện khỏi dời chân đi.

*

Thế rồi tới một ngày kia

Là ngày “Lễ Rượu” dân thì vui chơi

Người ta uống rượu khắp nơi

Lệ xưa: “Uống rượu cuộc đời gặp may.”

Nhà vua nghĩ đến các thầy

Làm chi có rượu, ai đây cúng dường

Hôm nay nhân lễ bất thường

Rượu ngon vua vội truyền mang biếu thầy,

Thầy đâu quen uống rượu này

Cho nên tất cả cùng say sưa liền

Trở về lại chốn công viên

Các thầy múa hát cuồng điên lạ lùng

Bao đồ đạc vứt lung tung

Rồi nằm thiếp ngủ say không biết gì.

Hôm sau tỉnh, thấy ê chề

Hối vì làm những hành vi đêm rồi

Nghĩ sao bất chính quá thôi

Trong lòng hổ thẹn mọi người khóc than:

“Chúng ta tội lỗi vô vàn

Chỉ vì không được ở gần minh sư!”

Thế là tất cả giã từ

Rời công viên nhắm rừng xưa trở về.

Về xong sắp đặt mọi bề

Rất là ngăn nắp, rất chi gọn gàng

Theo như nếp sống thông thường

Rồi tìm sư trưởng nghiêm trang kính chào.

Thầy mừng, thăm hỏi: “Thế nào

Các con ăn ở ra sao trong thành?

Có hoà hợp, có tịnh thanh?

Có luôn giữ giới tu hành hay chăng?”

Năm trăm đệ tử thưa rằng:

“Chúng con uống rượu cúng dường của vua

Cho nên đều lỡ say sưa

Mất đi chánh niệm từ xưa giữ gìn

Múa ca ăn nói huyên thuyên

Ngu đần như lũ vượn miền rừng hoang

Để rồi hổ thẹn khóc than

May không thành vượn kéo đoàn về đây.”

Thầy từ bi dạy: “Chuyện này

Thời nào cũng có, lâu nay vậy rồi

Các môn sinh ở khắp nơi

Không thầy hướng dẫn, bao người lầm sai.

Rút kinh nghiệm cho tương lai

Đây là bài học nhớ hoài nghe con

Tu hành cần giữ giới luôn

Lánh xa ác hạnh, tiến gần minh sư.”

Môn sinh tiếp tục đường tu

Kể từ ngày đó rất ư trưởng thành

Luôn tịnh lạc, mãi an lành

Bên thầy kề cận tu hành nghiêm trang.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

FOREST MONKS IN

A KING’S PLEASURE GARDEN

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 3 *

ANH HÙNG TÊN “XUI”

 

Có ông triệu phú thời xưa

Tuy giàu nhưng rất nhân từ đáng khen

Ông thường có một bạn quen

Bạn ông thật tốt nhưng tên lạ lùng

Tên “Xui” nghe xấu vô cùng

Cả hai trước học một trường, ganh đua

Thân tình từ thuở ấu thơ

Đã từng nô giỡn, chơi đùa bên nhau

Giúp nhau mọi việc trước sau

Tuổi xanh tình bạn dài lâu vững vàng.

Sau khi rời mái học đường

Ông Xui quả thật mãi vương muộn phiền

Hết hạn xui, đến vận đen

Việc làm chẳng có, bạc tiền thời không,

Ông Xui thăm bạn thành công

Tiền rừng bạc bể vô cùng giàu sang

Ông nhà giàu thương bạn vàng

Hết lời an ủi, sẵn sàng giúp ngay

Mượn làm quản lý nhà này

Trông coi tài sản hoặc thay mặt mình

Điều hành công việc kinh doanh,

Đẹp thay tình bạn chân thành hiếm hoi.

*

Từ khi có mặt ông Xui

Tên ông được nhắc khắp nơi vang lừng

Tên nghe tuy rất lạ lùng

Mọi người vẫn réo gọi trong khắp nhà:

“Ông Xui có khách phương xa!”

“Ông Xui hãy lẹ chúng ta đi liền!”

“Ông Xui hãy đợi chớ quên!”

Người ta ơi ới kêu tên ông hoài

Các người hàng xóm nghe rồi

Tìm ông triệu phú thốt lời gièm pha:

“Này ông chớ có lơ là

Cái người quản lý cửa nhà của ông

Có tên nghe thật lạ lùng

Tên Xui chắc chắn là không hên rồi

Gây xui xẻo vô phước thôi

Chỉ mang tai họa đến nơi cửa nhà

Thần tiên hay quỷ dạ xoa

Nghe tên Xui cũng chạy xa hoảng hồn

Ông mau đuổi hắn đi luôn

Nếu còn gần hắn không còn vận hên

Hắn nghèo đói, hắn thấp hèn

Đừng nên liên hệ, chẳng nên cận kề.”

Ông nhà giàu: “Đừng có chê!

Ông Xui là bạn cùng quê lâu đời

Thân quen từ thuở thiếu thời

Một người bạn quý, tuyệt vời, đáng tin

Nào đâu vì một cái tên

Mà tôi xua đuổi bạn hiền của tôi,

Tên dùng phân biệt con người

Chứ đâu mang lại hên xui bao giờ,

Kẻ điên dại, kẻ khù khờ

Mới suy nghĩ xấu, mê mờ mà thôi

Quẩn quanh mê tín cả đời

Nghĩ tên tốt xấu buông lời dị đoan,

Ai tinh tấn, ai khôn ngoan

Nào đâu phân biệt như hàng hạ căn.”

Thế là ông chẳng băn khoăn

Vẫn dùng người bạn lâu năm của mình.

Một hôm ông phải khởi hành

Đi xa giao dịch kinh doanh ít ngày

Trong khi vắng mặt nơi đây

Ông nhờ bạn quý đứng thay mặt mình

Trông coi tài sản cơ dinh

Biết rằng bạn sẽ chí tình, tận tâm.

*

Cướp kia một bọn ở gần

Nghe tin triệu phú bất thần đi xa

Nghĩ là thuận tiện thời cơ

Để mà đột nhập vào nhà của ông

Cướp tài sản chẳng nhọc công

Cho nên bọn chúng nấp vòng chung quanh

Ẩn mình bóng tối đêm thanh

Mang theo dao, gậy ngồi rình ra tay.

Ông Xui quản lý nhà này

Đã nhiều kinh nghiệm lại đầy nhiệt tâm

Đoán quân gian sẽ viếng thăm

Nên ông không chịu đi nằm ngủ ngay

Thức khuya canh gác trong đây

Khi nhìn thấy cướp bao vây phía ngoài

Ông liền đánh thức mọi người

Cùng làm ầm ĩ khắp nơi trong nhà

Đánh chiêng trống, thổi tù và

Khiến cho kẻ lạ rất là ngạc nhiên

Nghĩ mình lầm lẫn cũng nên

Chủ nhà còn đó, lại thêm nhiều người

Rủ nhau cướp bỏ chạy thôi

Vứt dao, vứt gậy khắp nơi quanh nhà.

Hôm sau mọi người bước ra

Thấy bao vũ khí trông mà hãi kinh

Họ bàn nhau: “Quả thật tình

Quản gia sáng suốt, trung thành quý thay

Nếu không có ông Xui này

Gia tài của chủ giờ đây tiêu tùng!”

Ông Xui nay là anh hùng

Chẳng mang xui xẻo, dữ hung chút gì.

Đến khi triệu phú trở về

Các người hàng xóm tức thì kể ra

Chuyện ông Xui bảo vệ nhà

Chủ nhân nghe được quả là mừng vui

Ông bèn nói với mọi người:

“Đừng nên đánh giá theo nơi tên mình

Cái tâm mới quý thật tình,

Cùng đi bảy bước trở thành bạn thôi,

Đi mười hai bước chung đôi

Mới mong hy vọng thành người bạn thân,

Chung đường cả tháng trời luôn

Mới coi như thể bà con một nhà,

Kề nhau lâu chẳng lìa xa

Bạn thời tương tự thân ta khác gì

Mới là quý hóa kể chi.

Bạn Xui tôi đó ngẫm thì rõ ngay

Chỉ mang hên lại nhà này

Bạn đâu xui xẻo! Đời hay mê mờ!”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

A HERO NAMED JINX

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 4 *

THẮC MẮC TRẺ THƠ

 

Ở Ba La Nại thời xưa

Có ông triệu phú rất ư là giàu

Con trai ông đã từ lâu

Học ham nổi tiếng ai đâu sánh cùng

Tuy nhiều điều cậu tinh thông

Vẫn luôn tìm hiểu có ngừng lại đâu

Mặc dù mới bảy tuổi đầu

Suy tư muốn biết trước sau cội nguồn:

“Đâu là giá trị thật chân?

Đường nào hạnh phúc thế nhân đạt thành?”

Một hôm cậu hỏi cha mình

Những điều thắc mắc chân tình nêu trên

Cha bèn dạy những lời hiền:

“Con ơi muốn tới được miền thanh cao

Sáu đường cao quý tìm vào

Nơi chân hạnh phúc dạt dào thăng hoa:

- Giữ cho khoẻ mạnh thân ta

Bao nhiêu bệnh tật tránh xa được liền

- Nhủ lòng giữ giới cho bền

Đem hương thanh tịnh ướp lên tâm mình

- Nghe lời những vị cao minh

Bề trên, trưởng thượng có kinh nghiệm đời

- Quyết lòng học hỏi những người

Thông câu học vấn, rành lời kinh thơm

- Giữ cho đẹp cõi tâm hồn

Sống theo chánh pháp luôn luôn tốt lành

- Hãy hành động với lòng thành

Chứ không chỉ với nhiệt tình mà thôi.

Đây là sáu nẻo tuyệt vời

Dẫn vào hạnh phúc cuộc đời thế nhân

Khu vườn hạnh phúc tinh thần

Trăm bề hoan lạc, muôn phần thắm tươi.”

Cậu con chăm chú nghe lời

Kể từ khi đó cậu thời nhập tâm

Sáu đường hạnh phúc dấn thân

Bước vào cửa ngõ vô ngần tịnh thanh

Sau này khi đã trưởng thành

Những lời cha dạy an lành mãi theo.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

A QUESTION FROM A SEVEN YEAR OLD

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 5 *

HỌC THEO LOÀI RẮN

 

Ba La Nại thuở xa xưa

Nhà vua có một tế sư giúp mình

Đóng vai cố vấn triều đình

Giỏi giang tột bực, thông minh vô cùng

Gia đình danh giá trong vùng

Tính ông rộng lượng, hay thương mọi người

Thường xuyên bố thí giúp đời

Cho nên ông được khắp nơi nể vì

“Năm điều giới cấm” uy nghi

Ông theo tu tập rất chi chuyên cần

“Sát sinh, trộm cắp, tà dâm

Say sưa, dối trá” ông luôn giữ gìn

Không dám phạm, chẳng hề quên

Đời ông là bậc thánh hiền nêu gương

Nhà vua do đó tán dương

Ông là người tốt trăm đường đáng khen.

*

Lòng tò mò chợt nổi lên

Tế sư bỗng muốn biết thêm một điều:

“Nhà vua kính trọng mình nhiều

Là vì vua đã dựa theo tài mình

Hay mình dòng dõi nổi danh

Hay mình tài sản gia đình giàu sang

Hay do giới đức vẻ vang

Khi mình theo ánh đạo vàng tu thân?”

Suy tư, thắc mắc, phân vân

Nên ông muốn thử một lần xem sao.

Rời hoàng cung ngày hôm sau

Tế sư đâu chịu lẽ nào về ngay

Cố tình ông ghé vào đây

Là nơi tiền bạc hàng ngày đúc ra

Ông bèn làm bộ gian tà

Thò tay lấy trộm thật là lặng yên

Một đồng vàng, cất giấu liền

Nhân viên xưởng đúc lặng im nể vì

Không hề dám nói năng chi

Mọi người kính trọng ông thì đã lâu.

Thế rồi lại tới hôm sau

Diễn ra đúng vậy thấy sao lạ lùng

Lần này ông lấy hai đồng

Nhân viên xưởng đúc cũng không than phiền.

Hôm sau nữa lại lấy tiền

Lần này lấy một nắm liền đầy tay

Ba lần gian xảo kiểu này

Chẳng coi luật pháp tại đây ra gì

Nhân viên họ hết nể vì

Bắt ông tại chỗ, miệng thì la lên:

“Đây là kẻ ba lần liền

Gian manh trộm cắp bạc tiền của vua.”

Và rồi cả đám reo hò:

“Kẻ này đạo đức giả đò mà thôi

Làm như lành tốt hơn người.”

Họ bèn đánh, trói ông rồi giải đi

Không còn kính trọng chút chi

Giải vào vua xử mọi bề công minh.

Trên đường đi tới triều đình

Thấy nhiều người đứng vây quanh chốn này

Người nuôi rắn đứng trong đây

Đang lo biểu diễn trò hay kiếm tiền

Những trò nguy hiểm vô biên

Để cho rắn độc quấn trên cổ mình

Hổ mang ngóc dậy vờn quanh

Lắc lư theo những âm thanh của kèn

Người nuôi rắn muốn khách xem

Tỏ lòng thán phục và khen can trường.

Tế sư khuyên họ: “Coi chừng!

Chớ nên nắm cổ, cũng đừng nắm đuôi

Không nên quấn rắn quanh người

Hổ mang cực độc, cắn thời chết ngay.”

Người nuôi rắn mắng: “Ngu thay!

Ông nào có biết rắn đây lành hiền

Từ lâu huấn luyện đã quen

Nào đâu có xấu, có hèn như ông

Ông là kẻ trộm trong cung

Vô cùng xảo trá, vô cùng gian manh

Chi nên bị trói thân mình

Còn như rắn nọ tốt lành từ lâu

Đâu cần trói buộc lại đâu.”

Tế sư nghe nói cúi đầu nghĩ suy:

“Ngay như rắn độc hại kia

Nếu không cắn bậy còn chi quý bằng

Được coi tốt đẹp hiền lương

Mới hay giới đức người thường cầu mong

Coi như tối thượng vô song

Người ta quý trọng nhất trong cõi trần.”

*

Khi mọi người giải tội nhân

Tới vua phán xét xử phân tội tình

Mọi người thuật chuyện ngọn ngành

Tế sư trộm cắp gian manh tiền vàng

Vua nghe xong thoạt ngỡ ngàng

Rồi truyền lệnh phạt kẻ gian tức thì

Phạt theo luật để thị uy.

Tế sư lúc đó còn gì giấu đâu

Ông bèn lên tiếng trình tâu

Ý mình muốn thử từ đầu tới nay

Để xem giới đức tại đây

Có còn được trọng vọng hay suy đồi:

“Bây giờ mọi chuyện rõ rồi

Chỉ vì giả bộ trộm nơi cung vàng

Mà tôi không được nể nang

Bị coi là kẻ thuộc hàng xấu xa

Mới hay giới đức suy ra

Quả là tuyệt diệu, quả là tối cao.

Hổ mang rắn độc biết bao

Khi không gây hại ai nào trách chê

Được người yêu mến mọi bề

Quả là giới đức còn chi quý bằng.”

Vua nghe tâu thật rõ ràng

Bèn truyền tha tội trộm vàng của vua

Truyền tha cho vị tế sư,

Nhưng ông sau đó chẳng ưa quyền hành

Thỉnh cầu vua cho phép mình

Giã từ chức vụ triều đình từ lâu

Trở thành tu sĩ rừng sâu

Nhà vua từ chối có đâu thuận lòng

Tế sư cứ mãi cầu mong

Nhà vua thấy vậy cuối cùng chuẩn y.

Tế sư hoan hỉ ra đi

Giã từ cõi tục, tìm về nẻo thơm

Lánh vào Hy Mã Lạp Sơn

Chuyên tâm thiền định bình an tuyệt vời

Đến khi mãn kiếp lìa đời

Tái sinh thiên giới, cõi trời tối cao.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

A LESSON FROM A SNAKE

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 6 *

THẦY TU THỜ VẬN MAY

 

Ngày xưa có một chàng trai

Trong gia đình nọ sống đời cao sang

Khi khôn lớn chàng thấy rằng

Dù cho cuộc sống dễ dàng bản thân

Nhưng chân hạnh phúc tối cần

Mọi người tìm kiếm khó khăn vô cùng

Cho nên chàng quyết nhủ lòng

Xả đi tất cả, không mong, không cầu

Vào núi thẳm, tìm rừng sâu

Sống đời ẩn sĩ đạo mầu tu thân

Hành thiền rốt ráo chuyên cần

Đạt mau an lạc trong chân tâm mình.

Một hôm rời chốn rừng xanh

Thầy tu về lại kinh thành ít lâu

Dừng chân trú ngụ đêm thâu

Trong công viên vốn từ lâu an bình

Giữa khu vườn của triều đình,

Hôm sau khất thực vào thành đi rong.

Vua trông thầy thấy hài lòng

Người sao từ tốn, vô cùng trang nghiêm

Nhà vua quý trọng người hiền

Mời vào cung điện dâng liền thức ăn

Mời thầy khổ hạnh dừng chân

Trong công viên đó không cần đi xa,

Thầy đồng ý chẳng nề hà

Kể từ ngày đó vào ra chốn này

Trong công viên ngụ tại đây

Ăn trong cung điện hàng ngày thảnh thơi.

*

Một thầy nọ cũng cùng thời

Ở trong thành phố mọi người biết danh

Có tài xem tướng rất rành

Đoán điềm xấu tốt, dữ lành, hên xui

Nhìn vào vải mặc trên người

Tương lai may rủi ông thời đoán ngay.

Một hôm tắm mát ban ngày

Ông mang quần áo mới may ra dùng

Ông sai một kẻ làm công

Lấy quần lấy áo của ông trong nhà

Khi người làm lấy đồ ra

Thấy vài chỗ rách. “Đúng là chuột thôi

Chuột kia cắn rách áo rồi!”

Người làm trình báo tức thời cùng ông

Ông nhìn vải nghĩ trong lòng:

“Đây là điềm báo vô cùng xấu xa

Chuyện không lành sẽ xảy ra

Chắc là tan cửa nát nhà như chơi

Áo quần phải bỏ đi thôi

Trong nhà chất chứa, cuộc đời nguy nan,

Nếu cho con cái người làm

Dễ gì có thể an toàn được ngay

Vì còn luẩn quẩn nhà này,

Cho người lạ chốn quanh đây cũng phiền,

Nên đem ra nghĩa trang liền

Là nơi xác chết khắp miền tanh hôi

Chỉ chờ thú dữ ăn thôi

Tai ương vải vóc kia thời dứt mau

Nhưng mà thực hiện dễ đâu

Sai người giúp việc họ nào có nghe

Sẽ tham giữ lại đồ kia

Thế là tai ách vẫn kề trong đây

Chỉ nên trao nhiệm vụ này

Cho con trai trưởng nó hay nghe lời.”

Ông cho gọi con tới nơi

Và rồi thuật chuyện đầu đuôi tỏ tường

Sai con mang vải tai ương

Đem ra vứt tại nghĩa trang ngoại thành,

“Vải xui hãy tránh cho nhanh

Đừng sờ tay tới, thân mình nguy tai

Hãy dùng một cây gậy dài

Mà mang quần áo ra ngoài nghĩa trang

Xong rồi tắm rửa đàng hoàng

Trước khi trở lại, kẻo mang họa về.”

Thầy tu dặn cậu con kia

Cậu theo lệnh đó tức thì đi ngay.

*

Thầy tu khổ hạnh bữa nay

Đi ngang cửa nghĩa trang này dừng chân

Thấy người vứt bộ áo quần

Ông bèn nhặt lấy nhìn gần xem sao

Thấy rằng vải tốt biết bao

Vết răng chuột cắn ai nào nhìn ra

Ông bèn lượm mang về nhà

Về công viên mặc kẻo mà phí đi.

Chàng trai hốt hoảng trở về

Thuật cho cha rõ những gì xảy ra

Cha nghe lo sợ vô bờ

Nghĩ: “Thầy khổ hạnh bất ngờ vạ lây

Vải mang tai họa tới ngay

Ta nên báo để ông này phòng thân

Chớ nên đụng đến áo quần

Hãy lìa bỏ sớm, chớ chần chờ thêm.”

Sau khi nghe nói như trên

Thầy tu khổ hạnh hành thiền rừng sâu

Có còn ngần ngại gì đâu

Bèn lên tiếng dạy đạo mầu tối cao

Cho người mê tín biết bao

Từ lâu chìm đắm sâu vào vô minh

Rồi ông khuyên nhủ chân tình:

“Dựa vào vải đoán dữ lành tương lai

Là điều mê tín lầm sai

Điều này hiền trí nhớ hoài chớ quên.”

Sau khi nghe tiếng nhủ khuyên

Lời vàng soi sáng bừng thêm tâm người

Thầy tu mê tín một thời

Thấy mình khờ dại bèn rời nẻo mê

Con đường chân lý tìm về

Lời thầy khổ hạnh mọi bề nghe theo

Tu tâm, sửa tánh sớm chiều

Bến bờ giác ngộ dấu yêu đón chờ.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

A PRIEST WHO WORSHIPPED LUCK

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 7 *

GIẢ DẠNG THẦY TU

 

Người ta kể chuyện ngày xưa

Có người trông giống thầy tu vô cùng

Cột đầu, bện tóc, hở lưng

Mặc đồ rách rưới, sống vùng hoang vu

Tựa như một kẻ khổ tu

Sống nhờ vào tấm lòng từ của dân

Bên ngôi làng nhỏ ở gần,

Nhưng đây là kẻ bản thân lọc lừa

Bề trong gian xảo không từ

Bề ngoài giả dạng “thầy tu lành hiền

Chẳng ham chi đến bạc tiền

Thảnh thơi buông xả nơi miền nhân gian.”

*

Ông già điền chủ trong làng

Muốn gây công đức nên mang cúng dường

Thức ăn ngon của địa phương

Đồng thời dựng ở mé rừng gần đây

Một am cỏ cho ông thầy

Để thầy trú ngụ hàng ngày tu thân,

Nhìn thầy ông lão nghĩ thầm:

“Bề ngoài có vẻ người chân tu rồi

Chắc thành thật và tốt thôi

Không làm việc xấu. Đây người đáng tin.”

Lo xa trộm cướp nổi lên

Ông đem một số bạc tiền của ông

Đến am lén lút vùi chôn

Tiền vàng đủ một trăm đồng quý thay,

Chôn xong ngỏ ý nhờ thầy

Coi giùm sản nghiệp giấu đây của mình.

Thầy tu lên giọng nghĩa tình:

“Đừng nhiều thắc mắc mà thành đa nghi

Người như ta có ham chi

Đã từng buông xả hết đi chuyện đời

Chẳng ham chiếm đoạt của người

Bạc vàng cõi tục ta thời chẳng mong.”

Trở về điền chủ hài lòng

Nhủ thầm mình thật vô cùng khôn lanh

Khi tin tưởng bậc tu hành

Con người chân thật tốt lành biết bao.

Tiễn ông già khỏi rừng sâu

Thầy tu giả dạng khởi đầu máu tham

Nghĩ thầm: “Cả một kho tàng

Đủ cho ta sống vẻ vang trọn đời

Khỏi làm việc, sống thảnh thơi

Khỏi cần khất thực mọi người nữa đâu.”

Thế là chỉ ít ngày sau

Thầy tu gian xảo đào mau lấy vàng

Đem đi chôn lén bên đường

Rồi quay về sống bình thường trong am.

Vài ngày sau thầy ghé thăm

Tới nhà điền chủ uống ăn thân tình

Ăn xong khẽ ngỏ ý mình:

“Nhờ ông tôi sống an bình chốn đây

Một thời gian khá dài thay

Tôi nên chấm dứt việc này ngay thôi

Tu là xa cõi tục rồi

Không nên bám víu một nơi chốn nào

Dù ông có tốt biết bao

Tôi xin được phép rời mau khỏi làng

Tránh điều cấu uế vương mang

Ra đi tiếp bước trên đường tu thân.”

Thốt lời lưu giữ nhiều lần

Vẫn không níu được bước chân của người

Ông già điền chủ đành thôi

Tiễn người ra tới tận nơi đầu làng.

Sau khi rời một quãng đường

Thầy tu giả hiệu đã ngừng bước đi

Trong lòng tính toán nghĩ suy:

“Làm sao lừa dối lão kia bây giờ

Để cho lão khỏi nghi ngờ

Lão điền chủ nọ ngu ngơ vô cùng.”

Thế là hắn đến cánh đồng

Ngắt lên một ngọn cỏ bồng dưới đây

Cắm lên búi tóc mình ngay

Xong rồi hắn làm bộ quay vào làng,

Ông điền chủ thật ngỡ ngàng

Thấy thầy quay lại vội vàng hỏi ngay:

“Sao thầy trở lại chốn này?”

Thầy tu giả dạng ra tay bịp đời

Cúi đầu, đưa cỏ, thốt lời:

“Nhà ông có cỏ trên nơi mái nhà

Cỏ này dính lọn tóc ta

Nên ta trở lại để mà trả ông

Của người chẳng dám lấy không

Có luôn giữ giới mới mong tu hành.”

Ông già nghe tưởng thật tình

Thốt lời ca ngợi: “Tốt lành kể chi!

Xin thầy đừng nghĩ ngợi gì

Hãy nên vứt cỏ rồi đi khỏi làng

Những người vật chất không màng

Như ngài thanh tịnh xứng hàng chân tu

Không tham dù ngọn cỏ khô

Tôi đây may mắn có cơ cúng dường

Thầy tu giới đức ngát hương.”

Lão ông đảnh lễ vô cùng trang nghiêm

Thầy tu từ biệt đi liền

Thấy người tin tưởng, thầm yên bụng rồi.

*

Bấy giờ từ chốn xa vời

Có nhà buôn nọ qua nơi vùng này

Tính dừng chân nghỉ đêm nay

Bất ngờ nghe được chuyện thầy hiền lương

Nói cùng điền chủ cúng dường

Nhà buôn nghĩ: “Chuyện bất thường lạ sao!

Thật khôi hài biết là bao

Thầy kia chắc trộm vật nào quý hơn

Hơn ngọn cỏ, hơn cọng rơm

Cho nên đóng kịch giả luôn thật thà.”

Nhà buôn hỏi giọng điều tra:

“Thế ông điền chủ ở nhà trước đây

Có trao gì cho ông thầy

Để nhờ cất giữ hộ hay không nào?”

Thật tình ông lão thuật mau

Chuyện vàng chôn cất trước sau nhờ thầy.

Nhà buôn: “Ông hãy đi ngay

Để xem tài sản mất hay vẫn còn.”

Lão ông nghe nói hoảng hồn

Vội vàng bỏ chạy về luôn tức thì

Đào trong am chẳng thấy gì

Mới hay có kẻ lấy đi hết vàng

Ông già quay lại đầu làng

Báo nhà buôn rõ tìm phương giúp mình.

Nhà buôn: “Kẻ trộm gian tình

Chính là người giả tu hành chứ đâu

Chúng ta hãy đuổi theo mau

Bắt tên lừa đảo túm đầu gian phi.”

Họ cùng rượt đuổi kẻ kia

Bắt quân gian lại rất chi kịp thời,

Sau khi bị đánh tơi bời

Kẻ gian khai rõ ra nơi giấu vàng

Mọi người quay lại đầu làng

Bên đường đào lấy kho tàng kia lên.

Nhà buôn hiền trí dạy liền:

“Hỡi tên đội lốt lành hiền chân tu

Từ lâu giả dối lọc lừa

Dù cho ngọn cỏ làm như chẳng màng

Nhưng ham cả một kho vàng

Hãy ngưng mau tính xấu mang trong người

Quay về nẻo thiện ngay thôi

Tu nhân, tích đức cuộc đời ngay đi.”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE PHONY HOLY MAN

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 8 *

TỬ TẾ MỘT CHIỀU

 

Hai nhà buôn thuở xa xưa

Vẫn thường liên lạc thư từ với nhau

Ông già thành thị rất giàu

Ở Ba La Nại từ lâu đời rồi

Chàng kia ở phía xa xôi

Nơi làng biên giới ít người ghé đây,

Hai bên quen biết lâu nay

Nhưng chưa hề có một ngày gặp nhau.

Một hôm hàng hóa tới mau

Nhà buôn biên giới gởi vào kinh đô

Năm trăm xe chất đầy đồ

Chất đầy hàng hóa để chờ bán đi

Chàng trai trẻ dặn đoàn xe

Đến nhờ ông lão giàu kia giúp mình,

Đoàn xe khi tới kinh thành

Biếu quà ông lão tỏ tình tương thân

Ông già tử tế vô ngần

Mời đoàn ăn ở tại luôn trong nhà

Biếu tiền cho họ tiêu pha

Hết lòng đối đãi thật là tốt thay,

Hỏi thăm bạn trẻ xa đây

Mua quà gởi tặng lại ngay bạn mình,

Vì là người chốn kinh thành

Cho nên ông giúp bán nhanh hết hàng

Đoàn xe lời kiếm dễ dàng

Lên đường quay trở về làng nơi xa

Chuyến buôn thuận lợi vừa qua

Đầu đuôi thuật rõ để nhà buôn hay.

*

Thế rồi cho tới một ngày

Chính ông già lại gửi ngay hàng mình

Năm trăm xe rời kinh thành

Nhắm vùng biên giới tiến nhanh tới liền

Đem hàng đi bán trong miền

Nhờ nhà buôn trẻ giúp thêm bán hàng

Đem quà biếu bạn đàng hoàng

Trước sau tình nghĩa vẹn toàn cả hai.

Khi đoàn thành thị tới nơi

Anh chàng biên địa tức thời hỏi thăm

Đoàn buôn vui vẻ thưa rằng

Từ Ba La Nại mang hàng tới đây

Nhờ chàng giúp đỡ một tay:

“Chủ tôi là chỗ thường hay thư từ.”

Anh chàng trẻ chẳng ngần ngừ

Nhận quà nhưng lại chối từ chẳng quen:

“Tôi nào có bạn vùng trên

Từ Ba La Nại là miền xa xôi.”

Nói xong chàng phá lên cười

Thốt lời mai mỉa giễu người phương xa,

Giễu xong chàng đuổi họ ra

Chẳng màng giúp đỡ, thật là vô ơn.

Đoàn buôn thành thị rất buồn

Phải đành xoay xở bán buôn tự mình

Bán xong trở lại kinh thành

Chuyến buôn biên giới tường trình chủ hay.

*

Thời gian lặng lẽ vần xoay

Chàng buôn biên giới một ngày tương lai

Gửi hàng đi chuyến thứ hai

Năm trăm xe cộ nối đuôi lên đường

Về Ba La Nại bán hàng

Đoàn xe theo lệ thông thường ghé qua

Biếu cho ông lão ít quà

Và nhờ giúp đỡ như là trước đây.

Tiếp đoàn biên giới chuyến này

Người nhà ông lão giành ngay đặc quyền

Thưa cùng chủ: “Cứ lặng yên

Chúng tôi xin tiếp khách liền khó đâu.”

Họ cùng xúm lại bàn nhau

Đưa ngay bọn khách ra mau ngoại thành

Nghỉ đêm trên cánh đồng xanh

Dựng lều, dựng trại vây quanh xe hàng

Đồng thời lên tiếng dặn rằng:

“Đồ ăn, thức uống sẽ mang lại liền

Mang biếu thêm cả chút tiền

Các người hãy cứ ở yên đợi chờ.”

Dặn dò xong khách phương xa

Thế là cả đám người nhà lão ông

Quay về triệu tập thật đông

Bao nhiêu là kẻ làm công họp đoàn

Canh khuya trở lại xe hàng

Cướp ngay hàng hóa sẵn sàng ngại chi

Bò thời đánh đuổi hết đi

Xe thời tháo bánh mang về theo luôn.

Khách phương xa trong đoàn buôn

Hè nhau tháo chạy, tâm hồn hoảng kinh

Chạy về biên giới của mình

Đầu đuôi sự việc tường trình chủ nghe,

Người nhà ông lão buôn kia

Cũng về báo cáo những gì xảy ra.

Lão ông nghe chuyện vừa qua

Dạy rằng: “Những kẻ xấu xa ở đời

Vong ân bội nghĩa với người

Rước về hậu quả tức thời khổ đau

Nào ai còn muốn giúp đâu

Bị người đối xử trước sau tuyệt tình.”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

ONE WAY HOSPITALITY

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 9 *

SÚC SẮC TẨM ĐỘC

 

Ở Ba La Nại thời xưa

Có nhà giàu nọ rất ưa bạc bài

Ông thường chơi với một người

Cũng mê bài bạc, tứ thời ăn thua

Nhưng người này tính lọc lừa

Đã nhiều mưu mẹo lại thừa tinh ma

Ông nhà giàu vốn thật thà

Tuy ham đánh bạc nhưng mà hiền thay,

Họ chơi súc sắc lâu nay

Được thua nhờ ở vận may do trời.

Người kia tính toán sành đời

Khi ăn, tiếp tục cuộc chơi chẳng dừng

Khi thua, thời hắn gian hùng

Muốn ngưng lúc xấu, muốn ngừng vận xui

Lén cầm súc sắc đang chơi

Một quân ngậm miệng nuốt trôi xuống liền

Thế rồi hắn lại la lên:

“Quân bài không đủ ta nên tạm dừng.”

Cái trò bịp bợm bất lương

Khó mà qua mặt gạt ông nhà giàu

Cho nên chỉ được ít lâu

Ông bèn dạy hắn trước sau một lần,

Ông đem thuốc độc vô ngần

Bôi vào súc sắc để dần khô đi

Nhìn vào không khác lạ chi

Tưởng như vô hại dễ gì nhận ra

Rồi ông một bữa tìm qua

Rủ người bài bạc như là trước đây

Chơi gieo súc sắc cầu may

Trò chơi diễn tiến như ngày trước thôi.

Thoạt tiên hắn thắng cuộc chơi

Gieo quân súc sắc nhờ trời thật hên,

Chẳng bao lâu hắn thua liền

Thế là tới lúc bạc tiền trôi ra

Hắn bèn giở thói tinh ma

Lấy quân súc sắc ngậm và nuốt luôn

Thật kín đáo, thật tinh khôn,

Ông nhà giàu mới ôn tồn nói ngay:

“Ai mà nuốt súc sắc này

Sẽ mau gánh lấy chuyện đầy tang thương

Điều gian xảo, chuyện bất lương

Luôn luôn mang lại trăm đường hiểm nguy.”

*

Sau khi nuốt súc sắc kia

Kẻ gian lừa lọc tức thì ngã ra

Người đau đớn, miệng rên la

Rõ ràng súc sắc quả là hiểm nguy,

Ông nhà giàu vốn từ bi

Nghĩ thầm đã dạy kẻ kia đủ rồi

Giờ đây phải cứu hắn thôi

Để lâu thuốc độc ngấm thời chết ngay

Thế là ông vội ra tay

Chế pha một loại thuốc hay gia truyền

Uống vào nôn mửa ra liền

Đưa cho hắn uống quả nhiên tốt lành

Anh chàng nôn mửa thật nhanh

Kìa quân súc sắc rành rành hiện ra.

Khi cơn nguy hiểm đã qua

Ông nhà giàu giúp hắn ta phục hồi

Pha đường ngọt trộn sữa tươi

Cho người ngộ độc uống thời khỏe thêm

Xong rồi ông khẽ nhủ khuyên:

“Bạn thân đối xử phải nên thật tình

Đừng lừa bịp kẻ tin mình

Con đường gian xảo có thành công đâu

Chỉ mang lại những khổ đau

Tu tâm, sửa tính cho mau là vừa.”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

POISON DICE

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 10 *

BÍ MẬT

DÂY CHUYỀN MẤT TRỘM

 

Ch.1: TỪ TỘI NÀY TỚI TỘI KHÁC

 

Ở Ba La Nại thuở xưa

Nơi miền bắc Ấn có vua trị vì

Nhà vua có vị quan kia

Đại thần hiền trí rất chi có tài,

Một hôm vua thích dạo chơi

Trong công viên đẹp, đất trời bao la

Nhiều người trong chốn hoàng gia

Theo vua đi dạo thật là đông vui

Gần khu rừng nọ xanh tươi

Có hồ trong mát tuyệt vời biết bao

Cả đoàn bèn ghé lại mau

Nhà vua xuống tắm thấy sao hài lòng

Vua mời hoàng hậu xuống cùng

Mời thêm cung nữ vui chung rộn ràng

Mọi người cởi bỏ nữ trang

Cởi đồ trang sức đang mang trên người

Rồi gom góp lại một nơi

Sai cô giúp việc phải ngồi giữ canh

Mọi người xuống tắm hồ xanh

Giỡn nô giữa cảnh hữu tình thênh thang,

Bất ngờ trong số nữ trang

Có dây chuyền nọ kết bằng ngọc trai

Mà hoàng hậu quý nhất đời

Do vua ban tặng cho người vợ yêu.

*

Trên cành cây rất cheo leo

Một con khỉ cái đang trèo quanh đây

Khỉ tò mò đã lâu nay

Khi nhìn thấy nữ trang ngay dưới mình

Dây chuyền phô sắc đẹp xinh

Thật là quyến rũ, quả tình đáng mê

Thế là khỉ muốn trộm về

Để đeo lên cổ mà khoe thân mình,

Khỉ bèn kiên nhẫn ngồi rình

Chờ cô giúp việc vô tình ngủ quên.

Cô ta thời lúc thoạt tiên

Ngồi canh đồ đạc để bên đàng hoàng

Sau vì cái nắng chang chang

Khiến cô mệt mỏi mơ màng thiếp đi

Khỉ ta nào có chờ chi

Trên cao nhảy xuống còn gì nhanh hơn

Như gió thổi, tựa mưa tuôn

Trộm dây chuyền nọ rồi chuồn lên cây

Sợ rằng các khỉ quanh đây

Thấy dây chuyền đẹp giành ngay của mình

Sẵn cây có hốc trên cành

Khỉ bèn khéo léo giấu nhanh dây chuyền

Rồi ngồi canh gác lặng yên

Làm như vô tội, lành hiền, thơ ngây.

*

Cô nàng giúp việc dưới cây

Mơ màng, choàng tỉnh biết ngay lỗi lầm

Vội vàng kiểm soát mọi phần

Thấy dây chuyền mất vô ngần hoảng kinh

Cô la kêu cứu thất thanh

Bao nhiêu lính gác ở quanh tới liền

Khi nghe tin mất dây chuyền

Họ bèn tìm gặp vua hiền báo tin

Vua sai lính tráng đi tìm

Bắt ngay thủ phạm để đem dẫn trình,

Sợ vua nổi giận thình lình

Lính lao đi kiếm tận tình khắp nơi

Công viên lùng sục tơi bời

Mong sao tìm được ra người gian manh.

Ngoài công viên, ngay khúc quanh

Bất ngờ có một dân lành đi ngang

Anh trên đường trở về làng

Sau khi đóng thuế muộn màng trên kinh

Anh dân nghèo sợ thật tình

Thấy bao lính tráng dập dình hét la

Hoảng kinh anh vội chạy xa

Lính canh trông thấy thế là rượt theo,

Thật xui cho kẻ dân nghèo

Lính kia bắt giữ khó kêu oan rồi

Bị người đánh đập tơi bời

Bị người la mắng thốt lời hăm he:

“Trộm dây chuyền chính là mi

Hãy mau thú tội ngay đi là vừa.”

Thanh niên không dám chần chờ

Nghĩ mình chối tội khó mà thoát ngay

Bị người đánh chết tại đây

Nhận thời có được dịp may về triều

Gặp vua kể lể mọi điều

Có cơ thoát được bao nhiêu oan tình

Thanh niên nhận tội về mình

Lính canh trói lại dẫn trình nhà vua.

*

Dây chuyền nào có để đưa

Nhưng anh khôn khéo khẽ thưa ngọn ngành:

“Kính trình bệ hạ anh minh

Suốt đời tôi thật quả tình nghèo sao

Có chi quý giá đâu nào

Chính quan cố vấn tối cao cung vàng

Sai tôi ăn trộm nữ trang

Dây chuyền tôi đã đưa sang ông rồi.”

Đòi quan cố vấn tới nơi

Khi nghe vua hỏi ông thời nhận ngay:

“Dây chuyền hoàng hậu quý này

Tôi không còn giữ trong tay của mình

Chuyển qua tu sĩ triều đình

Đó là sự thật xin trình vua hay.”

Vua đòi tu sĩ tới đây

Ông không chối tội, khai ngay rõ ràng:

“Tâu bệ hạ, món nữ trang

Tôi đưa nhạc trưởng cung vàng còn đâu.”

Vua đòi nhạc trưởng tới mau

Ông này cũng nhận, trước sau khai trình:

“Dây chuyền quý giá thật tình

Tôi đâu còn giữ riêng mình làm chi

Đã trao cô kỹ nữ kia.”

Bốn người nhận tội. Thật kỳ lạ thay!

Vua đòi cô gái tới đây

Riêng cô không nhận tội này mà thôi

Và cô dứt khoát trả lời:

“Muôn tâu bệ hạ tôi thời vô can

Nào đâu biết đến nữ trang

Biết gì đồ quý của hoàng hậu đâu.”

Vì trời chiều đã sẫm mầu

Vừng dương sắp lặn ở sau rừng già

Nên vua có lệnh ban ra:

“Ngày mai tiếp tục điều tra muộn gì.”

Vua trao năm kẻ tình nghi

Cho quan coi giữ rồi đi về liền

Về hoàng cung để nghỉ đêm

Tạm ngưng vụ trộm dây chuyền tại đây.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE MYSTERY OF THE MISSING NECKLACE

Ch 1: One Crime Leads To Another

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 11 *

BÍ MẬT

DÂY CHUYỀN MẤT TRỘM

 

Ch.2:  KHÁM PHÁ BÍ MẬT

 

Đại thần hiền trí hôm nay

Sau khi nghe vụ trộm này đầu đuôi

Mới lên tiếng với mọi người:

“Nếu mà suy đoán vội thời lầm thêm.”

Ông suy nghĩ: “Sợi dây chuyền

Bị người trộm ở công viên phía mình

Cửa vào có lính gác canh

Anh chàng bị bắt thời quanh phía ngoài

Muốn vào nào phải chuyện chơi,

Phía trong cũng vậy ra thời dễ đâu

Lính canh cẩn mật trước sau

Kẻ nào trộm cắp ra vào khó khăn.

Năm người bị cáo liên can

Tài nào cất giấu nữ trang dây chuyền

Thật là kỳ lạ vô biên

Năm người bị giữ tất nhiên oan tình

Muốn cho xét xử công minh

Năm người oan đó cần mình tiếp tay.”

Rồi ông thầm nghĩ điều này:

“Công viên nhiều khỉ trong đây vô cùng

Khỉ thường giỡn rất lạ lùng

Chắc là một khỉ trong vùng công viên

Nghĩ rằng đeo sợi dây chuyền

Sẽ làm cho nó thêm duyên mặn mà

So cùng khỉ khác vượt xa

Nên khi người giữ lơ là phút giây

Khỉ ta lén trộm được ngay

Giờ đây còn giữ dây này thích ưa.”

Đại thần bèn yết kiến vua

Điều tra vụ trộm xin đưa cho mình

Vua nghe hoan hỉ đồng tình

Lính mang tội phạm dẫn trình trao quan

Quan kêu hầu cận khôn ngoan

Truyền đem năm kẻ tạm giam tức thì

Giam vào chung một phòng kia

Quân hầu rình rập để nghe bên ngoài

Nghe cho kỹ đủ mọi lời

Rồi về thuật lại tức thời cho quan.

*

Năm người nhốt kín phòng giam

Tưởng rằng thoải mái ai làm phiền đâu

Không dè dặt, chuyện cùng nhau

Chẳng còn giữ ý trước sau nữa rồi,

Thoạt tiên cố vấn thốt lời

Trách dân làng nọ: “Mi thời điêu ngoa

Chẳng hề quen biết cùng ta

Cớ sao bày đặt thật là dối gian

Khai dây chuyền, món nữ trang

Mi đưa ta giữ. Thật oan vô cùng.”

Dân làng thổ lộ nỗi lòng:

“Thưa ngài quả thật tôi không biết gì

Nào đâu trộm dây chuyền kia

Nhưng vì sợ chết tôi thì man khai

Muốn rằng đổ tội cho ngài

Quyền uy, chức lớn cạnh nơi ngai vàng

Chắc ngài cứu được dễ dàng

Cả hai thoát khỏi nỗi oan thấu trời

Xin ngài đừng giận hờn tôi.”

Đến đây tu sĩ tức thời nói ngay:

“Này ông cố vấn lạ thay!

Anh kia không trộm, không hay biết gì

Chẳng đưa ông dây chuyền chi

Sao ông khai đã trao về cho tôi?”

Ôn tồn cố vấn trả lời:

“Xin ông bớt giận, hai người chúng ta

Quyền hành lớn trong hoàng gia

Cho nên tôi nghĩ chắc là dễ hơn

Kéo ông vào vụ này luôn

Hai người giải quyết bớt phần khó khăn.”

Chợt nghe nhạc sĩ cằn nhằn:

“Vậy ông tu sĩ vu oan cho người

Dây chuyền đâu có đưa tôi

Sao ông thêu dệt những lời xấu xa?”

Giọng ông tu sĩ thiết tha:

“Theo tôi suy nghĩ ông mà bị giam

Nhạc thêm tình cảm chứa chan

Lại càng thú vị, lại càng du dương

Nên nhân vụ trộm nữ trang

Tôi bèn khai dối mở đường giúp ông.”

Giọng cô kỹ nữ vang phòng:

“Này tên nhạc sĩ gian hùng gớm ghê

Ta đây nào có quen mi

Chưa hề nói chuyện, có hề gặp đâu

Sao mi gian dối trước sau

Trộm kia đổ tội hại nhau tàn đời?”

Chợt ông nhạc sĩ cả cười:

“Ôi nàng kỹ nữ tuyệt vời dáng hoa

Xin đừng giận giữ cùng ta

Ta khai gian dối để mà cầu mong

Rằng nàng sẽ bị giam chung

Năm người có dịp vui cùng đấy thôi.”

*

Năm người can phạm thốt lời

Chỉ riêng cô kỹ nữ khai chân thành

Không hề thay đổi lời mình,

Bốn người kia cũng quả tình vô can.

Nấp rình nghe được rõ ràng

Quân hầu về thuật cho quan ngọn ngành

Nghe xong quan nghĩ thật nhanh:

“Chính là bọn khỉ trên cành trộm thôi

Trước đây mình đoán đúng rồi

Dây chuyền ta phải thu hồi lại ngay.”

Quan bèn thảo kế hoạch hay

Sai người làm giả nhiều dây, nhiều vòng

Đồ trang sức đẹp vô cùng

Sai quân bắt khỉ ở vùng công viên

Cho đeo đồ giả vào liền

Đeo xong thả chúng về trên cây cành

Rồi quan ra lệnh lính canh

Hãy theo rõi khỉ loanh quanh chớ rời

Hãy nhìn kỹ khắp nơi nơi

Thấy dây bị trộm tức thời ra tay

Rượt theo bắt lấy khỉ này

Chính là kẻ trộm sợi dây chuyền rồi.

*

Khỉ ăn trộm ung dung ngồi

Canh chừng dây chuỗi giấu nơi hốc cành

Đến khi dáo dác nhìn quanh

Thấy bao khỉ khác cạnh mình lăng xăng

Vừa nhảy nhót, vừa khoe khoang

Thân đeo vòng chuỗi, nữ trang rẻ tiền

Khỉ bèn tỏ ý khinh liền:

“Những đồ giả đó chẳng nên tự hào

Dễ gì so với ta sao

Dây chuyền ta có ai nào sánh ngang.”

Khỉ moi lấy món nữ trang

Đeo lên trên cổ, nghênh ngang chuyền cành

Thế là lập tức lính canh

Nhận ra dây chuỗi, rượt nhanh theo liền

Khỉ ta chạy trốn cuồng điên

Đu cành, nhảy nhót dây chuyền rớt ra

Rơi ngay xuống đám cỏ hoa

Lính canh lượm lấy thật là mừng thay

Đưa quan trình báo vua ngay.

Đầu đuôi chuyện khỉ vùng này trộm dây

Quan bèn thuật lại vua hay

Rồi thưa: “Những kẻ trước đây oan tình

Dù cho nhận tội về mình,

Khỉ là thủ phạm đích danh chuyến này!”

Nghe xong vua phán: “Lành thay,

Vừa nhiều sáng suốt lại đầy khôn ngoan.

Trộm vì túng quẫn, tham lam,

Dối vì sợ hãi dâng tràn con tim,

Còn như sự thật khuất chìm

Thời cần suy xét mới tìm được thôi.”

Vua ban thưởng, khen hết lời

Khen quan hiền trí là người có công.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE MYSTERY OF THE MISSING NECKLACE

Ch 2: The Mystery Is Solved

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 12 *

SƯ TỬ BẤT CẨN

 

Ở trên thế giới ngày xưa

Một thời “ngũ giới” người chưa biết rành

Tại Ba La Nại kinh thành

Có ông phú hộ nổi danh rất giàu

Cửa nhà, vườn ruộng trước sau

Lại thêm súc vật từ lâu họp bầy

Một đoàn bò lớn lao thay

Khiến ông phải mướn một tay chăn bò.

Mỗi năm khi lúa nhấp nhô

Ngày mùa lúa mọc ruộng bờ xanh tươi

Chàng chăn bò lại tức thời

Đem bầy súc vật vào nơi rừng già

Cho bò gặm cỏ nhởn nha

Và rồi sản xuất sữa bơ hàng ngày

Chàng chăn bò thâu lượm ngay

Mang về cho chủ nhà đây để dùng.

*

Khi đưa súc vật vào rừng

Hiểm nguy trong đó lại thường xảy ra

Cạnh khu rừng cũng không xa

Có con sư tử lân la rình mồi

Ưa thịt sống, ham máu tươi

Đàn bò kinh hoảng nên hồi hộp luôn

Sống trong sợ hãi chập chờn

Tinh thần căng thẳng, xác thân suy đồi

Sữa bơ sản xuất ít rồi

Chủ nhân thấy vậy thốt lời hỏi han

Chàng chăn bò vội thở than

Trình bày mọi việc rõ ràng đầu đuôi:

“Thưa ông chủ, dễ hiểu thôi

Bò cần yên tĩnh nghỉ ngơi an lành

Không hề xáo trộn thần kinh

Mới cho nhiều sữa để mình uống ăn,

Khi bò sợ hãi bất an

Chỉ vì sư tử ở gần một bên

Nên bò lo lắng thường xuyên

Sữa bò sản xuất tất nhiên không nhiều.”

Sau khi nghe rõ mọi điều

Chủ nhân giàu có đăm chiêu nghĩ rằng:

“Thật ra cũng chẳng khó khăn

Ta làm theo kiểu thợ săn bẫy mồi.”

Ông dò hỏi kỹ một lời:

“Thế con sư tử khi chơi trong rừng

Có thân con vật nào không?”

Chàng chăn bò đáp: “Thưa trong rừng già

Hươu nai sống khắp gần xa

Có con nai nọ thật là xinh xinh

So ra bé nhỏ thật tình

Cao chừng nửa thước, dáng hình dễ coi

Thường cùng sư tử rong chơi

Đôi bên quấn quýt lâu đời thân nhau.”

Chủ nhân ngẫm nghĩ hồi lâu

Rồi đưa kế hoạch thâm sâu tuyệt vời:

“Đàn bò cần được thảnh thơi

Mới cho nhiều sữa giúp người chăn nuôi

Bắt ngay nai nhỏ làm mồi

Hãy mang thuốc độc và rồi chà lên

Khắp trên thân thể nai hiền

Giữ nai ít bữa, thuốc liền khô đi

Thả nai nhỏ về rừng kia

Thế là sư tử tức thì lâm nguy

Khi mà sư tử chết đi

Hãy khiêng xác nó mang về cho ta

Đàn bò sẽ lại nhởn nha

Không còn sư tử để mà hoảng kinh

Lại thảnh thơi, lại an bình

Sữa bơ sản xuất cho mình nhiều thêm.”

*

Chăn bò theo đúng lệnh trên

Bắt nai, tẩm độc rồi liền thả ra

Khi nai trở lại rừng già

Con sư tử nọ quả là vui thay

Cho nên mất cảnh giác ngay

Tỏ ra bất cẩn bữa nay mất rồi

Không hít gió, không ngửi mùi

Chẳng hề cẩn thận đánh hơi xem chừng

Liếm quanh nai vẻ vui mừng

Tỏ tình quyến luyến vô cùng tương thân

Thế là thuốc độc ngấm dần

Con sư tử nọ lìa trần thảm thương!

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE CARELESS LION

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 13 *

ẨN SĨ KHỔ HẠNH

 

Hồi xưa tại xứ sở kia

Có nhiều tôn giáo rất chi lạ đời

Giống nhau ở khắp mọi nơi

Đều cùng dạy dỗ những người tu thân:

“Muốn cho tâm trí sáng ngần

Muốn mau diệt hết mọi phần khổ đau

Phải theo phương pháp nhiệm mầu

Là nên hành hạ dài lâu thân mình

Càng hành xác thật nhiệt tình

Càng mau đắc đạo trở thành thánh nhân,

Những người thánh thiện tuyệt luân

Dữ dằn hành hạ xác thân hàng đầu!”

Mọi người đều đã từ lâu

Hầu như đồng ý cùng nhau chuyện này.

*

Một thanh niên nọ tại đây

Quyết tìm chân lý, điều hay điều lành

Cho nên khởi sự tu hành

Để mong khám phá ngọn ngành xem sao

Chàng ngưng lối sống thuở nào

Không theo lề thói như bao người thường

Bắt đầu hành xác mọi đường

Áo quần trút bỏ chẳng vương trên người

Trần truồng đi lại khắp nơi

Ít lâu thân thể chàng thời bẩn dơ

Bụi trùm đầu, đất bám da,

Vấn đề ăn uống thấy mà hãi kinh

Đâu còn theo cách thường tình

Không còn biết đến vệ sinh là gì

Uống thì nước tiểu sá chi

Ăn thì bùn đất, đôi khi phân bò

Sợ người thấy chẳng hay ho

Muốn cho thoải mái đường tu an lành

Tập trung tư tưởng tinh anh

Chàng tìm vào ở rừng xanh xa vời,

Mỗi khi chợt thấy bóng người

Chàng bèn vội vã tức thời trốn đi

So cùng với chú nai kia

Rụt rè, nhút nhát khác gì nhau đâu.

Khi mùa đông giá u sầu

Ban đêm chàng ngủ dưới bầu trời cao

Mặc cho tuyết lạnh thét gào,

Ban ngày chàng lại chui vào lùm cây

Tuyết tan nước đẫm vai gầy

Trên cành rơi xuống buốt đầy thân côi.

Khi mùa hè nóng thiêu người

Ban ngày chàng sống ngoài trời cháy da

Dù cho nắng gắt toả ra

Nắng tia thiêu đốt thật là tang thương,

Canh khuya nắng chẳng còn vương

Dưới cây chàng lại tìm đường ngủ đêm,

Chàng hành thân xác triền miên

Nghĩ tu như vậy trở nên thánh hiền

Tâm mình sẽ sáng suốt thêm

Đường tu chàng quyết giữ bền mãi thôi.

*

Một ngày khi sắp lìa đời

Chập chờn cửa tử chàng thời thấy ra

Bóng mình ẩn hiện nhạt nhòa

Tái sinh địa ngục xót xa vô cùng

Chao ơi hình ảnh hãi hùng

Tựa như tia chớp sáng bừng chân tâm

Khiến chàng chợt ngộ bản thân

Tu theo tà đạo sai lầm lâu nay

Thật là vô dụng lắm thay

Thân kia mãi khổ, tâm này chẳng an

Ngay khi tăm tối xua tan

Vô minh đã dứt anh chàng may sao

Hướng về chánh đạo thanh cao

Tái sinh thiên giới biết bao an lành.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE HOLY MAN

WHO TRIED TO BE TOO HOLY

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

                                    

* 14 *

VUA ĐẠI THIỆN KIẾN

 

Có hai phương cách thông thường

Thực thi tôn giáo cõi dương trần này

Một là hãy sống xa đây

Xa nơi trần tục như thầy tu thôi

Nhắm vào mục đích ở đời

Là mong chứng nghiệm những lời cao xa

Con đường Đạo Pháp thăng hoa

Hoàn toàn giải thoát lìa xa luân hồi.

Hai là theo gót những người

Thực thi tôn giáo ngay nơi cõi này

Chẳng còn chia cách tại đây

Cùng nhau chung sống tràn đầy tình thân

Nếu tìm được kẻ tuyệt luân

Đứng ra lãnh đạo vô ngần hiền lương

Một vua của khắp muôn phương

Của toàn thế giới ngát hương hợp quần

Không chia cách, chẳng ly phân

Đó là quan niệm người dân một thời.

*

Truyện ngày xưa có một người

Tên là Thiện Kiến ngoài đời biết danh

Ông nêu gương thật tốt lành

Đề cao nguyên tắc thi hành trị dân:

“Xấu xa tâm ý lìa dần

Tinh thần tự chủ, bản thân chân thành

Hận thù xoá bỏ cho nhanh

Trung kiên, nhẫn nhục, hiền lành, thiện lương

Rộng lòng bố thí thập phương

Thắm tình chân lý, ngát hương đạo mầu!”

Mọi người trên khắp hoàn cầu

Thấy gương Thiện Kiến bắt đầu lưu tâm

Trong lòng thầm phục bội phần

Và cùng tự nguyện quây quần sống chung

Dưới quyền lãnh đạo của ông

Coi ông như vị quốc vương tuyệt vời,

Tiếng ông vang dội khắp nơi

Khiến cho vua chúa đương thời rủ nhau

Tìm vua Thiện Kiến cho mau

Để mà học hỏi trước sau tâm thành.

Quốc vương Thiện Kiến tâm tình:

“Một là hãy tránh sát sinh ở đời

Hai là đừng lấy của người

Ba là tham dục ta thời tránh xa

Bốn đừng dối trá điêu ngoa

Năm đừng uống rượu kẻo mà say sưa!”

Năm điều hướng dẫn nhà vua

Trong khi trị nước chớ ư lơ là

Thêm điều thứ sáu đặt ra:

“Tự do dân chúng nhớ mà tuân theo

Nào là tín ngưỡng giáo điều

Nào là phong tục của nhiều địa phương

Hãy tôn trọng, chớ coi thường!”

Lời vàng khích động quốc vương khắp miền

Các vua bèn họp lại liền

Cùng xin quy tụ dưới quyền của ông

Sống an lạc, sống hòa đồng

Thắm tình trăm họ, đẹp lòng muôn dân

Ông cai trị khắp xa gần

Khắp trên thế giới dần dần nổi danh

Vua “Đại Thiện Kiến” anh minh,

Kinh đô ông ở trở thành trung tâm

Đẹp lộng lẫy, đẹp tuyệt trần

Tường thành châu báu sáng ngần bao quanh

Ngoài ra có bốn cổng thành

Xây bằng ngọc thạch long lanh khoe mầu

Bên ngoài san sát chen nhau

Bảy hàng cây quý báu châu đầy cành

Mỗi khi gió thổi qua nhanh

Cây rung lên những âm thanh tuyệt vời

Du dương thoảng vọng khắp nơi

Dân nghe cảm thấy cuộc đời lên hương.

*

Nhà vua có một cái giường

Làm bằng bảy món bạc vàng, quý kim

Nhà vua trị nước bình yên

Một thời gian đã êm đềm trôi qua

Khi vua đau, sắp băng hà

Nằm trên giường quý xa hoa bội phần

Tám mươi tư ngàn nữ nhân

Cạnh bên hoàng hậu quây quần quanh vua

Thương yêu hoàng hậu khẽ thưa:

“Xin vua hãy hướng tâm tư của ngài

Về kinh thành đẹp tuyệt vời

Về bao châu báu xây nơi cổng thành

Về cây quý giá bao quanh

Để mà cảm thấy tâm mình sướng vui.”

Vua Đại Thiện Kiến thốt lời

Khuyên: “Hoàng hậu chớ tham đời phù hoa

Mà nên khuyến khích thân ta

Hãy mau xả bỏ lìa xa mọi điều.”

Ngạc nhiên hoàng hậu dấu yêu

“Thưa vì sao vậy?” bà nêu hỏi liền

Nhà vua khẽ đáp thản nhiên:

“Vì giờ ta sắp quy tiên đã gần.”
Nghe xong hoàng hậu, nữ nhân

Và triều đình với đại thần cùng nhau

Thảy đều rơi lệ đớn đau

Nhà vua ngăn cản: “Khóc sầu ích chi

Mọi người hãy nín ngay đi

Hãy nghe ta nói những gì thiết thân,

Ngẫm xem ở chốn dương trần

Dù là vương quốc bội phần lớn lao

Thâu gồm khắp cả năm châu

Hay là nhỏ bé như bao hột mè

Cũng đều phải biến hoại đi

Sinh rồi phải diệt, có gì dài lâu

Dù là vua khắp hoàn cầu

Hay là tên trộm từ lâu nghèo hèn

Cũng đâu tồn tại lâu bền

Vô thường vạn vật! Chớ quên điều này!”

Rồi vua khuyên họ từ đây

Mở lòng bố thí với đầy từ tâm

Cố mà giữ giới chuyên cần.

Vua Đại Thiện Kiến lìa trần thảnh thơi

Tái sinh nơi chốn tuyệt vời

Cõi trời, thiên giới, muôn người cầu mong.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

CLEAR-SIGHTED THE GREAT

KING OF THE WORLD

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 15 *

HOÀNG TỬ  VÀ CÁC NỮ QUỶ

 

Ch 1: NĂM BỮA ĂN TRONG RỪNG

 

Nơi miền Bắc Ấn Độ xưa

Ở Ba La Nại có vua cầm đầu

Vua sinh con đủ trước sau

Một trăm hoàng tử cùng nhau quây quần,

Hoàng tử út khác vô ngần

Lớn lên thông thái xa gần nức danh.

Lệ thường ở chốn kinh thành

Có Phật Độc Giác du hành từ xa

Ghé qua cung điện hoàng gia

Để mà khất thực thật là nghiêm trang

Các ngài không giảng lời vàng

Vì vào thời đó trong hàng chúng sanh

Ít người hiểu được ngọn ngành,

Nhưng ai đau khổ chân thành trong tâm

Muốn tìm hiểu để tu thân

Các ngài thương xót ân cần dạy ngay.

Chàng hoàng tử út một ngày

Nghĩ mình không biết mai này sao đây

Nối ngôi vua khó lắm thay

Chín mươi chín hoàng tử ngay trên mình

Chàng bèn nảy một lòng thành

Tìm Phật Độc Giác chân tình hỏi han.

Một hôm các Phật dừng chân

Để mà khất thực. Vua ân cần mời

Chàng hoàng tử út tới nơi

Mang theo nước sạch rồi ngồi kề bên

Rửa chân cho các ngài liền

Đến khi các Phật đã yên mọi phần

Chàng thành kính dâng thức ăn

Và rồi nhân đó hỏi thăm chuyện mình

Xem tương lai có tốt lành

Có làm vua tại kinh thành này chăng?

Phật Độc Giác trả lời chàng;

“Dễ gì thừa hưởng ngai vàng được đâu

Nhiều anh án ngữ trên đầu

Tuy nhiên hoàng tử chớ sầu muộn chi

Sẽ làm vua ở xứ kia

Nếu mà có khả năng đi kịp thời

Bảy ngày thôi phải tới nơi.”

Chàng nghe lời phán liền tươi cõi lòng

Nhưng Phật Độc Giác nói luôn:

“Đường đi tới đó vô cùng gian nguy

Phải băng qua cánh rừng kia

Gọi là Rừng Quỷ rất chi hãi hùng

Bao nhiêu loại quỷ trong rừng

Nhất là nữ quỷ bên đường hiện ra

Dùng bùa phép dựng cửa nhà

Dọc theo đường lộ thật là khang trang

Bên trong đồ đạc sẵn sàng

Giường nằm sang trọng, bạc vàng điểm tô

Màn nhung buông phủ hững hờ

Dạ xoa nữ quỷ ngồi chờ nơi đây

Hiện hình thiếu nữ thơ ngây

Biết bao xinh đẹp, lại đầy dễ thương

Thốt lời dụ khách qua đường:

‘Đi xa mỏi mệt mời chàng nghỉ chân!’

Khách kia mê mẩn tâm thần

Hố sâu tình dục có ngần ngại đâu

Sau ân ái là thương đau

Kẻ tình si bị giết mau, nào ngờ,

Quỷ ăn thịt chẳng đợi chờ

Máu người thắm đỏ hoen bờ gối chăn.

Khách du tham sắc mỹ nhân

Quỷ kia vẻ đẹp tuyệt trần phô nhanh,

Khách du ưa thích âm thanh

Quỷ đưa tiếng hát trữ tình du dương,

Khách du ưa thích mùi hương

Nước hoa quỷ sức vấn vương da người

Khách du ưa vị ngọt bùi

Quỷ dâng thực phẩm ăn thời mê say

Khách ưa xúc cảm đôi tay

Thịt da mềm mại quỷ này hiến dâng.

Nếu hoàng tử vững tinh thần

Dễ dàng kiểm soát giác quan của mình

Bảy ngày thông suốt lộ trình

Ngôi vua tại đó sẽ giành được thôi.”

Nghe xong hoàng tử cúi người

Chân thành cảm tạ những lời nhủ khuyên

Xin thêm Phật Độc Giác trên

Một bùa hộ mạng đeo liền thủ thân

Giã từ các Phật ân nhân

Giã từ cha mẹ quyết tâm lên đường

Về nhà sửa soạn hành trang

Năm người hầu cận sẵn sàng xin theo

Dù hay sẽ lắm hiểm nghèo

Hứa tuân theo lệnh với nhiều hăng say.

*

Quả nhiên nữ quỷ hôm nay

Tại nơi Rừng Quỷ hiện ngay đón người

Khi đoàn hoàng tử tới nơi

Quỷ dùng bùa phép tức thời làm ra

Lâu đài, dinh thự nguy nga

Cao sang rất mực, xa hoa muôn phần

Dạ xoa đội lốt mỹ nhân

Mời đoàn hoàng tử dừng chân chốn này.

Một người hầu cận mắc ngay

Nhìn thân hình nữ mê say mất rồi

Bắt đầu đi chậm lại thôi,

Quan tâm hoàng tử thốt lời hỏi han

Kẻ tham sắc dục than van:

“Chân đau di chuyển vô vàn khó khăn

Hãy cho tôi tạm nghỉ chân

Rồi tôi theo gót không cần chờ chi.”

Cãi lời khuyên, hắn ở lì

Năm người còn lại bèn đi không chờ.

Kẻ “Tham Sắc” với dạ xoa

Sau ngày ân ái, tiêu ma cuộc đời

Quỷ kia ăn sống nuốt tươi

Thương thay cho kẻ tham nơi sắc hình.

Ăn xong quỷ vượt lên nhanh

Đón đầu hoàng tử, hiện thành mỹ nhân

Dựng lâu đài đẹp vô ngần

Chúng ngồi ca hát bổng trầm du dương

Đàn thánh thót, nhạc âm vang

Một người hầu cận mơ màng lắng nghe

Âm thanh quyến rũ say mê

Để rồi xoay bước hướng về quỷ kia

Tàn đời sau đó còn chi

Kẻ “Tham Tiếng” chết cũng vì âm thanh.

Ăn xong quỷ lại vượt nhanh

Đón đầu hoàng tử hương tình rắc gieo

Dựng lâu đài ngát hương yêu

Một hầu cận nữa lại siêu lòng rồi

Mùi thơm tho quyến rũ người

Để rồi xoay bước về nơi thơm lừng

Bị ăn thịt thật não nùng

Kẻ “Mê Hương” đã mệnh chung vì mùi.

Ăn xong quỷ lại vượt thôi

Đón đầu và dựng một nơi bán hàng

Đầy thức ăn, rộng thênh thang

Thơm tho mùi vị, xốn xang lòng người

Một người hầu cận tới nơi

Say mê ăn uống chẳng dời chân đi

Thế là mắc bẫy quỷ kia

Kẻ “Tham Vị” chết não nề tang thương.

Ăn xong quỷ lại đón đường

Dựng lên dinh thự sẵn giường trong đây

Gối chăn mềm mại dưới tay

Đệm nhung, màn lụa phơi bày sắc tươi

Hiện thành gái đẹp chào mời

Kẻ hầu cận cuối tức thời sa chân

Quỷ ăn thịt chẳng ngại ngần

Kẻ “Mê Xúc” chết xác thân tan tành.

*

Chỉ còn hoàng tử một mình

Xuyên ngang Rừng Quỷ tiến nhanh hào hùng

  Quỷ đều bỏ cuộc nửa chừng

Riêng con quỷ nọ không ngừng theo đuôi

Hoá thành gái đẹp tuyệt vời

Bám theo hoàng tử như người thân thương,

Khi gần đi tới bìa rừng

Vài tiều phu thấy vui mừng hỏi thăm:

“Hỡi cô đẹp tựa trăng rằm

Ai đi phía trước xăm xăm một mình?”

Quỷ bèn đáp giọng tâm tình:

“Chồng tôi giận dỗi nỡ đành bỏ đi

Cưới nhau nào có lâu chi

Cho nên tôi phải tức thì đuổi theo.”

Tiều phu nghe giọng đáng yêu

Vượt ngang hoàng tử khẽ kêu lên rằng:

“Hãy dừng chân lại chờ nàng

Vợ thời xinh đẹp sao chàng bỏ bê?”

“Nó là quỷ dữ gớm ghê

Dụ người ăn thịt có nề hà chi

Nào đâu phải vợ con gì.”

Ông hoàng nói với người đi hỏi mình.

Quỷ bèn nhỏ nhẹ trần tình:

“Chồng nào giận dỗi cũng thành thói quen

Vợ mà gọi quỷ, chẳng nên.”

Nói xong quỷ lại theo liền mồi ngon

Hoá thành vợ sắp có con

Bụng to bước vội theo luôn chẳng rời.

Ai trông thấy cũng hỏi thôi

Ông hoàng lại phải thốt lời phân bua:

“Đây là quỷ dữ không vừa

Dụ người, ăn thịt có chừa ai đâu.”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE PRINCE AND THE SHE-DEVILS

Ch 1: Five Meals In The Forest

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 16 *

HOÀNG TỬ

VÀ CÁC NỮ QỦY

 

Ch 2: BỮA TIỆC TRONG HOÀNG CUNG

 

Người đi trước quỷ theo sau

Một ngày hoàng tử ghé vào xứ kia,

Hiện hình gái đẹp xuân thì

Quỷ theo hoàng tử bước đi không rời,

Vào thành phố để nghỉ ngơi

Thấy khu đền vẻ lâu đời linh thiêng

Chàng hoàng tử ghé vào liền

Có bùa hỗ trợ càng thêm nhiệm mầu,

Quỷ theo vào có được đâu

Ở ngoài, nán lại phía sau đợi chờ.

Hiện hình gái đẹp như mơ

Nữ thần quyến rũ ngẩn ngơ lòng người.

*

Vua trong vương quốc rong chơi

Hôm nay vua chợt tới nơi chốn này

Thấy hình dạng quỷ đẹp thay

Vốn nòi ham sắc mê ngay quỷ rồi

Sai quân hầu tới hỏi thôi:

“Mỹ nhân đã có bạn đời hay chưa?”

“Có chồng rồi!” quỷ khẽ thưa

“Chồng tôi đang ở đền thờ trong kia.”

Phía trong hoàng tử lắng nghe

La ngay: “Không phải vợ gì của tôi

Đó là quỷ dữ tanh hôi.”

Quân hầu quay lại y lời trình vua

Vua bèn phán: “Đẹp vô bờ

Hoa không có chủ còn chờ đợi chi

Thuộc quyền ta! Hãy rước đi!”

Quân hầu vội đón quỷ kia lên ngồi

Trên lưng voi ghé tới nơi.

Sau  khi du ngoạn vua thời quay lui

Về hoàng cung dù tối trời

Vua phong người đẹp lên ngôi huy hoàng

Chánh cung hoàng hậu cao sang

Đêm nay chung giấc mộng vàng ái ân.

Quỷ làm thêm đẹp tấm thân

Khiến vua mê mẩn tâm thần canh thâu,

Chợt đâu quỷ nhỏ giọt châu

Vật mình khóc lóc, gục đầu rên la,

Ngạc nhiên vua hỏi cho ra

Quỷ bèn than thở thật là thảm thê:

“Nhiều người ghen tức cười chê

Thiếp đây hạ cấp, nay về hoàng cung

Hưởng ơn mưa móc tột cùng

Không cha, không mẹ cũng không gia đình,

Nếu vua thương thiếp thật tình

Xin ban cho thiếp quyền hành tối đa

Khắp trên vương quốc bao la

Để không ai dám tỏ ra khinh thường.”

Lắc đầu vua đáp: “Dù thương

Quyền ta chỉ có khắp vương quốc này

Với người phạm tội tại đây.”

Quỷ bèn quyến rũ chau mày làm duyên

Nên vua nhượng bộ thêm liền:

“Ta cho nàng được uy quyền ít thôi

Quanh trong cung cấm đủ rồi.”

Quỷ thầm thỏa mãn thốt lời tạ vua.

Đợi khuya vua ngủ say sưa

Quỷ quay vội lại rừng xưa hiện hình

Gom nhanh các quỷ quanh mình

Hiện hình trở lại cung đình cho mau

Dữ dằn ăn thịt đua nhau

Người cùng súc vật thoát đâu đọa đày

Vua thời “hoàng hậu” phanh thây

Quỷ kia vứt lại xương đầy hoàng cung.

*

Hôm sau dân chúng trong vùng

Thấy cung vua khóa đều cùng lo âu

Hè nhau phá cửa để vào

Gặp ngay cảnh tượng xiết bao hãi hùng

Bấy giờ họ mới đồng lòng

Tin lời chàng trẻ ở trong ngôi đền

Nói rằng người đẹp như tiên

Được làm hoàng hậu cạnh bên ngai vàng

Chỉ là quỷ dữ rừng hoang

Dụ người, ăn thịt kinh hoàng lâu nay.

Chàng hoàng tử út giỏi thay

Tại đền thờ nọ ra tay canh phòng

Sợ rằng lũ quỷ tấn công

Thức cầm gươm đứng, quyết không lơ là

Lá bùa hộ mệnh giăng ra

An bình đợi sáng chan hòa ánh dương.

Mọi người ở tại hoàng cung

Sau khi dọn dẹp xong cùng bàn nhau:

“Chàng thanh niên nọ giỏi sao

Giác quan tự chủ, có đâu yếu hèn

Gái kia dù đẹp như tiên

Sắc phô quyến rũ, chẳng thèm quan tâm

Quả là một bậc đại nhân

Đưa lên ngôi báu muôn phần xứng thay.”

Mọi người đồng ý chuyện này

Quan cùng dân chúng tới ngay ngôi đền

Mời chàng hoàng tử về liền

Khi chàng chấp thuận họ bèn hồi cung

Chàng hoàng tử chí hào hùng

Giờ lên ngôi báu nơi vùng xa xôi

Trị vì vương quốc tuyệt vời

Rất là đúng phép, mọi người đều vui

Chàng không tham đắm buông xuôi

“Sắc, thanh, hương, vị, xúc” thời chẳng ham.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE PRINCE AND THE SHE-DEVILS

Ch 2: A Feast In The Palace

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 17 *

MỘT NGƯỜI TÊN “XẤU”

 

Ngày xưa có một vị thầy

Rất là nổi tiếng, giỏi, hay, lắm tài

Năm trăm đệ tử theo ngài

Học câu dưỡng tánh, học bài tu tâm,

Một người đệ tử thiết thân

Tên cha mẹ đặt vô ngần khó nghe

Tên là Xấu, bị cười chê

Nên anh than thở: “Tên chi đọa đày!”

Hôm nay anh tới thăm thầy

Xin thầy tìm cách đổi ngay cho mình:

“Một tên tốt đẹp thật tình

Để bà con ở chung quanh khỏi cười

Lại thêm may mắn trong đời.”

Thầy nghe xong khẽ thốt lời nhủ khuyên:

“Trước khi con muốn đổi tên

Hãy nên đi khắp các miền gần xa

Để nghe ngóng hầu tìm ra

Tên nào con thấy đẹp mà lại hên

Tìm xong trở lại đây liền

Thầy làm buổi lễ đổi tên tốt lành.”

*

Anh chàng Xấu bèn du hành

Làng thôn in gót, thị thành đặt chân

Sau khi đi khắp xa gần

Một ngày anh tới nơi phần đất kia

Có người vừa chết tức thì

Hỏi tên người đó anh nghe trả lời:

“Anh chàng Bất Tử qua đời

Bà con chôn cất bùi ngùi biết bao.”

Anh kinh ngạc nói: “Lẽ nào

Tên là Bất Tử mà sao chết rồi?”

Đám đông nghe vậy bật cười:

“Tên dùng phân biệt mọi người với nhau

Có hề ảnh hưởng gì đâu

Tên dù Bất Tử sống lâu bao giờ

Hỏi ngớ ngẩn! Nghĩ khù khờ!”

Anh nghe nói vậy bất ngờ tỉnh ra.

Anh chàng tiếp tục đi xa

Chợt đâu thấy kẻ hét la đánh người

Nạn nhân bị đập tơi bời

Tò mò anh hỏi chuyện thời rõ ngay:

“Cô kia thiếu nợ bao ngày

Bị người hành hạ thẳng tay đòi tiền.”

Anh chàng Xấu bèn hỏi liền:

“Thế thì cô ấy có tên là gì?”

Người ta vội đáp tức thì:

“Tên Giàu, tốt đẹp kể chi! Đáng buồn!”

Anh nghe tỏ vẻ tần ngần:

“Tên Giàu sao lại nợ nần khổ thay.”

Người chung quanh nói: “Ơ hay!

Tên dùng để gọi người này người kia

Nào đâu có ảnh hưởng chi

Tên Giàu mà lại nhiều khi nghèo hèn

Ai mà không biết chắc điên.”

Anh nghe nói vậy sáng thêm cõi lòng.

Giờ anh tiến bước thong dong

Và rồi chợt gặp một ông lạc đường

Hỏi tên nghe thấy bất thường:

“Tôi tên Hướng Dẫn ở phương xa về

Đến đây lạc bước vùng quê.”

Anh nghe nói vậy bèn chê bai liền:

“Tên hay vậy nghĩ buồn thêm

Tên là Hướng Dẫn mà quên nẻo đường

Làm sao giúp khách thập phương?”

Ông kia vội đáp: “Điên cuồng làm sao!

Đặt tên là để gọi nhau

Chứ đâu có dính dáng vào bản thân.”

Thế là sáng tỏ mọi phần

Anh chàng tên Xấu chẳng cần đi thêm

Giờ đây mãn nguyện vô biên

Không còn thắc mắc với tên của mình

Anh ngưng ngay cuộc hành trình

 Quay về chốn cũ quả tình an tâm.

Đến chào thầy, thầy hỏi thăm

Anh thưa: “Tên gọi hết làm phiền con

Tên Bất Tử chẳng sống còn,

Tên Giàu đặt vậy lại luôn nghèo tiền

Dù tên Hướng Dẫn vẫn phiền

Vẫn hay lạc lối và quên đường về

Tên nào có ảnh hưởng chi

Nào đâu tạo được chuyện gì cho ai

Chỉ dùng để nhận diện người,

Tự mình làm chủ cuộc đời mình thôi

Con tên Xấu cũng được rồi

Mẹ cha đã đặt con thời giữ nguyên.”

Lời thầy kèm nụ cười hiền:

“Bông hồng dù có gọi tên thế nào

Hương thơm vẫn tỏa ngạt ngào

Tên dù xấu, đẹp cớ sao muộn phiền!”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

A MAN NAMED BAD

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 18 *

MỘT NGƯỜI TÊN “KHÔN”

 

Cậu con trai sinh ra đời

Trong gia đình nọ một thời xưa xa

Đặt tên Khôn, nối nghiệp nhà

Lớn lên buôn bán thật là khôn lanh

Tại Ba La Nại kinh thành

Chàng Khôn thường rủ bạn anh đi cùng

Hai bên hùn vốn buôn chung

Bạn anh tên gọi lẫy lừng: Đại Khôn.

Một lần tổ chức chuyến buôn

Năm trăm xe cộ dập dồn đi xa

Chất đầy hàng hóa xa hoa

Hai người khôn khéo bán ra kiếm lời

Thành công tốt đẹp tuyệt vời

Tiền vào như nước hai người đều vui,

Đoàn xe hoan hỉ trở lui

Về Ba La Nại nghỉ ngơi ít ngày.

Khi chia tiền lãi chuyến này

Bạn chàng lên tiếng nói ngay ý mình:

“Chia ba phần thật hợp tình

Tôi hai, anh một, công bình biết bao.”

Chàng Khôn bèn hỏi: “Tại sao

Bạn chi tôi ít nghe nào lọt tai?”

Bạn chàng giải thích khoan thai:

“Anh tên Khôn vậy so tài kém tôi

Đại Khôn tất phải hơn rồi

Tên hơn nên được chia lời nhiều hơn.”

Chàng Khôn: “Tên chẳng liên quan

Chỉ dùng để gọi, chẳng can hệ gì

Vốn bằng nhau không khác chi

Tiền lời hợp lý là chia đồng đều.”

Cả hai tranh cãi sớm chiều

Không người nào chịu nghe theo người nào.

*

Đại Khôn thầm nghĩ trong đầu:

“Phải tìm cho được mưu sâu thắng người.”

Hắn tìm ông bố hắn thôi

Nhờ ông già nấp trong nơi cây này

Cây to rỗng ruột lâu nay

Chui trong ruột đó vào ngày hôm sau:

“Khi chúng con đến thỉnh cầu

Hỏi về lời lãi chia nhau thế nào

Giả làm thần bố phán mau

Đại Khôn tài trí từ lâu hơn người

Tiền lời đáng hưởng gấp đôi,

Còn Khôn được một phần thôi, chớ phiền.”

Đại Khôn sau đó đi liền

Gặp Khôn và nói: “Không nên mất lòng

Nhờ thần phân xử là xong

Thần cây cổ thụ trong vùng gần đây.”

Chàng Khôn đồng ý: “Tốt thay

Thần cho ý kiến chắc hay vô cùng.”

Tới cây cổ thụ bên rừng

Hai người quỳ xuống khấn chung một lời:

“Chúng con có việc nhờ ngài.”

Ông già đang nép kín người trong cây

Tức thời giả giọng hỏi ngay:

“Việc chi hãy nói, ta đây sẵn sàng?”
Chàng con bịp bợm tâu rằng:

“Chúng con hùn vốn đem hàng đi buôn

Con tên gọi là Đại Khôn

Cùng Khôn là bạn, lời luôn chuyến này

Vậy nên chia chác sao đây?”

Ông già giả giọng phán ngay: “Rõ rồi

Khôn thời chỉ một phần thôi

Đại Khôn đáng được gấp đôi, hai phần!”

Khôn nghe thiên vị vô ngần

Quyết tâm tìm hiểu có thần thật không

Lấy rơm khô ném vào trong

Vào nơi rỗng ruột giữa lòng thân cây

*

Rồi châm lửa vứt vào đây

Lửa vừa bùng cháy khói bay mịt mùng

Thế là xảy chuyện lạ lùng

Có người nấp ở phía trong hoảng hồn

Chui ra khỏi hốc cây luôn

Hoá ra là bố Đại Khôn đây mà!

Ông già bị phỏng kêu la

Bao lời trách móc thốt ra thật buồn:

“Đặt tên con là Đại Khôn

Tiếc thay con lại chỉ luôn dại khờ

Lo lừa bịp rất ngu ngơ

Tuy rằng khéo léo nhưng mà chẳng khôn

So cùng người bạn đi buôn

Chàng Khôn kia tỏ ra hơn con nhiều.”

Nghe lời mắng nhiếc đủ điều

Đại Khôn hổ thẹn ra chiều ăn năn

Lời vàng soi sáng tâm can

Tiền lời chia lại hai phần bằng nhau.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

A MAN NAMED WISE

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 19 *

ĐẠT ĐƯỢC CHỮ “KHÔNG”

 

Nơi miền bắc Ấn Độ xưa

Trong gia đình nọ mới vừa sinh ra

Một trai vui vẻ cửa nhà

Đến khi khôn lớn tỏ ra khác người

Không ham vương vấn chuyện đời

Thú vui trần tục chàng thời xả luôn

Tìm vào Hy Mã Lạp Sơn

Sống đời ẩn sĩ tâm hồn thanh cao

Thế rồi hương đạo dạt dào

Năm trăm người đã tìm vào xin theo

Trở thành đệ tử sớm chiều

Tôn chàng làm vị thầy nhiều uy danh.

Thầy lo tinh tấn tu hành

Lại luôn thiền định nhiệt thành bản thân

Đạt quyền năng bậc siêu nhân

Như bay lơ lửng trên tầng hư không

Hay là đọc được nỗi lòng

Tâm tư thầm kín người chung quanh mình

Thần thông đó quả thật tình

Khiến cho đệ tử tâm thành phục ngay.

*

Vào mùa mưa gió năm nay

Hai trăm năm chục người quay về làng

Theo chân đệ tử trưởng tràng

Lấy hàng, lấy muối để mang về dùng

Phái đoàn chưa trở lại rừng

Thời ông thầy sắp mệnh chung chốn này

Bao nhiêu đệ tử còn đây

Vây quanh chỉ hỏi ông thầy một câu:

“Thầy tu thiền định đã lâu

Cuối cùng đạt phép nhiệm mầu gì chăng?”

Thầy đang mệt, khó nói năng

Trong cơn hấp hối thoảng vang lời ngài

Chỉ nghe một tiếng “Không” thôi

Rồi thầy từ giã cõi đời ra đi

Tái sinh lên cõi trời kia.

Vây quanh đệ tử rất chi ngỡ ngàng

Chờ mong nghe những lời vàng

Thần thông bí quyết ẩn tàng cao siêu

Giờ nghe “không” chỉ bấy nhiêu

Nên cùng thất vọng, đăm chiêu, luận bàn:

“Cả đời thầy rất gian nan

Tu hành, thiền định rõ ràng thâm sâu

Vậy mà đạt được gì đâu

Chỉ nghe thầy nói “không”. Sao lạ kỳ!”

Nghĩ thầy không đạt được chi

Đường tu thất bại thấy thì đáng thương

Có gì đâu để tán dương

Họ bèn hỏa táng bình thường vậy thôi

Chẳng chi khác với người đời

Lễ nghi trang trọng họ thời bỏ qua.

*

Khi đoàn đệ tử đi xa

Việc xong, trở lại rừng già thảnh thơi

Mới hay thầy đã qua đời

Trưởng tràng bèn hỏi những người anh em:

“Có ai hỏi kịp thầy xem

Thầy tu kết quả có đem lại gì

Có chi vĩ đại lạ kỳ?”
Anh em ở lại tức thì nói ngay:

“Khi thầy hấp hối tại đây

Chúng tôi có hỏi kịp thầy đôi câu

Rằng thầy có đạt pháp mầu?

Thời thầy chỉ nói trước sau một lời

Rằng ‘không’, chỉ có vậy thôi

Chúng tôi thiết nghĩ suốt đời tu thân

Thầy mình thất bại vô ngần

Không hề đạt được một phần thành công

Mọi người do đó tán đồng

Lễ nghi danh dự là không đúng đường

Chỉ chôn cất theo cách thường.”

Anh chàng đệ tử trưởng tràng nghe xong

Thở dài, nói rất buồn lòng:

“Tiếc rằng huynh đệ đã không hiểu rồi

Thầy mình tu suốt cả đời

Giờ đây kết quả tuyệt vời lắm thay

Cái ‘Không’ thầy đạt được đây

Quả là tuyệt đích mà thầy cầu mong.”

Trưởng tràng sau đó dài dòng

Giảng ra ý nghĩa chữ “Không” của thầy

Tiếc thay huynh đệ quanh đây

Nào ai hiểu thấu lời hay được nào.

*

Lúc này trên cõi trời cao

Nơi thầy đã tái sinh vào vẻ vang

Thầy nghe đệ tử trưởng tràng

Tận tình giảng giải lời vàng, ý hay

Nhưng mà đệ tử của thầy

Chẳng ai hiểu được, tiếc thay vô cùng

Cho nên thầy phải buộc lòng

Quay về tu viện, trên không hiện hình

Thân lơ lửng, dáng nghiêm minh

Ông thầy thương đệ tử mình u mê

Bèn lên tiếng, giọng uy nghi

Trước tiên khen trưởng tràng kia hết lời

Sau quay qua dạy mọi người:

“Kẻ nào nghe Pháp mà rồi hiểu ngay

Thời so ra thật lành thay

Khá hơn những kẻ không hay biết gì

U mê, thiếu trí, ngu si

Trăm năm mãi chẳng nghĩ suy đúng đường.”

Xong thầy khuyến khích đạo tràng

Năm trăm đệ tử thân thương của mình

Tu siêng năng, học tận tình

Hiểu ra Chân Lý ngọn ngành thâm sâu

Hiểu ra Giáo Pháp nhiệm mầu

Bên kia bờ giác tiến mau tới liền.

*

Lời thầy dạy há dám quên

Năm trăm đệ tử hành thiền, tu thân

Rất tinh tấn, rất chuyên cần

Và rồi kết quả muôn phần tốt tươi

Khi mãn nghiệp, lúc lìa đời

Năm trăm đệ tử cõi trời tái sinh

Cùng nơi với vị thầy mình

Thanh cao rất mực, quang vinh vô vàn.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

ACHIEVING NOTHING

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 20 *

LỜI MẸ KHUYÊN

 

Ba La Nại sống yên lành

Chợt đâu xẩy cuộc chiến tranh bạo tàn

Đội quân của nước lân bang

Bao vây, xâm chiếm gieo tang tóc rồi

Nhà vua bị giết hại thôi

Còn bà hoàng hậu bị người đoạt ngay

Giữ trong chốn hoàng cung này

Kề bên vua mới sau ngày xâm lăng

Chỉ riêng hoàng tử cung vàng

May thay đã kiếm được đường thoát thân

Chui theo dãy ống cống ngầm

Ra ngoài tụ họp dân quân quanh vùng

Tạo thành lực lượng khá đông

Quyết tâm chống chọi, nức lòng đấu tranh

Cùng quay về chốn kinh thành

Ước mong dựng lại triều đình trước kia.

Chàng hoàng tử bèn gửi đi

Một thông điệp nói rất chi hào hùng:

“Vua xâm lược phải phục tùng

Đầu hàng, rút khỏi hoàng cung tức thời

Kinh thành trao lại ngay thôi

Hay là chiến đấu để rồi diệt vong.”

Mẹ hoàng tử ở trong cung

Nghe tin con dọa tấn công kinh thành

Sợ rằng thảm họa chiến tranh

Sẽ làm thiệt mạng dân lành chốn đây

Nhân từ vốn tính xưa nay

Nên bà muốn tránh đọa đày sinh linh

Bà bèn dò xét tình hình

Xong ngầm gửi tới con mình bức thư

Khuyên hoàng tử: “Gắng đợi chờ

Đừng nên gây chiến bây giờ chẳng hay

Bao lương thực trong thành này

Chỉ còn vừa đủ bảy ngày mà thôi

Không củi lửa, hết nước nôi

Bao vây cửa ngõ các nơi ra vào

Là dân chúng sẽ xôn xao

Sẽ mau nổi loạn, lẽ nào chịu yên

Hạ vua xâm lược xuống liền

Trao con quyền bính, tôn lên ngai vàng

Mẹ con ta lại vẻ vang,

Hãy nghe lời mẹ tránh đường chiến tranh!”

Mẹ khuyên hợp lý, hợp tình

Cho nên hoàng tử chân thành theo ngay

Bao vây các cổng thành này

Chặn đường tiếp tế bảy ngày bảy đêm

Chẳng cần chiến đấu chi thêm

Quả nhiên dân chúng trở nên điên cuồng

Tự nhiên đói khát bất thường

Người dân tụ họp tìm phương sống còn

Đua nhau nổi loạn lên luôn

Giết vua xâm lược gây nguồn chiến chinh

Gieo khốn khó, tạo điêu linh,

Rồi dân mở rộng cửa thành khắp nơi

Tìm hoàng tử và thỉnh mời

Vào hoàng cung để lên ngôi trị vì.

Lòng từ ích lợi kể chi

Lời khuyên hoàng hậu còn gì quý hơn

Không bạo động tránh tang thương

Tránh gây đổ máu phơi xương dân lành.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

A MOTHER’S WISE ADVICE

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 21 *

CHÚA VOI SÁU NGÀ

 

Ch.1: BỒ TÁT TÁI SINH

 

Ngày xưa có tám ngàn voi

Quây quần vui sống cuộc đời bình an

Nơi vùng Hy Mã Lạp Sơn

Gần bên hồ rộng gió ngàn vờn quanh

Hồ liền sáu vịnh nước xanh

Nhìn thời thấy giống sáu hình ngà voi

Thiên nhiên phong cảnh tuyệt vời

“Sáu Ngà” hồ đẹp, mọi người đặt tên.

Vì thần thông giỏi vô biên

Du hành có thể bay trên bầu trời

Voi đầu đàn được lên ngôi

Khắp trong vương quốc chúa voi trị vì.

Chúa voi sinh hoàng tử kia

Thân thì trắng toát, mặt thì hồng tươi

Đỏ dưới chân, đỏ trên môi

Voi hoàng tử quả khác đời rất xa:

“Là Bồ Tát, đã trải qua

Bao nhiêu tiền kiếp thật là khác nhau

Khi là thần sống dài lâu

Khi là thú vật đớn đau cuộc đời

Đôi khi lại sống kiếp người

Tử sinh, sinh tử luân hồi cuồng quay.”

Qua nhiều triệu năm trước đây

Voi hoàng tử với lòng đầy khát khao

Học theo Phật Pháp tối cao

Ước mong đắc đạo khác nào Phật đâu

Voi yêu kính Phật từ lâu

Nên voi tu học đạo mầu chuyên tâm

Mỗi khi vấp váp sai lầm

Là thêm kinh nghiệm tu thân sửa mình

Voi tu “ thập thiện” nhiệt thành:

“Sát sinh, trộm cắp, dục tình tránh xa

Không lời lừa dối điêu ngoa

Không lời thêu dệt lại qua đôi chiều

Không lời thô ác đặt điều

Tham, sân, si cũng xả theo dòng đời.”

Nghiệp lành theo giữ đủ mười

Thân tâm thanh lọc, xa rời vô minh

Trải qua nhiều kiếp tái sinh

Kiếp này tạm mượn dáng hình voi thôi.

Voi hoàng tử lớn lên rồi

Thân hình to lớn, vòi dài uốn cong

Như xích bạc mạnh vô song,

Vì voi có sáu ngà trông oai hùng

Hiên ngang, vĩ đại, lạ lùng

Sáu màu khoe sắc ngà trông tuyệt vời

Nên voi tên cũng lạ đời

Mọi người ca tụng chàng: “Voi Sáu Ngà”!

Khi voi chúa chết bất ngờ

Chàng voi hoàng tử thay cha cầm đầu

Lên ngôi lãnh đạo trước sau

Tám ngàn voi quý cùng nhau theo chàng

Voi thông minh, voi khôn ngoan

Tiếng tăm lừng lẫy lan tràn chốn xa:

“Dưới quyền voi chúa sáu ngà

Bầy voi xứng đáng để mà vinh danh.”

Bầy voi cũng rất tâm thành

Cúng dường chư Phật ở quanh núi đồi

Phật Độc Giác năm trăm người

Tự mình giác ngộ, suốt đời tĩnh tu

Các ngài chan chứa tâm từ

Thấy người đau khổ vô bờ quanh đây

Các ngài muốn dạy điều hay

Mong người giải thoát kiếp này êm xuôi

Tiếc thay hầu hết mọi người

Không ham pháp quý, cứ vùi bến mê

Sống thời mạt pháp não nề

Cho nên các vị không hề dạy ai

Luôn im miệng, chẳng thốt lời

Đáng buồn cho chúng sinh thời đó sao!

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

KING SIX TUSKER AND

THE QUEEN WHO HATED HIM

Ch.1: Rebirth Of The Bodhisatta

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 22 *

CHÚA VOI SÁU NGÀ

 

Ch.2: NƠI Ở VÀ GIA ĐÌNH

 

Hồ dài và rộng biết bao

Giữa hồ không có cây nào mọc lên

Nước hồ trong vắt êm đềm

Tựa như khối ngọc thần tiên vô cùng

Nước mênh mông khắp một vùng

Hoa sen, hoa súng chập chùng lượn nhanh

Trắng, hồng phô sắc trời xanh

Đếm ra bảy lớp bao quanh giữa hồ,

Tiếp liền là nước lững lờ

Mọc ra lúa đỏ nhấp nhô khoe mầu

Voi dù đứng cũng không sâu,

Kế là cây nhỏ họp nhau thành rừng

Hoa thơm đếm đủ mười từng

Vàng, xanh, trắng, đỏ tưng bừng múa reo,

Rồi là rừng đậu mọc theo

Rồi rừng bìm bịp, dưa leo, bí bầu

Rồi rừng mía mọc chen nhau

Rồi chuối, rồi mít quả đâu thiếu gì

Rừng tre, vườn táo, hàng me

Tính ra đủ loại cực kỳ tốt tươi

Nơi đây phong cảnh tuyệt vời

Thật là tráng lệ một thời xa xưa.

Bao quanh là núi mộng mơ

Đếm ra bảy ngọn vách phô sắc vàng

Vừa rực rỡ, vừa chói chang

Tựa như ánh sáng vừng dương đầu ngày

Ngọn cao, ngọn thấp đẹp thay

Thất sơn bao bọc hồ này thân thương

Góc hồ ở mạn Đông phương

Một nơi mặt nước gió thường thổi qua

Mọc lên sừng sững cây đa

Thân cao, to lớn, vươn ra bốn cành

Chĩa về bốn hướng ở quanh

Tám ngàn chồi mọc vươn nhanh lên trời

Đẹp sao khó nói nên lời

Bồng lai tiên cảnh so thời cũng ngang.

Phía Tây hồ có động vàng

Phía trong Kim Động thênh thang vô cùng

Hai voi hoàng hậu trong cung

Thường cùng voi chúa vào vùng động sâu

Bà hoàng Khả Ái đứng đầu

Bà hoàng Duyên Dáng đứng vào hàng hai

Tám ngàn voi xếp hàng dài

Cùng nhau vào động là nơi an lành

Tránh mùa mưa bão hoành hành,

Nhưng về mùa hạ nóng hanh núi đồi

Cả đoàn lại kéo ra chơi

Gốc cây đa lớn tạm thời ẩn thân

Nhánh cây che mát vô ngần

Thêm hồ có gió mơn man thổi vào.

*

Một ngày hoa nở đẹp sao

Vườn hoa Đại Thọ đón chào chúa voi

Cùng hai hoàng hậu tới nơi

Tùy tùng hộ tống nhạc trời vang xa

Chúa voi đi đụng cành hoa

Bà hoàng Duyên Dáng quả là không hên

Lá khô, kiến đỏ rơi liền

Bay xuôi chiều gió bám trên thân bà,

Chánh cung Khả Ái đứng xa

Đứng nơi khuất gió vậy mà duyên may

Phấn hoa theo cánh hoa bay

Gieo hương thơm ngát bám đầy châu thân

Voi Duyên Dáng chợt nổi sân

Nghĩ thầm: “Voi chúa có phần xấu xa

Chiều voi Khả Ái hơn ta

Hôm nay đối xử tỏ ra bạc tình.”

Thế là oán hận nảy sinh

Thù này mong dịp để thanh toán rồi.

Một ngày nhân buổi đẹp trời

Đoàn voi xuống tắm đùa chơi trong hồ

Muôn hoa đẹp đẽ sắc phô

Voi thi nhau hái điểm tô thân người,

Một voi dâng đến chúa voi

Đóa sen thật lớn, bảy chồi thơm hương

Chúa voi nhận đóa sen hường

Sau khi rảy phấn lên vừng trán xong

Bèn đưa tặng lại chánh cung

Bà hoàng Khả Ái vui mừng tạ ơn

Voi Duyên Dáng bèn nổi cơn

Nổi lòng ghen ghét thiệt hơn nữa rồi:

“Phen này mình lại kém người.”

Căm thù voi chúa nay thời gia tăng.

*

Một ngày voi chúa sẵn sàng

Gom nhiều thực phẩm để mang cúng dường

Các Phật Độc Giác thân thương

Đủ năm trăm vị trong rừng kế bên,

Voi Duyên Dáng cũng theo liền

Cũng mang cúng Phật tạo thêm phước lành

Thầm cầu nguyện chuyện riêng mình:

“Lìa trần mong được tái sinh cung vàng

Làm công chúa, làm bà hoàng

Tại Ba La Nại vẻ vang cuộc đời,

Làm hoàng hậu của vua rồi

Mong thêm nhan sắc, vua thời mê say

Sẽ dành quyền lực trong tay

Trả thù voi chúa chuyến này khó chi

Tâu vua kiếm thợ săn kia

Cung tên tài giỏi sai đi vào rừng

Dùng tên độc bắn tử thương

Giết xong voi chúa lấy luôn cặp ngà

Mang về dâng tặng hoàng gia

Trả thù như vậy mới là xong xuôi.”

Sau khi ước nguyện vậy rồi

Bà hoàng Duyên Dáng biếng lười uống ăn

Tấm thân cứ héo mòn dần

Một thời gian ngắn từ trần ngay thôi.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

KING SIX TUSKER AND

THE QUEEN WHO HATED HIM

Ch.2: Home And Family

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 23 *

CHÚA VOI SÁU NGÀ

 

Ch.3: HOÀNG HẬU ĐẦY HẬN THÙ

 

Tái sinh vương quốc xa xôi

Làm nàng công chúa dáng người đẹp xinh

Voi Duyên Dáng lúc trưởng thành

Quốc vương cho kết duyên lành lứa đôi,

Vua Ba La Nại cưới rồi

Phong nàng làm chánh hậu nơi cung đình.

Không quên kiếp trước của mình

Nàng mong rửa hận thỏa tình bấy lâu

Nàng bèn giả bộ ốm đau

Xanh xao dáng ngọc, u sầu nét hoa

Nghe tin vua vội ghé qua

Vuốt lưng, thăm hỏi tỏ ra ân cần:

“Mắt nhung nàng đẹp tuyệt trần

Cớ sao héo uá đau buồn xanh xao?”

Nàng bèn khẽ đáp ngọt ngào:

“Thiếp ôm mộng ước nhưng sao khó thành

Nên buồn lo mãi quẩn quanh.”

Vua cười: “Nàng cứ thật tình nói đi

Nay nàng ưa thú vui gì

Ta liền ban tặng có chi ngại ngùng.”
Nàng thưa: “Thật khó vô cùng,

Xin cho triệu tập khắp trong nước nhà

Các tay thiện xạ tài ba

Bấy giờ thiếp sẽ nói ra ước nguyền.”

Vua nghe chiều ý nàng liền

Sai quân đánh trống lệnh truyền thợ săn

Trong vương quốc khắp xa gần

Phải về tụ tập trước sân triều đình.

Thợ săn tuân lệnh nhiệt tình

Sáu mươi ngàn thợ vội trình diện ngay

Mang theo tặng vật về đây

Vua mời hoàng hậu. Nàng đầy sướng vui.

Nàng lên tiếng bảo đám người  :

“Ta nằm mơ thấy ở nơi rừng già

Có con voi trắng sáu ngà

Ngà voi tuyệt mỹ khiến ta ước hoài.”

Thợ săn cả đám đáp lời:

“Tổ tiên săn bắn mấy đời đã qua

Nào nghe voi trắng sáu ngà

Nơi đâu voi ở xin bà chỉ cho.”

Nàng nhìn đám thợ lô nhô

Thấy chàng kia dáng dấp thô vô cùng

Chân tay vạm vỡ to phồng

Rậm râu, sẹo cổ, mặt trông dữ dằn

Tên là Đại Cẩu, thợ săn

Chàng này kiếp trước thù hằn chúa voi,

Nàng trông ưng ý ngay thôi

Nhủ thầm: “Đây chính là người giúp ta.”

Nàng bèn xin phép vua nhà

Để đưa Đại Cẩu lên tòa lầu cao

Chỉ tay về phía rừng sâu:

“Bên kia là núi, phía sau núi này

Có Kim Động to lớn thay

Có cây đa lớn tại đây lâu đời

Tám ngàn cành vươn khắp nơi

Đó là vương quốc của voi sáu ngà

Lớn to, mạnh mẽ, kiêu sa

Có tài chiến đấu tỏ ra hàng đầu

Tám ngàn voi khác theo sau

Đội quân hung dữ ai nào sánh ngang.”
Thợ săn hỏi, giọng hoang mang:

“Biết bao châu báu trong hoàng cung đây

Sao bà lại thích ngà này

Hay bà muốn thợ bỏ thây rừng già?”

Nàng bèn nói, giọng thiết tha:

“Ta thù voi chúa sáu ngà thâm sâu

Từ trong kiếp trước đã lâu

Chứ đâu phải thấy lần đầu trong mơ

Hãy săn voi, giết giùm ta

Giết xong ta thưởng món quà tạ ơn

Năm ngôi làng đẹp biếu luôn.”

Nàng lên tiếng nói tinh khôn dụ người.

Thợ săn nghe nói thuận lời

Xin nàng chỉ lối tới nơi động vàng

Tới nơi voi tắm bình thường

Để mà tính kế dễ dàng giết voi.

Kiếp xưa nàng nhớ mãi thôi

Nơi voi hay tắm không đời nào quên

Chỉ đường cho thợ săn liền:

“Hồ sâu trong mát giữa miền hoa thơm

Trong vùng Hy Mã Lạp Sơn

Gần cây đa lớn cành vươn lá dày

Chúa voi thường tắm hồ này

Tắm xong đủng đỉnh từ đây trở về

Có hoàng hậu theo cận kề

Cài sen vương miện muôn bề yêu thương.”

Sau khi hướng dẫn tỏ tường

Thợ săn đồng ý lên đường săn voi,

Nhưng nàng hoãn bảy ngày trời

Sau khi tạm thưởng cho người hiên ngang

Một ngàn đồng quý tiền vàng

Cho về chuẩn bị sẵn sàng đi xa.

Rồi thợ rèn, rồi thợ da

Nàng cho triệu tập thật là khẩn trương

Để làm dụng cụ bất thường

Dùng săn voi dữ trong rừng nay mai,

Bảy ngày sản xuất xong xuôi

Đồ dùng đặc biệt cho người thợ săn

Thêm đồ uống, thêm thức ăn

Lương khô thực phẩm chu toàn lắm thay,

Thợ săn trở lại đúng ngày

Sau khi nhận lệnh, chia tay lên đường

Dẫn theo một đám tùy tùng

Vượt bao thôn xóm tới vùng xa xôi

Khi gần biên địa vắng người

Một mình thợ dấn bước nơi hiểm nghèo.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

KING SIX TUSKER AND

THE QUEEN WHO HATED HIM

Ch.3: The Hate-filled Queen.

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 24 *

CHÚA VOI SÁU NGÀ

 

Ch.4: CUỘC SĂN

 

Một mình không có ai theo

Hết băng rừng rậm lại trèo non cao

Qua vùng ngập nước lao xao

Qua vùng lầy lội xiết bao nhọc nhằn

Cuối cùng đến đỉnh Kim Sơn

Núi cao đầy quỷ ẩn thân chốn này

Thời gian để tới được đây

Bảy năm, bảy tháng, bảy ngày. Lâu thay!

Thợ nhìn trước mắt thấy ngay

Cây đa vĩ đại lá dầy phủ giăng

Tám ngàn cành lớn vươn ngang

Nơi đây voi chúa hiện đang ẩn mình

Sáu ngà vươn thật hãi kinh

Có tài chiến đấu khoẻ, nhanh, hào hùng

Lại thêm quân đội tùy tùng

Tám ngàn voi quý canh chừng một bên

Không xa hồ nước thần tiên

Chúa voi tắm lội thường xuyên lâu rồi

Quanh hồ cây cỏ tốt tươi

Bướm ong bay lượn, đất trời thăng hoa.

Thợ săn theo rõi từ xa

Đường đi voi chúa hắn ta ghi lòng

Sau khi voi chúa đi xong

Hắn đào một hố sâu trong ven đồi

Ngụy trang hầm hố xong xuôi

Sáng sau hắn tới nấp nơi hố này

Mang cung tên ẩn trong đây

Trên đầu tóc buộc giống thầy tu thêm

Thành ngay một chỏm phía trên

Áo vàng hắn khoác vào bên phía ngoài,

Khi voi chúa vừa tới nơi

Kẻ gian tên độc tức thời bắn ra

Mũi tên cực độc ngấm qua

Chúa voi gầm thét vang xa núi rừng

Cả đoàn voi rống vang lừng

Bước chân hoảng loạn một vùng nát tan

Chúa voi nhìn thấy kẻ gian

Điên cuồng xông tới hung tàn chẳng nương

Chợt nhìn ra mầu thân thương

Mầu vàng tu sĩ thông thường hay mang

Không nên xâm phạm phũ phàng

Cho nên voi chúa vội vàng dừng chân

Rồi voi chúa dạy kẻ gian:

“Kẻ nào tội lỗi vương mang thân mình

Đầy gian xảo, thiếu chân tình

Áo vàng dù khoác xứng danh đâu nào

Thân tâm thanh tịnh khó sao!

Còn người chế ngự được bao lỗi lầm

Tự an tâm, tự điều thân

Quyết theo chánh pháp bước chân rộn ràng

Mới xứng danh khoác áo vàng!”

Chúa voi sân hận chẳng vương chút gì

Giọng bình thản hỏi chàng kia:

“Sao anh muốn giết ta vì cớ chi

Hay ai xúi dục anh đi?”

Thợ săn Đại Cẩu tức thì vội thưa:

“Bà hoàng yêu quý của vua

Tại Ba La Nại đã đưa ý này

Nói rằng nằm mộng mới đây

Thấy ngài nên muốn chiếm ngay cặp ngà.”

Nghe xong voi chúa suy ra:

“Chính nàng Duyên Dáng của ta kiếp nào

Tái sinh hoàng hậu tối cao

Tại Ba La Nại với bao uy quyền

Muốn ta chết để thỏa nguyền

Chứ đâu có muốn lấy riêng cặp ngà.”

Chúa voi ra lệnh thiết tha:

“Hãy cưa lấy bộ ngà ta bây giờ

Khi ta còn sống. Đừng chờ!

Về trao hoàng hậu mê mờ ác tâm.”

Thợ săn nghe vậy mừng thầm

Cầm cưa đứng dậy tiến gần chúa voi

Tưởng rằng ngà dễ cắt thôi

Nào ngờ voi chúa thân người quá cao

Cắt ngà đâu có dễ nào

Voi bèn cúi thấp mình vào bên tai

Nằm kê đầu dưới đất đai

Thợ săn theo chiếc vòi dài trèo lên

Thọc cưa vào miệng voi liền

Muốn cưa cho đứt hai bên cặp ngà

Miệng voi máu chợt ứa ra

Trông voi tình cảnh thật là đớn đau

Thợ săn cưa có được đâu

Ngà voi to chắc dễ nào mà cưa

Chúa voi bình thản tâm tư

Thốt lời: “Ta sức quá ư đuối rồi

Nhưng ta vẫn cố giúp thôi

Anh đưa tay hãy nâng vòi ta lên.”

Thợ săn theo đúng lệnh trên

Chúa voi cố sức cuộn liền cán cưa

Dùng vòi liên tục đẩy đưa

Đôi ngà lần lượt kể như đứt lìa

Chúa voi đưa tặng thợ kia

Nhắn rằng: “Anh hãy mang về hoàng cung

Tặng cho hoàng hậu đáng thương

Tâm tà đưa lạc vào đường u mê

Mong bà sớm thấy nẻo về

Ngà này dù quý ta thì tiếc đâu

Lòng ta mong ước trước sau

Bao nhiêu công đức từ lâu vun trồng

Làm nhân duyên đẹp vô cùng

Giúp ta đắc đạo, cõi lòng thăng hoa!”

Chúa voi bèn hỏi thêm ra:

“Anh đi từ chốn quê nhà đến đây

Thời gian phải mất bao ngày?”

Thợ săn kể lể rõ ngay hành trình

Chúa voi khẽ nói ân tình:

“Anh quay về chốn đế kinh chuyến này

Với thần lực ngà quý đây

Thời gian chỉ mất bảy ngày mà thôi.”

Sau khi thợ săn đi rồi

Đàn voi tản mát khắp nơi tụ về

Cùng hoàng hậu Khả Ái kia

Tiếc thay voi chúa đã lìa trần gian

Cả đoàn hỗn loạn, hoang mang

Xót thương đau đớn, khóc than não nề

Rồi sau đó kéo nhau đi

Báo tin Phật Độc Giác nghe tỏ tường

Rằng voi chúa đã tử thương

Thỉnh mời quý vị lên đường tới nơi

Viếng thăm lần chót thi hài

Hiện đang quàn tại rừng ngoài khoảng không,

Năm trăm vị Phật đồng lòng

Nhẹ bay lên vượt không trung đi liền

Theo nhau đáp xuống đất thiêng,

Hai voi khỏe mạnh nâng lên thi hài

Tỏ lòng sùng kính các ngài

Rồi nâng cao nữa lên đài hỏa thiêu

Chúa voi toàn thể kính yêu

Thi hài hỏa táng lửa reo bập bùng

Suốt đêm trong thánh địa rừng

Các Phật Độc Giác ngồi cùng tụng kinh

Hôm sau vào lúc bình minh

Đài thiêng tắt lửa, hương lành ướp tro

Tám ngàn voi kéo xuống hồ

Bên nhau tắm rửa giã từ chốn đây

Theo hoàng hậu Khả Ái ngay

Hướng nơi chốn cũ và quay trở về

Đầu chia nhau đội tro kia

Nghiêm trang, thành kính kéo đi một đoàn.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

KING SIX TUSKER AND

THE QUEEN WHO HATED HIM

Ch.4: The Hunt.

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

* 25 *

CHÚA VOI SÁU NGÀ

 

Ch.5: HOÀNG HẬU ĐẮC THẮNG

 

Thợ săn vượt núi băng ngàn

Bảy ngày về tới ngay hoàng cung thôi

Mang theo được cặp ngà voi

Lung linh tỏa chiếu sáng ngời linh thiêng

Gặp hoàng hậu hắn vui liền

Vội vàng dâng cặp ngà lên tâu trình:

“Lệnh bà đã được hoàn thành

Đây ngà voi chúa rừng xanh qua đời.”

Bà hoàng hoảng hốt thốt lời:

“Vậy ngài đã chết thật rồi hay sao?”

Nâng niu ngà quý thuở nào

Hào quang sáu sắc phô mầu long lanh

Đặt lên quạt nạm ngọc xanh

Ôm ngà nàng chợt tỏ nhanh nỗi lòng:

“Chúa voi tiền kiếp là chồng

Quân vương một thuở mặn nồng bên nhau

Giờ đây ngài có còn đâu

Thợ săn sát hại đớn đau bạo tàn

Mũi tên độc hại vô vàn

Khiến ngài thiệt mạng tiêu tan cuộc đời

Thợ săn theo lệnh ta sai

Coi như ta đã giết ngài còn chi.”

Quá đau thương! Quá sầu bi!

Khiến nàng chịu đựng thêm gì bữa nay

Tim nàng vỡ nát ra ngay

Và nàng tức khắc tại đây từ trần,

Chút vô minh, chút lòng sân

Gây ra bao sự muôn phần tang thương.

Sau này truyện tích kể rằng

Chính nàng Duyên Dáng là hoàng hậu xưa

Kiếp sau quyết chí đi tu

Nghe lời Phật dạy rất ư tâm thành

Nữ tu giác ngộ thật nhanh

Hoàn toàn giải thoát ngọn ngành khổ đau.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

KING SIX TUSKER AND

THE QUEEN WHO HATED HIM

Ch.5: The Victorious Queen.

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

 

* 26 *

NGỖNG VÀNG

 

Tại Ba La Nại thời xưa

Một đêm hoàng hậu nằm mơ tuyệt vời:

“Ngỗng vàng nói chuyện như người

Trăm câu thông thái, ngàn lời cao xa!”

Sáng ra hoàng hậu thiết tha

Kể cho vua rõ rồi bà cầu xin

Xin vua sai người đi tìm

Ngỗng vàng hiền triết để đem ngỗng về,

Vua dò hỏi khắp mọi bề

Biết rằng có loại chim kia lạ lùng:

“Ngỗng vàng đó! Giống vô cùng!”

Nhưng không dễ gặp, khắp vùng hiếm hoi,

Quần thần góp ý ngay thôi

Khuyên vua xây hồ lớn nơi ngoại thành

Hoa tươi, lá thắm, nước xanh

Ngỗng vàng, chim chóc vờn quanh mấy hồi.

Bấy giờ trên núi xa vời

Ngỗng rừng sinh sống thảnh thơi họp đàn

Tính ra tới chín chục ngàn

Đứng đầu ngỗng chúa lông vàng long lanh.

Khi hồ nước được hoàn thành

Bao nhiêu cây cảnh vây quanh trên bờ

Dưới hồ mặt nước nên thơ

Bông sen, bông súng lững lờ muôn hoa,

Hằng ngày lúa được vãi ra

Gọi mời chim chóc gần xa tụ về

Sống an lành, ăn thoả thuê

Có người bảo vệ không hề hiểm nguy.

Thế là tin tức loan đi

Ngỗng rừng nghe thấy tức thì hân hoan

Đến trình với chúa ngỗng vàng

Muốn cùng nhau kéo cả đàn về kinh

Xem hồ, xem cảnh hữu tình

Sống lâu đỉnh núi buồn tênh lâu rồi,

Ngỗng vàng đồng ý rong chơi

Cả đàn hoan hỉ nhắm nơi kinh thành

Về Ba La Nại cho nhanh

Trời quang bay lượn, hồ xanh đón chào

Hồ thơm ngát, hương ngạt ngào

Nhà vua ra lệnh trước sau canh chừng

Bẫy giăng kỹ lưỡng một vùng

Người rình chờ đón chim rừng tới đây.

*

Thế rồi buổi sáng hôm nay

Thợ săn canh gác thấy ngay chim trời

Một đàn đông đảo tới nơi

Dẫn đầu chim lớn lông thời long lanh

Màu vàng phô sắc trời xanh

Nhắm ngay hồ nước lượn quanh đáp vào

Chín mươi ngàn ngỗng lao xao

Cùng bay dày đặc khác nào đám mây

Lưới giăng sẵn đã lâu ngày

Ngỗng vàng đáp xuống mắc ngay lưới rồi

Khổ thay ngỗng chúa, than ôi!

Bay quanh đàn ngỗng rối bời kêu la

Không chim nào dám xông pha

Tìm đường cứu chúa thoát ra lưới này

Cả đàn vươn cánh tung bay

Trở về núi cũ trốn đây an toàn

Chỉ riêng một ngỗng đầu đàn

Đó là ngỗng bạc, kiên gan, trung thành

Tới bên ngỗng chúa của mình

Tỏ ra trọn nghĩa, trọn tình cùng nhau

Ngỗng vàng khuyên: “Hãy đi mau

Kẻo mà bị bắt khổ đau cuộc đời.”

Quyết tâm, ngỗng bạc đáp lời:

“Dù cho nguy hiểm tôi thời chẳng đi

Mặc cho sống chết sá gì.”

Ngỗng vàng ngỗng bạc đang khi tâm tình

Thợ săn xuất hiện thình lình

Bên hồ thấy ngỗng, giật mình ngẩn ngơ

Ngỗng vàng đẹp vẻ kiêu sa

Dáng hình vương giả thật là nghiêm trang.

Chợt nghe ngỗng bạc kêu van:

“Xin ông thả chúa ngỗng vàng của tôi.”
Thợ săn từ tốn thốt lời:

“Ngỗng vàng! Sao bạn đến nơi chốn này

Mà không thấy lưới giăng đây?”
Ngỗng vàng vội đáp: “Khi hay biết rằng

Cuộc đời sắp chấm dứt ngang

Và rồi cái chết lẹ làng kề bên

Ích gì mà đấu tranh thêm

Con sông số mệnh ta nên xuôi dòng

Nên không thấy được lưới ông.”

Thợ săn cảm kích trong lòng nói thêm

Hỏi chàng ngỗng bạc kề bên:

“Tại sao bạn chẳng bay lên mà về?

Còn như ngỗng mắc lưới kia

Là ai mà bạn không lìa xa nhau?”

Anh chàng ngỗng bạc buồn rầu:

“Đó là ngỗng chúa đứng đầu đàn tôi

Vừa là bạn quý lâu đời

Biết bao tình nghĩa, bỏ rơi sao đành

Dù thân tôi có tan tành

Cũng xin tình nguyện ở quanh chết cùng.”

Thợ săn nghe giọng hào hùng

Cho nên cảm phục trong lòng biết bao

Nghĩ thầm: “Ngỗng thật thanh cao

Chứa chan can đảm, dạt dào thân thương

Nếu ta hại chúa ngỗng vàng

Thần linh chắc sẽ phũ phàng phạt ta

Ta nên thả ngỗng vàng ra

Tiền vua ban thưởng thiết tha làm gì.”

Thợ săn vội gỡ bẫy kia

Và săn sóc ngỗng rất chi nhiệt thành

Rồi lên tiếng: “Hãy bay nhanh

Bay về núi cũ an lành tấm thân.”

Chàng ngỗng bạc vui vô ngần

Hết lời ca ngợi lòng nhân của người:

“Nguyện cầu cho bạn suốt đời

Sống trong hạnh phúc, an vui, sang giàu.”

Ngỗng vàng lên tiếng hỏi mau;

“Bẫy tôi do lệnh từ đâu thế này?”

Thợ săn: “Lệnh của vua đây

Chiều theo hoàng hậu một ngày nằm mơ.”

Rồi ông kể rõ chuyện ra

Ngỗng vàng suy nghĩ: “Vậy ta nên về

Về kinh đô, yên mọi bề

Thợ săn được thưởng không hề thiệt chi

Còn vua nghe nói từ bi

Lại thêm sáng suốt còn gì quý hơn,

Ta sẽ xin vua ban ơn

Thả ta bay nhảy tại luôn hồ này

Thế là mọi chuyện lành thay.”

Ngỗng vàng bèn quyết định ngay thốt lời:

“Ông nên mau mang chúng tôi

Về kinh vua đúng lệnh ngài mới đây

Phần tôi thời có dịp may

Gặp vua, hầu chuyện tỏ bày tâm tư.”

Thợ săn nghe vậy ngần ngừ

Sợ rằng ngỗng sẽ rất ư hiểm nghèo

Ngỗng vàng thuyết phục đủ điều

Cuối cùng ông cũng xuôi theo đồng lòng.

 *

Thợ săn về tới hoàng cung

Vua và hoàng hậu vô cùng mừng vui

Nhìn hai ngỗng đẹp tuyệt vời

Một thời như tuyết trắng nơi non ngàn,

Một thời óng ánh sắc vàng

Vua đưa hai ngỗng lên ngang cây sào

Sào vàng quý giá biết bao

Vua mang thực phẩm ngon vào mời chim

Ngỗng vàng sau đó cả đêm

Cùng vua thảo luận liên miên chuyện đời

Chuyện vua cai trị khắp nơi

Làm sao đúng đắn cho người ngợi ca:

“Bao trách nhiệm chớ lơ là,

Phô trương đạo đức sáng lòa muôn nơi,

Việc lành đừng có buông lơi,

Nêu cao chân lý rạng ngời nhân gian,

Phô thêm trí tuệ chứa chan,

Xứng danh cương vị ngai vàng biết bao.”

Thế rồi buổi sáng hôm sau

Ngỗng vàng, ngỗng bạc cùng nhau lên đường

Vua và hoàng hậu thân thương

Tiễn đôi ngỗng đẹp về phương xa vời

Bay qua cửa sổ ra ngoài

Đôi chim tung cánh cuối trời thênh thang.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE GOLDEN GOOSE

Trong “The Stories Of Buddha’s Former Births”

của Anjali Pal)

 

* 27 *

VOI TRẰNG

 

Gần chân Hy Mã Lạp Sơn

Chúa voi trắng đẹp sống luôn nơi này

Chúa voi cai trị tại đây

Tám ngàn voi sống họp bầy cùng nhau

Chúa voi thường rất buồn rầu

Vì voi có mẹ từ lâu mù lòa

Hằng ngày voi vào rừng già

Quả ngon, trái ngọt hái ra gửi về

Mong cho mẹ được no nê

Nào ngờ mẹ lại không hề được ăn

Đàn voi độc ác vô ngần

Lén giành ăn hết cả phần mẹ voi

Buổi chiều trở lại nhà rồi

Khi voi thấy mẹ đói thời xót xa

Quyết đưa mẹ vào rừng già

“Đàn voi ích kỷ thiết tha làm gì.”

Khi đàn voi ngủ li bì

Chúa voi giắt mẹ lánh đi vào rừng

Lên trên núi ở trong vùng

Vào hang đá nọ vô cùng tốt tươi

Cạnh hồ sen đẹp tuyệt vời

Lá hoa giỡn sóng reo vui lạ thường.

*

Một hôm có gã thợ rừng

Từ Ba La Nại đến vùng này đây

Thăm bà con đã lâu ngày

Tới bên hồ nước chẳng may lạc đường

Bàng hoàng, lo sợ, hãi hùng

Khóc cho số phận thảm thương nghẹn lời.

Dưới hồ voi trắng đang bơi

Chợt nghe sầu não tiếng người than van

Bèn lên bờ tính hỏi han

Thợ rừng hoảng sợ vội vàng chạy đi

Đuổi theo voi nói: “Sợ chi!

Tôi không có ý hại gì anh đâu

Sao anh than khóc thảm sầu?”

Thợ rừng: “Tôi lạc rừng sâu bảy ngày

Quẩn quanh đói khát trong đây.”

Voi bèn an ủi với đầy từ tâm:

“Tôi đưa khỏi chốn sơn lâm

Rồi về quê cũ muôn phần bình yên.”

Voi đưa vòi thấp xuống liền

Thợ rừng bám đó leo lên lưng ngồi

Voi đưa ra khỏi rừng rồi

Anh theo đường cũ về nơi kinh thành.

*

Về Ba La Nại an lành

Chợt nghe tin tức loan nhanh phố phường

Rằng voi quý của quốc vương

Vừa đây mới chết, ngài đương buồn rầu

Muốn tìm voi khác thay mau

Sẽ ban tiền thưởng trước sau rất nhiều.

Thợ rừng vội vã vào triều

Chuyện voi trắng chốn cheo leo non ngàn

Kể vua nghe thật rõ ràng

Trình rằng nhớ chỗ, dễ dàng bắt voi,

Vua đồng ý, cử đoàn người

Theo anh thợ nọ vào nơi rừng già.

Sau thời gian ngắn xông pha

Băng ngang đồng ruộng, xuyên qua núi đồi

Cả đoàn tới được rừng rồi

Suối hồ hoang dã, đất trời bình yên

Họ bèn rón rén tới nhìn

Thấy voi trắng nọ quả nhiên tuyệt vời

Dưới hồ voi trắng thảnh thơi

Hái sen mềm mại búp tươi đem về

Dâng lên cho mẹ voi kia

Mẹ mù đâu có thể đi ra ngoài.

Chàng voi trắng chợt đánh hơi

Nhận ra mùi lạ, biết người ở quanh

Nhìn lên thấy lính triều đình

Cùng anh thợ nọ đứng rình ở trên

Chàng voi nghĩ: “Tên đê hèn

Không màng ân nghĩa, sớm quên ơn người

Bọn này ta diệt dễ thôi

Sức ta mạnh mẽ ai thời sánh ngang

Nhưng ta không muốn tang thương

Tránh phương tàn ác, theo đường từ bi

Ta nên để họ bắt đi

Gặp vua xin thả bề gì cũng yên

Voi theo kế hoạch đó liền

Theo đoàn lính tráng, theo tên gian hùng.

Đêm về voi mẹ trông chừng

Mù loà chờ đợi, con không thấy về

Nghe ồn ào biết hiểm nguy

Biết con bị bắt lôi đi mất rồi

Mẹ voi than khóc kêu trời

Thương con sẽ bị ra nơi chiến trường

Đánh nhau thời dễ tử thương

Mẹ con như vậy hết đường gặp nhau

Mẹ mù nằm ẩn hang sâu

Cõi lòng tan nát đớn đau vô cùng.

Nghe tin voi trắng về cung

Dân Ba La Nại vui mừng liên hoan

Khắp kinh thành đều trang hoàng

Kết vòng hoa đẹp mang choàng cổ voi

Đồ ăn, thức uống ngon sơi

Mọi người lũ lượt mang mời voi ngay

Nhưng voi lại lãnh đạm thay

Bỏ ăn, bỏ uống, héo gầy tấm thân,

Sợ voi yếu sức dần dần

Khiến cho tính mạng có phần lâm nguy

Mọi người báo quốc vương nghe

Vua thân hành tới voi kia trong chuồng

Cho voi ăn rất thân thương

Nhưng voi từ chối không màng chút chi

Ngạc nhiên vua hỏi tức thì:

“Ngươi không hãnh diện chút gì hay chăng

Giúp cho vương quốc vẻ vang?”

Chàng voi than thở: “Tôi màng ăn đâu

Chỉ cầu mong mãi trước sau

Trở về nuôi mẹ hang sâu mù loà

Thân tàn, sức yếu, tuổi già

Không ai chăm sóc chắc là chết thôi.”

Vua nghe xúc động bồi hồi

Nên vua quyết định thả voi tức thì.

Chàng voi cảm tạ, ra đi

Giã từ vua quý, quay về hang xưa

Tới nơi vui mấy cho vừa

Mẹ voi còn sống nằm chờ đợi con

Hai tai nghe ngóng bồn chồn

Chàng voi hút nước ở luôn dưới hồ

Rưới lên lưng mẹ voi mù

Khiến cho mẹ tưởng trời mưa, lầm bầm:

“Trái mùa! Mưa lạ vô ngần

Chắc là thần ác bất thần ra tay

Con ta vắng mặt tại đây

Nào ai bảo vệ, khổ thay thân già.”

Chàng voi trắng đến sát bà

Quỳ bên, an ủi thật là yêu thương

Mẹ voi nhận được tiếng chàng

Đứng lên vội vã rống vang vui mừng.

Chàng voi kể lại tận tường

Chuyện chàng theo lính lên đường về kinh

Chuyện nhà vua phóng thích mình

Mẹ voi cảm động thật tình tri ân:

“Quốc vương đức độ bội phần

Chúc vua hạnh phúc, chúc dân an lành.”

Bên hồ sen nước long lanh

Mẹ con voi trắng sống quanh êm đềm

Chàng voi phụng dưỡng mẹ hiền

Đến ngày voi mẹ quy tiên chầu trời.

*

Thời gian lần lượt dần trôi

Tới phiên voi trắng êm xuôi lìa trần

Nhà vua ra lệnh quần thần

Dựng pho tượng đá ở gần hồ xưa

Giữa thiên nhiên cảnh hoang sơ

Tượng chàng voi trắng nên thơ vô cùng

Hằng năm vua với hoàng cung

Cùng bao dân chúng tưng bừng đến đây

Liên hoan quanh tượng voi này

Ngày “Hội Voi Trắng” tràn đầy thân thương

Nhớ voi từng sống vẻ vang

Dạt dào chữ hiếu, thênh thang tâm từ.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

WHITE ELEPHANT

Trong “The Stories Of Buddha’s Former Births”

của Anjali Pal)

 

* 28 *

KHỈ TỪ BI

 

Tại vùng Hy Mã Lạp Sơn

Tám mươi ngàn khỉ họp đàn sống chung

Dưới quyền khỉ chúa hào hùng,

Gần khu vườn ở cánh rừng bên sông

Có cây vĩ đại vô cùng

Xoài ngon, trái lạ, thơm lừng đó đây

Thấy xoài chín mọng giăng đầy

Khôn ngoan khỉ chúa dặn ngay cả đàn:

“Hãy mau hái hết mà ăn

Nếu không xoài rớt trôi lăn sông ngòi

Xuôi về thành phố xa xôi

Loài người ăn được tức thời ưa luôn

Mò tới gốc, tìm tới nguồn

Rừng ta sinh sống chẳng còn được yên

Người ta xâm phạm tới liền.”

Khỉ nghe. Theo đúng lệnh trên tức thì.

Ngờ đâu có một trái kia

Ẩn trong tổ kiến khó bề nhận ra

Trên cành thấp mọc lòa xòa

Xoài rơi xuống nước trôi xa dập dình

Về Ba La Nại kinh thành

Thoát qua mắt khỉ tinh ranh cả bầy.

*

Vua Ba La Nại sáng nay

Tắm sông mát mẻ nhân ngày thảnh thơi

Mấy người đánh cá gần ngài

Chợt đâu vớt được trái xoài trên sông

Họ nhìn kinh ngạc vô cùng

Rồi bèn kính cẩn đem dâng vua hiền

Vua nhìn, tự hỏi ngạc nhiên:

“Trái cây gì lạ? Ở miền nào đây?”

Hỏi dân chài lưới sông này

Họ thưa đồng loạt không hay biết gì,

Vua bèn hỏi kiểm lâm kia

Họ thưa: “Trái đó rất chi xa vời

Trái xoài tên gọi lâu rồi

Ở trên rừng thẳm khuất nơi non ngàn

Dưới chân Hy Mã Lạp Sơn.”

Khi vua ăn thử thấy thơm lạ thường

Vị ngon ngọt mãi vấn vương

Khiến vua ham muốn tới rừng tìm cây

Dù xoài ở rất xa đây

Vua không ngần ngại định ngày ra đi.

Dòng sâu, nước xiết quản chi

Một đoàn thuyền ngược sông kia lên rừng

Vượt bao sóng nước chập chùng

Vua và quân lính tùy tùng tới nơi

Lên bờ đến gốc cây xoài

Hái ăn một bữa tuyệt vời thơm ngon,

Trời khuya sau buổi hoàng hôn

Nhà vua nằm ngủ dưới luôn gốc xoài

Lính canh gác ở vòng ngoài

Lửa rừng thắp sáng toả dài chung quanh.

Về khuya bầy khỉ chuyền cành

Nhảy lên hái trái xoài giành lẫn nhau

Gây ồn ào giữa canh thâu

Khiến vua thức giấc ngẩng đầu nhìn lên

Thấy ngay bầy khỉ ở trên

Vua bèn gọi lính tới liền để sai:

“Hãy bao vây ngay cây xoài

Cung tên bắn hạ hết loài khỉ kia

Ngày mai làm thịt ngay đi

Xoài cùng thịt khỉ ăn thì chắc ngon.”

Khỉ trên cây nghe hết hồn

Vội tìm khỉ chúa báo luôn sự tình:

“Cây xoài đã bị vây quanh

Tìm đường nào thoát được nhanh chốn này?”

Trấn an khỉ chúa nói ngay:

“Ta tìm cách cứu khỏi đây. An lòng!”

Chàng trèo lên một cành cong

Chuyền ra ngọn xoải qua sông khá dài

Rồi chàng lấy sức phóng người

Bờ bên kia nhảy qua thời dễ thôi,

Chiều ngang sông ước lượng rồi

Tre non một đoạn bằng nơi chiều này

Chặt ra chàng xử dụng ngay

Một đầu buộc chặt thân cây tức thì

Quanh lưng mình quấn đầu kia

Rồi chàng lấy sức đu về ngang sông

Tre non thành chiếc cầu vồng

Để cho bầy khỉ sẽ cùng theo nhau

Leo qua mà thoát hiểm mau,

Tiếc thay chúa khỉ tính sao sai lầm

Quên phần tre buộc quanh thân

Cầu tre do đó một phần hụt đi

Thật là nguy hiểm kể chi.

Hy sinh khỉ chúa tức thì vươn ra

Dùng lưng mình để nối qua

Khiến cầu vừa đủ dài mà sang sông.

Quay nhìn bầy khỉ hãi hùng

Anh chàng khỉ chúa hào hùng hét lên:

“Lưng ta hãy bước chân liền

Tới cầu tre, vượt qua bên kia bờ

Hãy trốn nhanh, đừng chần chờ.”

Tám ngàn chú khỉ xót xa cúi đầu

Chào chàng khỉ chúa thật mau

Bước lên lưng chúa qua cầu bình an

Thế là thoát hiểm cả đàn.

Nào ngờ một khỉ bạo tàn ác tâm

Ghét ganh chúa khỉ bội phần

Từ lâu muốn hại, nay nhân dịp này

Nhảy lên lưng, giẫm mạnh thay

Khiến lưng chúa khỉ gẫy ngay tức thì,

Khỉ gian ác qua bờ kia

Không thèm ngó lại chút gì nạn nhân

Mặc cho khỉ chúa một thân

Đang nằm bất tỉnh vô ngần tang thương.

*

Nhà vua thức giữa đêm trường

Vô tình chứng kiến khỉ đương cứu bầy

Xả thân, bỏ mạng, tan thây

Gương hy sinh ở trên cây tuyệt vời

Nhà vua cảm động nghẹn lời

Sáng sau truyền lệnh cho người trèo lên

Đỡ chàng khỉ chúa xuống liền

Nước thơm tắm rửa khắp trên thân người

Áo vàng mềm mại mặc ngoài

Vua thân ái hỏi: “Nhà ngươi là gì

Mà can đảm cứu khỉ kia

Mạng mình chẳng tiếc, từ bi lạ thường?”

Mặc dù sắp bị tử thương

Anh chàng khỉ chúa nhẹ nhàng thưa ngay:

“Tôi là thủ lãnh cả bầy

Chỉ huy, dẫn dắt tại đây lâu rồi

Cả bầy thương mến tin tôi

Tôi đâu nuối tiếc cõi đời làm chi

Khi đưa bầy thoát hiểm nguy.

Đứng đầu đất nước trị vì muôn dân

Muốn cho tốt đẹp mọi phần

Không nên coi trọng tấm thân của mình

Ưu tiên lo lắng tâm thành

Cho nguồn hạnh phúc an lành của dân.”

Nói xong khỉ chúa từ trần

Núi rừng vẳng tiếng nhạc buồn ngân xa.

Nhà vua ra lệnh tang ma

Trang nghiêm hỏa táng như là quốc vương

Để ghi kỷ niệm hào hùng

Dựng lên ngọn tháp giữa vùng rừng hoang.

Khi vua trở lại cung hoàng

Về Ba La Nại trong hằng bao năm

Nhớ lời khỉ chúa trối trăn

Trị dân đúng Pháp, gieo nhân tốt lành.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE GREAT-HEARTED MONKEY

Trong “The Stories Of Buddha’s Former Births”

của Anjali Pal)

 

* 29 *

BÀI HỌC CỦA NHÀ VUA

 

Tại Ba La Nại thuở xưa

Bà hoàng hậu quý mới vừa sinh xong

Một trai hoàng tử đầu lòng

Mọi người vui vẻ khắp trong cung đình.

Khi chàng mười sáu xuân xanh

Đi xa chàng cố học hành khổ công

Các môn tài nghệ tinh thông,

Thành tài trở lại hoàng cung xa vời.

Khi vua cha vừa qua đời

Chàng hoàng tử nọ tức thời nối ngôi

Trị vì đúng Pháp mãi thôi

Thế là đất nước tới hồi quang vinh

Các quan trong khắp triều đình

Tỏ ra xử án công bình nổi danh

Hết kẻ gian, còn dân lành

Pháp đình do đó vắng tanh lạ kỳ.

Vua hiền một buổi nghĩ suy

Xem mình còn khiếm khuyết gì hay chăng

Để lo sửa cho đàng hoàng

Quốc dân thêm tốt, ngai vàng thêm uy,

Vua hiền từ đó trở đi

Bắt đầu tìm hiểu rất chi tận tình:

“Quanh cung điện, trong triều đình

Thấy không ai trách chê mình một câu

Toàn lời ca ngợi trước sau

Chắc người nể sợ nói đâu thật lòng.”

Nhà vua thầm nghĩ vậy xong

Bèn rời khỏi chốn nội cung ra ngoài

Nhưng rồi cũng chẳng có ai

Nêu ra khuyết điểm chê bai chút gì.

Quanh kinh thành ngài ra đi

Khắp nơi không tiếng trách chi đến mình

Từ nội thành, tới ngoại thành

Toàn nghe ca ngợi tiếng lành mà thôi

Nhà vua suy nghĩ kỹ rồi

Quyết đi các tỉnh xa xôi chuyến này

Bao nhiêu việc nước trong đây

Giao cho quan lại tạm thay thế mình.

Cải trang thành một dân lành

Lên đường với kẻ trung thành đánh xe

Trong thành thị, ngoài làng quê

Cả vùng biên địa rất chi xa vời

Nhà vua dò hỏi mọi nơi

Toàn nghe dân chúng thốt lời khen vua

Cuối cùng từ chốn biên khu

Dân tình nghe đủ, xe đưa ngài về.

*

Bấy giờ ở nước cận kề

Nhà vua cai trị mọi bề an vui

Ko Sa La nước đẹp tươi

Có vua đạo đức, mọi người ngợi ca

Nhà vua cũng rất thiết tha

Muốn tìm khuyết điểm để mà tu thân

Khi vua đi khắp xa gần

Cũng toàn nghe tiếng người dân khen mình

Ngài quay về lại kinh thành

Trong lòng cảm thấy an lành biết bao.

*

Nhưng rồi chuyện bất ngờ sao

Hai vua cùng lúc đi vào lối kia

Con đường chật hẹp vùng quê

Chỉ vừa đủ một chiếc xe trên đường

Ngược chiều xe chẳng chịu nhường

Lái xe đều muốn đối phương tránh mình

Hai xe bối rối thật tình

Lái xe bèn hỏi vòng quanh thăm dò

Để mang mọi chuyện ra so

Thời vua hai nước tình cờ ngang nhau

Uy danh, thế lực, sang giàu

Lại thêm tuổi tác có đâu khác gì

Thật là khó xử kể chi

Cuối cùng hai kẻ lái xe đồng tình

Đem so giới đức vua mình

Ai hơn sẽ được quyền dành ưu tiên

Đi trên đường hẹp này liền

Ai thua sẽ phải chịu phiền tránh qua.

Lái xe nước Ko Sa La

Khoe rằng vua hắn thật là nêu gương:

“Mang cứng rắn đối kẻ cương,

Mang mềm mỏng đối kẻ thường hay nhu

Mang nhân đức đối hiền từ

Và mang bất thiện trao đưa kẻ tà,

Vậy mong bạn tránh lối qua

Vua tôi giới đức so ra hơn người.”

Lái xe kia vội trả lời

Vua Ba La Nại tôi thời khác xa:

“Lấy từ bi, lấy ôn hòa

Thắng cơn nóng giận bùng ra thét gầm,

Lấy hiền lành, lấy thiện tâm

Thắng lòng hung ác bất nhân khó lường,

Lấy tâm bố thí cúng dường

Thắng hàng keo kiệt, thắng phường tham lam,

 Lấy chân thật để đập tan

Những trò hư ngụy, dối gian ở đời.”

Lái xe kia vừa dứt lời

Vua Ko Sa La tức thời ngộ ra

Lệnh cho xe mình dẹp qua

Để mà nhường lối rất là thành tâm

Vua xuống xe và đích thân

Bước qua xe khách ân cần hỏi han

Vua Ba La Nại lân bang

Cả hai càng trò truyện càng cảm thông

Vua Ba La Nại thật lòng

Góp bao ý kiến vô cùng quý thay

Cho ông vua nước bạn này

Để mà trị quốc từ nay phú cường.

*

Hai vua từ biệt lên đường

Vua Ba La Nại về vương quốc mình

Gây bao công đức nhiệt tình

Cuối đời, mãn nghiệp, vua sinh lên trời.

Còn vua Ko Sa La thời

Nhớ câu căn dặn, nhớ lời nhủ khuyên

Trở về vua thực hiện liền

Làm bao việc thiện chẳng quên lời vàng

Cuối đời từ giã nhân gian

Sinh lên thiên giới vô vàn vẻ vang.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE KING’S LESSON

Trong “Stories Of  The Buddha”

của Caroline A.F. Rhys Davids)

 

* 30 *

VUA HUNG ÁC

 

Tại Ba La Nại một thời

Nhà vua cai trị là người hại dân

Hung tàn, phi pháp, bất nhân

Tạo bao nghiệp ác vô ngần xấu xa

Sưu cao, thuế nặng ban ra

Lại thêm hình phạt thật là gắt gao

Nhân dân bị ép khác nào

Mía trong máy ép, từ bao lâu rồi,

Vua không hề có tình người

Không thương ai cả, dù nơi cung vàng

Nhà vua khe khắt, bạo tàn

Vợ con cùng với các quan u sầu

Coi vua có khác gì đâu

Như là hạt bụi làm đau mắt người

Như là sạn lẫn cơm thôi

Như dao mũi nhọn đâm nơi tay mình.

Một ngày vua chết thình lình

Thế là dân chúng mặc tình sướng vui

Họ cười nói, họ vui chơi

Đón mừng hoàng tử nối ngôi trị vì,

Thi hài vua hoả táng đi

Với ngàn xe củi lửa thì bốc cao

Tro tàn còn chẳng là bao

Dùng trăm ghè nước đổ vào tắt ngay.

Ngai vàng vua mới lên thay

Nhà vua giới đức đó đây chào mừng

Thật hoan hỉ, thật tưng bừng

Hội hè rộn rã, tiệc tùng liên miên

Bà con sung sướng như điên

Khắp nơi trống dội, khắp miền cờ bay

Trên ngai vua thật oai thay

Lính cầm lọng trắng che ngay trên đầu

Oai phong lẫm liệt biết bao

Triều đình, quan lại đứng chầu chung quanh

Vòng ngoài là những lính canh

Cùng đoàn giữ cửa trung thành từ lâu.

*

Một người giữ cửa chợt đâu

Lại than, lại khóc buồn rầu khôn nguôi

Trong khi thiên hạ vui cười

Nhà vua thấy lạ buông lời hỏi han:

“Cha ta vừa mới từ trần

Toàn dân tỏ vẻ vô ngần sướng vui

Chỉ riêng ngươi lại sụt sùi

Cha ta chắc đối với ngươi tốt lành

Và từng yêu mến thật tình?”

Anh chàng gác cửa chân thành vội thưa:

“Tôi nào thương tiếc nhà vua

Khi vua còn sống thường ưa đánh người

Thang lầu lên xuống cạnh tôi

Vua hay ngừng lại và rồi nắm tay

Đánh tôì tám cái đầu này

Nặng như cây búa trong tay thợ rèn,

Qua đời vua chắc chẳng quên

Bên kia thế giới vẫn quen tật này

Đánh đầu người đã quen tay

Thế là vua lại sẽ gây muộn phiền

Những người cõi đó cuồng điên

Nếu mà họ trả vua liền về đây

Nghe mà khủng khiếp lắm thay

Đầu tôi lại bị đánh ngay liên hồi

Nghĩ mà buồn bã đấy thôi

Nên tôi lo lắng để rồi khóc than.”

Vua hiền lên tiếng trấn an:

“Lo chi! Vua đã thành than tro rồi

Ngàn xe củi đốt thân ngài

Cả trăm ghè nước mọi người tưới lên

Lại thêm đào đất bốn bên

Vua còn đâu nữa, chớ nên lo gì,

Chúng sinh khi đã chết đi

Đi luôn theo nghiệp trước kia của mình

Xác thân cũng đã tan tành

Làm sao trở lại quẩn quanh cõi trần

Để mà quấy rối xa gần

Nhà ngươi chớ sợ! Yên tâm từ giờ!”

Anh chàng giữ cửa nghe ra

Trong lòng cảm thấy quả là êm xuôi

Hai dòng lệ hết tuôn rơi

Thay vào là một nụ cười an tâm.

Nhà vua trẻ cai trị dân

Trị vì đúng Pháp, lòng nhân dạt dào

Luôn luôn bố thí đẹp sao

Gây bao công đức, tạo bao phước lành

Đến khi mãn nghiệp của mình

Giã từ dương thế, tái sinh cõi lành.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE TAWNY KING

Trong “Stories Of  The Buddha”

của Caroline A.F. Rhys Davids)

 

* 31 *

DIỀU HÂU HIẾU THẢO

 

Thuở xưa có chú diều hâu

Rất là hiếu thảo, ai đâu sánh cùng

Chim nuôi cha mẹ trong rừng

Ở vùng Linh Thứu chập chùng núi non,

Một mùa bão táp dập dồn

Gió gào buốt giá, mưa tuôn tràn đầy

Diều hâu khốn khổ cả bầy

Không hề chịu nổi nên bay đi liền

Đến Ba La Nại gần bên

Rủ nhau đậu lại ở trên bức tường

Cả bầy run lạnh thảm thương,

Có ông triệu phú giàu sang trong vùng

Trên đường ra bến tắm sông

Bất ngờ trông thấy mủi lòng thương chim

Dụ chim về dưới mái hiên

Trú mưa, đốt lửa sưởi thêm ấm người,

Bãi chôn bò ở gần nơi

Phú ông sai lấy thịt rơi đem về

Cho chim ăn uống thỏa thê

Sai con bảo vệ thêm bề an vui.

Khi mưa gió chấm dứt rồi

Diều hâu lành mạnh tức thời bay đi

Về nơi rừng núi trước kia

Họp nhau bàn tính cách gì trả ơn

Ơn người có tấm lòng vàng

Chim cùng quyết định: “Cả đàn chúng ta

Từ nay bay khắp gần xa

Thấy chi vải vóc hay là nữ trang

Ta nên lượm đừng để vương

Rồi mang thả xuống nhà thương gia này.”

*

Kể từ buổi đó vui thay

Diều hâu cất cánh tung bay khắp trời

Thấy ai đem vải ra phơi

Hay đồ trang sức để nơi sân nhà

Chim rình chờ họ lơ là

Rồi nhanh như cắt bay sà xuống ngay

Chụp mau những thứ phơi đây

Bay quanh trở lại thả đầy xuống sân

Nhà thương gia, nhà ân nhân,

Phú ông nhận biết chim thầm trả ơn

Ông gom đồ đó lại luôn

Cất đi một chỗ đâu còn tham chi.

Những người đã mất của kia

Đều cùng nổi giận tức thì kéo nhau

Trình vua rõ chuyện diều hâu,

Vua bèn ra lệnh quân hầu ra tay

Bắt ngay chim diều hâu này

Một con là đủ, từ đây phăng lần

Tìm ra đồ chẳng khó khăn,

Quân hầu cùng với thợ săn tuân hành

Khắp nơi lưới bẫy giăng quanh

Diều hâu hiếu thảo trở thành nạn nhân

Mắc đôi cánh, kẹt đôi chân

Đưa về vua để xử phân rõ ràng.

 Phú ông bất chợt đi ngang

Trên đường tới chốn cung vàng hầu vua

Nhìn chim ông động tâm từ

Dặn quân hầu giữ chim cho tốt lành

Ông theo họ đến hoàng thành

Rồi cùng vào giữa triều đình với chim.

Vua tra hỏi diều hâu liền:

“Nhân dân bị trộm khắp trên phố phường

Các ngươi phạm tội đó không?”

Diều hâu thành thật mọi đường nhận ngay.

Nhà vua khen: “Vậy tốt thay!

Bọn ngươi cất giấu đồ này ở đâu?”

Chim thưa: “Tất cả diều hâu

Lấy xong đồng loạt bỏ vào nhà kia

Nhà ông triệu phú cận kề

Tại Ba La Nại, không hề thiếu chi.”

Nhà vua: “Vì lý do gì

Cả bầy chim lại cứ đi trộm hoài?”

Chim thưa: “Tính mạng chúng tôi

Phú ông cứu giúp, nay thời trả ơn.”

Nhà vua thắc mắc hỏi luôn:

“Diều hâu đôi mắt tinh hơn mọi loài

Xa trăm dặm cũng thấy hoài

Sao ngươi chẳng thấy bẫy người ta giăng?”

Diều hâu bình thản thưa rằng:

“Chúng sinh tai họa khi đang chờ mình

Và thân mạng hết an lành

Dễ gì biết được sự tình chi đâu

Nên va chạm lưới thật mau.”

Nhà vua nghe vậy, gật đầu cảm thông

Vua quay qua hỏi phú ông.

Phú ông xác nhận: “Thưa không sai gì!

Những đồ vật bị trộm kia

Sẵn sàng hoàn trả lại về chủ nhân

Hiện còn đầy đủ mọi phần,  

Chỉ xin hoàng thượng ban ân chuyến này

Cho diều hâu được thả ngay

Diều hâu hiếu thảo lại đầy nghĩa, nhân.”

Vua hiền chấp thuận, ra ân

Thế là đồ đạc chủ nhân lấy về

Còn diều hâu hiếu thảo kia

Hướng nơi rừng cũ bay đi đẹp lòng.

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE VULTURE

Trong “Stories Of  The Buddha”

của Caroline A.F. Rhys Davids)

 

* 32 *

CHÀNG CON KHÔN NGOAN

 

Gia đình điền chủ thời xưa

Có con trai nọ mới vừa sinh ra

Đẹp lòng mẹ, hài lòng cha

Khi chàng khôn lớn cả nhà vui tươi.

Đột nhiên ông nội qua đời

Cha chàng từ đó thành người khổ đau

Nhớ thương ông nội dài lâu

Tro tàn hài cốt cha đâu nỡ rời

Mang về chôn cất tận nơi

Nấm mồ xây giữa vườn thời đẹp thay,

Mỗi khi cha đến nơi đây

Thường mang phủ khắp mộ đầy bông hoa

Khóc than nước mắt nhạt nhòa

Uống ăn cha chẳng thiết tha nữa rồi

Chẳng buồn tắm rửa thân người

Việc nhà việc cửa cha thời bỏ lơ.

Chàng trai thấy vậy xót xa

Nghĩ thầm: “Mình phải giúp cha lành hiền

Ngưng đau khổ, dứt muộn phiền

Chuyện này ai sẽ làm nên ngoài mình.”

Khi chàng dạo bước ngoại thành

Thấy con bò chết nằm quanh bên đồi

Chàng bèn mang cỏ thật tươi

Cùng bao nước uống tới nơi cạnh bò

Mời bò: “Cỏ hãy ăn no!

Nước ngon hãy uống! Ta lo sẵn sàng!”

Bà con qua lại thấy chàng

Nghĩ chàng mất trí và đang điên cuồng

Thế là họ vội tìm đường

Chạy về báo lại cha chàng đầu đuôi.

Cha chàng nghe nói rụng rời

Đang ngồi than khóc ở nơi vườn nhà

Tạm ngưng giọt lệ xót xa

Rời mồ ông nội chạy ra tìm chàng

La lên: “Con thật bất thường

Xác bò chết sắp xình trương lên rồi

Đưa nước tốt, mời cỏ tươi

Bò sao ăn uống, con thời u mê.”

Chàng con thưa: “Cha nhìn kìa

Bò còn đầy đủ tứ chi, thân người

Đủ cả đầu, thêm cả đuôi

Thời bò sống lại mấy hồi đó cha!

Còn như ông nội ở nhà

Thân người hỏa táng thành ra tro tàn

Đầu mình cùng với tay chân

Có còn đâu nữa, đã tan biến rồi

Cha còn than khóc mãi thôi

Theo con thiết nghĩ tức cười lắm sao

Chẳng tinh khôn một chút nào

Chỉ thêm nhọc xác tổn hao tâm thần.”

Cha chàng chợt tỉnh, nghĩ thầm:

“Con ta quả thật vô ngần khôn ngoan

Biết điều gì đúng cần làm

Tỏ ra khôn khéo khuyên can cha mình.”

Ông bèn nói, giọng tâm tình:

“Con tôi trí tuệ, tinh anh vô ngần

Giờ đây cha đã nhận chân

Đâu tồn tại mãi tấm thân con người

Vô thường sự vật trên đời

Mong manh như giọt sương rơi đầu cành

Từ nay cha nguyện tâm thành

Xua cơn bi thảm quẩn quanh trong đầu,

Con như làn nước nhiệm mầu

Tưới vào dập tắt lửa sầu trong cha,

Con như tay khéo nhổ ra

Cái gai nhức nhối xót xa muộn phiền,

Lòng cha giờ thật bình yên

Tràn nguồn an lạc, xa miền thương đau.”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE SUJATA

Trong “Stories Of  The Buddha”

của Caroline A.F. Rhys Davids)

 

* 33 *

NGƯỜI ĐẸP TUYỆT TRẦN

 

 Trong vương quốc nọ thuở xưa

Có chàng hoàng tử mới vừa sinh ra

Vua cha cùng với hoàng gia

Đón mừng quý tử thật là vui tươi,

Ông quan tể tướng đồng thời

Cũng vừa sinh được ra đời một trai,

Thế là đôi trẻ cả hai

Lớn lên kết bạn thân hoài cùng nhau,

Tới khi mười sáu tuổi đầu

Cả hai được gửi đi vào trường xa

Học hành tài nghệ thăng hoa

Xong xuôi cùng trở về nhà ngay thôi.

Nhà vua vui vẻ truyền ngôi

Cho chàng hoàng tử. Khắp nơi chào mừng.

Ông quan tể tướng theo gương

Xin về ẩn dật, muốn nhường chức ngay

Con ông được cử lên thay

Được nhà vua trẻ từ nay tin dùng.

Cả hai cai trị khắp vùng

Thật là đúng Pháp toàn vương quốc nhà.

*

Kinh thành có một thương gia

So bề tài sản thật là giàu sang

Có con gái đẹp khuôn trăng

Như tiên nữ chốn cung Hằng khác chi

Yêu kiều, diễm lệ, mê ly

Mọi người chiêm ngưỡng say mê vô vàn.

Ông thương gia vào cung vàng

Gặp vua, đề nghị dâng nàng vào cung

Để hầu hạ vị quân vương,

Mời tiên tri khắp bốn phương về chầu

Để xem tướng quý hàng đầu

Của người mỹ nữ muốn hầu cận vua.

Vị quân vương chẳng chối từ

Thuận theo kế hoạch đúng như đã bàn

Cử tiên tri, một phái đoàn

Đến thăm dò tại nhà nàng xem sao.

Thương gia tiếp đẹp biết bao

Tiệc tùng trọng thể đón chào quý thay

Đang khi dự tiệc tại đây

Thời nàng xuất hiện, đắm say lòng người

Thấy nàng nhan sắc tuyệt vời

Tiên tri các vị tức thời ngất ngây

Tựa như người uống rượu say

Trí kia chợt mất, tâm này chợt điên

Lỡ lời, ăn nói quàng xiên

Làm điều thất thố gây phiền chủ gia

Bị nàng giận, đuổi khỏi nhà

Thật là nhục nhã, quả là đắng cay

Cả đoàn bực tức về ngay

Tường trình vua rõ, lời đầy dối gian:

“Nàng không xứng cạnh ngai vàng

Tựa như phù thủy hung tàn mà thôi.”

Vua nghe tâu rõ vậy rồi

Chối từ người đẹp, không mời vào cung.

Nàng hay tin, bực vô cùng

Sinh lòng oán hận quốc vương vô vàn.

Thương gia sau đó gả nàng

Cho quan tể tướng bạn vàng của vua

Vị quan trẻ tuổi mến ưa

Yêu nàng vợ trẻ, coi như thiên thần.

*

Kiếp xưa người đẹp tuyệt trần

Vốn là cô gái nghèo nàn mà thôi

Nhưng lòng từ chẳng kém người

Cúng dường, bố thí cô thời quản chi

Luân hồi nhiều kiếp qua đi

Kiếp này giàu, đẹp, dậy thì xinh tươi.

*

Năm nay hội lớn tới rồi

Mùa mưa vừa dứt khắp nơi ăn mừng

Cả kinh thành đều tưng bừng

Cửa nhà sáng rực, phố phường vui reo.

Trước khi tể tướng vào triều

Ra đi dặn vợ mến yêu đôi lời:

“Linh đình đám rước khắp nơi

Nhà vua tham dự vui chơi chuyến này

Trước tiên ngài sẽ qua đây

Khi ngài tới cửa, nhớ ngay một điều

Vì nàng nhan sắc mỹ miều

Nếu nàng lộ diện sẽ nhiều nguy tai

Nên nàng tránh đừng gặp ngài

Để cho ngài khỏi rối bời tâm tư.”

Sau khi lo bảo vệ vua

Ông quan trẻ tuổi, nhân từ, vào cung

Vầng dương vừa khuất sau rừng

Bóng trăng xuất hiện không trung sáng ngần

 Đuốc đèn rực rỡ nhà dân

Xe vua cùng với quần thần dạo quanh

Thanh bình trên khắp kinh thành

Vị vua cao cả, uy danh rạng ngời.

Trước tiên vua ghé thăm nơi

Dinh quan tể tướng tường ngoài kín vây

Trên cao cửa sổ dinh này

Vợ quan tể tướng tại đây ngóng chờ

Giỏ hoa để sẵn phòng hờ

Thấy vua ghé tới nàng phô sắc liền

Đẹp tuyệt trần, đẹp như tiên

Ló đầu ném xuống vua hiền đầy hoa

Dáng mê hồn, vẻ thướt tha

Vua nhìn lên thấy lòng đà ngất ngây

Điên cuồng, rạo rực, đắm say

Bao nhiêu tâm trí hầu bay xa vời

Đâu còn nhận biết quanh ngài,

Vua lên tiếng hỏi thăm người đánh xe

Về người đẹp tại lầu kia

Đánh xe trình rõ chi li mọi điều.

Mắt tinh, người đẹp mỹ miều

Thấy nhà vua trẻ có chiều đê mê

Vẻ như dao động nặng nề

Nàng liền đóng cửa và đi trở vào

Bóng hồng khuất nẻo lầu cao

Dưới lầu vua trẻ nôn nao tâm hồn

Vừa ngây ngất, vừa bồn chồn

Hội hè, đám rước đâu còn thiết chi

Lệnh cho xe quay trở về

Vào phòng riêng cứ nằm mê mẩn người

Huyên thuyên nói nói cười cười

Cận thần thấy vậy tức thời báo ngay

Trình quan tể tướng được hay

Quan về hỏi vợ, lòng đầy lo âu.

Vợ thưa lại chuyện trên lầu

Ném hoa cho kẻ lạ đâu biết gì:

“Ông này đứng dưới lầu kia

Răng hô, bụng bự khó bề nhận thay

Vua hay quan chức chi đây!

Khi hoa ném xuống người này nhìn lên

Rồi quay xe bỏ đi liền

Nào đâu có rõ vua hiền hay ai.”

Ông quan tể tướng thở dài:

“Thế là nàng đã hại đời của ta

Khổ quốc vương, khổ hoàng gia

Mai ta tìm cách để mà giúp vua.”

*

Hôm sau tể tướng nhân từ

Vào chầu vua lúc trời vừa hừng đông

Đứng ngay ngoài mé cửa phòng

Nghe vua nói sảng ở trong một mình

Huyên thuyên lời kẻ si tình

Ông quan tể tướng triều đình nhận ra:

“Vua đang mê mẩn vợ ta

Nếu không thoả nguyện chắc là chết thôi

Bổn phận ta là bầy tôi

Phải lo tìm cách cứu ngài khỏi nguy.”

Về nhà tể tướng nghĩ suy

Quan kêu thân tín thầm thì đôi câu:

“Có cây rỗng ruột từ lâu

Trong đền thần nọ ở đầu làng kia

Đêm nay đợi lúc trời khuya

Nhà ngươi bí mật hãy đi tới đền

Chui vào cây rỗng ngồi yên

Chờ ta tới đó khấn nguyền thần linh.”

Quan thêm khi quan trần tình

Vái van cầu nguyện vua mình bình an

Thời thân tín giả giọng thần

Phán rằng: “Tể tướng bình tâm nghe này!

Vua không bệnh hoạn chi đây

Chỉ vì tình ái đọa đày tấm thân

Vua si mê quý phu nhân

Si mê nhan sắc mỹ nhân vợ ngài

Ngài cần dâng vợ ngài thôi

Nhà vua thoả nguyện tức thời hết nguy!”

Hôm sau tể tướng tức thì

Thi hành kế hoạch đúng y dự trù

Lời thần mách bảo nhân từ

Để quan tể tướng cứu vua chuyến này,

Quan tể tướng phổ biến ngay

Các quan lớn nhỏ được hay biết liền

Triều đình trút hết muộn phiền

Kéo nhau yết kiến vua hiền cho mau

Ông quan tể tướng trình tâu

Mong vua tuyển vợ mình vào trong cung.

Vua nghe tâu chợt ngại ngùng

Vội lên tiếng hỏi như bừng cơn mê:

“Thế là các vị thần kia

Biết ta say đắm cuồng si vì nàng

Nên không xử sự đàng hoàng

Nghĩ suy sai lạc, nói năng ngông cuồng?”

Ông quan tể tướng thưa luôn:

“Quả tình đúng vậy. Quần thần đều hay.”

Vua thầm nhủ: “Hổ thẹn thay

Thế gian truyền tụng chuyện này của ta

Thật hèn hạ, quá xấu xa

Giờ đây nghĩ lại thật là đáng chê.”

*

Nhà vua hối hận muôn bề

Những điều chân chính đã về trong tâm

Lòng ngài thanh thản bội phần

Chẳng còn tham đắm mỹ nhân nữa rồi,

Biết dừng lại đúng lúc thôi

Nhà vua trẻ bỗng thốt lời tâm can:

“Ta không muốn phản bạn vàng

Muốn theo chánh đạo vô vàn thơm hương,

Nêu chánh pháp, giữ kỷ cương

Đóng vai một vị quốc vương tốt lành

Công bằng, chính trực, tinh anh

Để dân được hưởng an bình bốn phương

An cư, lạc nghiệp, phú cường

Còn như nghiệp ác chớ vương làm gì!

Ta mong tể tướng quên đi

Đừng bao giờ nhắc chuyện về phu nhân

Dù cho người đẹp tuyệt trần,

Chúng ta tình bạn thiết thân thuở nào

Giữ trong sạch, giữ thanh cao

Lòng trần tham ái dễ nào nhuộm dơ!”

 

(phỏng dịch theo bản văn xuôi

THE UMMADANTI

Trong “Stories Of  The Buddha” của Caroline A.F. Rhys Davids)

________________

 

NHẬN DIỆN TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT

 

1) TRUYỆN NGƯỜI BẮN CUNG NHỎ BÉ

   Người bắn cung nhỏ bé là tiền thân Đức Phật.

2) TRUYỆN ẨN SĨ TRONG VƯỜN VUA

   Sư trưởng có năm trăm đệ tử là tiền thân Đức Phật.

3) TRUYỆN ANH HÙNG TÊN “XUI”

   Người triệu phú là tiền thân Đức Phật.

   Người bạn tên Xui là A Nan.

4) TRUYỆN THẮC MẮC TRẺ THƠ

   Vị đại triệu phú là tiền thân Đức Phật.

5) TRUYỆN HỌC THEO LOÀI RẮN

   Vị tế sư của vua là tiền thân Đức Phật.

6) TRUYỆN THẦY TU THỜ VẬN MAY

   Thầy tu khổ hạnh không mê tín dị đoan, không thờ    vận may là tiền thân Đức Phật.

7) TRUYỆN GIẢ DẠNG THẦY TU

   Nhà buôn là tiền thân Đức Phật.

 

8) TRUYỆN TỬ TẾ MỘT CHIỀU

   Vị triệu phú ở Ba La Nại là tiền thân Đức Phật.

9) TRUYỆN SÚC SẮC TẨM ĐỘC

   Ông nhà giàu ham chơi súc sắc là tiền thân Đức Phật.

10) TRUYỆN BÍ MẬT

      DÂY CHUYỀN MẤT TRỘM

      Ch.1: Từ tội này tới tội khác

11) TRUYỆN BÍ MẬT

      DÂY CHUYỀN MẤT TRỘM

      Ch.2: Khám phá bí mật.

   Quan đại thần hiền trí điều tra ra vụ trộm là tiền thân Đức Phật.

12) TRUYỆN SƯ TỬ BẤT CẨN

   Ông phú hộ tại Ba La Nại là tiền thân Đức Phật.

13) TRUYỆN ẨN SĨ KHỔ HẠNH

   Thanh niên tu hành xác theo tà đạo là tiền thân Đức Phật.

14) TRUYỆN VUA ĐẠI THIỆN KIẾN

   Vua Đại Thiện Kiến là tiền thân Đức Phật. Hoàng  hậu là mẹ của La Hầu La.

15) TRUYỆN HOÀNG TỬ VÀ CÁC NỮ QUỶ

     Ch.1: Năm Bữa Ăn Trong Rừng

16) TRUYỆN HOÀNG TỬ VÀ CÁC NỮ QUỶ

     Ch. 2: Bữa Tiệc Trong Hoàng Cung

   Chàng hoàng tử út là tiền thân Đức Phật.

17) TRUYỆN MỘT NGƯỜI TÊN “XẤU”

   Vị thầy có năm trăm đệ tử là tiền thân Đức Phât.

18) TRUYỆN MỘT NGƯỜI TÊN “KHÔN”

   Người buôn bán tên Khôn là tiền thân Đức Phật.

19) TRUYỆN ĐẠT ĐƯỢC CHỮ “KHÔNG”

   Vị thầy đạt được chữ “không” là tiền thân Đức Phật.

20) TRUYỆN LỜI MẸ KHUYÊN

   Hoàng tử con của vua tại Ba La nại là tiền thân Đức Phật.

21) TRUYỆN CHÚA VOI SÁU NGÀ

     Ch. 1: Bồ Tát Tái Sinh

22) TRUYỆN CHÚA VOI SÁU NGÀ

     Ch. 2: Nơi Ở Và Gia Đình

23) TRUYỆN CHÚA VOI SÁU NGÀ

     Ch. 3: Hoàng Hậu Đầy Hận Thù

24) TRUYỆN CHÚA VOI SÁU NGÀ

     Ch. 4: Cuộc Săn

25) TRUYỆN CHÚA VOI SÁU NGÀ

     Ch. 5: Hoàng Hậu Đắc Thắng

   Chúa voi sáu ngà là tiền thân Đức Phật.

26) TRUYỆN NGỖNG VÀNG

   Ngỗng vàng là tiền thân Đức Phật. Ngỗng bạc là A Nan. Nhà vua là Xá Lợi Phất. Thợ săn là Xa Nặc. Bộ tộc Thích Ca là đàn ngỗng rừng.

27) TRUYỆN VOI TRẮNG

   Voi trắng là tiền thân Đức Phật. Voi mẹ bị mù là hoàng hậu Ma Gia. Nhà vua là A Nan.

28) TRUYỆN KHỈ TỪ BI

   Khỉ chúa là tiền thân Đức Phật. Vua là A Nan. Khỉ ác độc là Đề Bà Đạt Đa.

29) TRUYỆN BÀI HỌC CỦA NHÀ VUA

   Vua tại Ba La Nại là tiền thân Đức Phật. Người đánh  echo vua là Xá Lợi Phất.

   Vua tại Ko Sa La là A Nan. Người đánh  echo vua là Mục Kiền Liên.

30) TRUYỆN VUA HUNG ÁC

   Hoàng tử con vua là tiền thân Đức Phật. Vua hung ác là Đề Bà Đạt Đa.

31) TRUYỆN DIỀU HÂU HIẾU THẢO

   Diều hâu có hiếu là tiền thân Đức Phật. Thương gia triệu phú là Xá Lợi Phất. Vua là A Nan.

32) TRUYỆN CHÀNG CON KHÔN NGOAN

   Chàng con khôn ngoan là tiền thân Đức Phật.

33) TRUYỆN NGƯỜI ĐẸP TUYỆT TRẦN

   Nhà vua trẻ là tiền thân Đức Phật. Tể tướng trẻ là Xá Lợi Phất. Người lái xe là A Nan. Người đẹp tuyệt trần là Liên Hoa Sắc.

 

_______________

 NHẬN XÉT VỀ “TIỀN THÂN”

 

     Bốn cuốn truyện thơ về “Tiền Thân Đức Phật” của cư sĩ Tâm Minh Ngô Tằng Giao gồm có tất cả là 116 truyện thơ. Cuốn thứ 1 là “Quỷ trong sa mạc” (2004). Cuốn thứ 2 là “Kế hoạch hoàng tử” (2005). Cuốn thứ 3 là “Khỉ và cá sấu” (2006). Cuốn thứ 4 là “Ẩn sĩ khổ hạnh” (2007).

     Qua các câu truyện được kể người đọc nhận thấy Đức Phật trước khi trở thành Phật đã trải qua nhiều kiếp sống trong quá khứ. Trong các tiền kiếp này Đức Phật chỉ là một vị Bồ Tát xuất hiện dưới nhiều vai trò khác nhau, khi là thú vật, lúc là người, lúc lại là các vị thần hoặc chư thiên. Trong các truyện kể thời nhân vật nổi bật nhất, thường đóng vai trò quan trọng và linh động nhất chính là Bồ Tát.

     Khi Bồ Tát là thú vật thời mang thân xác chó, bò, ngựa, nai, dê, khỉ, voi, cá, ngỗng, chim vv…

     Khi Bồ Tát là người thời trong cuộc sống bình thường đã đóng vai nông dân, nhà buôn, thợ hớt tóc, người đánh trống, người bắn cung, người bán sữa, thầy thuốc, thầy dạy học danh tiếng, ông triệu phú, ông phú hộ, người có trí, đệ tử thầy bùa chú v.v… Trong cuộc sống danh giá thời làm tế sư cho vua, quan cố vấn cho vua, đại thần hiền trí của vua, thầy của hoàng tử trong cung vàng. Trong cuộc sống tu hành thời làm thầy tu ở ẩn, thầy tu đắc đạo, thầy tu thiền định, thầy tu khổ hạnh, thầy tu theo tà đạo, thầy tu sư phụ có nhiều đệ tử. Ngoài ra vị Bồ Tát này 8 lần làm hoàng tử, 9 lần làm vua, 5 lần làm vị thần cây và một lần làm vua trời Đế Thích.

     Ðây mới chỉ nói đến 116 truyện trong 4 cuốn truyện thơ trên, chưa đề cập đến các truyện khác còn lại, tổng cộng khoảng gần 550 truyện. Nhưng nhìn chung, chúng ta thấy trong khi một số vai trò trong truyện lộ ra bản chất xấu xa, đầy những tham, sân, si thời vị Bồ Tát vì đóng vai trò tiền thân Đức Phật nên phong cách đạo đức hoàn toàn tuyệt diệu từ lời nói, từ suy tư cho đến việc làm, cách xử thế.

     Khi thì tỏ ra tài trí, khôn ngoan, khi thì có đạo đức và từ tâm, khi thì thật thà, liêm chính rất mực dù Bồ Tát là người đi buôn, người đánh trống, thầy thuốc, thầy dạy học, quan trong triều đình, hoàng tử hay ngay cả lúc chỉ là thú vật như nai, khỉ, dê, chó, ngựa, bò, voi, ngỗng, cá, chim v.v…

     Tâm bố thí, cúng dường được thể hiện dù trong hoàn cảnh nghèo hay giàu, dù khi Bồ Tát là những phú ông, những bậc triệu phú.

     Lòng yêu chuộng đạo mầu, ý chí muốn tu hành giải thoát cũng thường được thể hiện ngay cả khi Bồ Tát đang làm vua đầy sung sướng, đầy quyền uy ở trên ngai vàng. Bất cứ trong vai trò nào thời vị Bồ Tát cũng luôn luôn tìm cách thuyết pháp, truyền bá đạo mầu, giảng dạy điều hay lẽ phải cho chúng sinh nghe để theo đó mà tu tâm dưỡng tánh. Đôì khi Bồ Tát đóng vai ẩn sĩ tu hành bị chao đảo, bị vô minh thoáng hiện trong tâm, lầm lạc theo khổ hạnh, theo tà đạo nhưng rồi cuối cùng cũng giác ngộ và trở lại con đường chân chính.

     Những truyện về tiền thân Đức Phật là một kho tàng văn học được kết hợp hài hòa giữa lời Đức Phật dạy theo truyền thống kinh điển bác học với truyền thuyết cổ tích dân gian phong phú, đa dạng. Rất nhiều chuyện liện hệ đến phép xử thế đạo đức ở đời, nên đã được truyền tụng qua nhiều thời đại và đã vượt biên giới Ấn Độ để lan ra khắp nơi với ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều nền văn học trên thế giới. Các truyện này đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho các hoạt động sáng tác thi ca nhạc kịch, hội họa, điêu khắc v.v… từ ngàn xưa cho đến tận đời nay.

     Thi hào La Fontaine của nước Pháp hồi thế kỷ thứ 17 đã từng nổi tiếng với những “Truyện Ngụ Ngôn” trong đó thú vật thường đóng vai trò chính. Ông “nhân cách hóa” loài vật để cho chúng có thể đối thoại với nhau và qua đó chứa đựng quan niệm sống chân chính. Ông nhắm mục đích nêu cao đạo đức bằng cách dùng loài vật để dạy loài người về cách xử thế sao cho đúng mực, cho hợp với Chân, Thiện, Mỹ. Ông công nhận đã lấy tài liệu, đã tìm nguồn cảm hứng từ những kho tàng cổ tích Hy Lạp, La Mã và Ấn Độ để viết lại thành những truyện ngụ ngôn có tính cách tân kỳ theo óc sáng tạo của mình.

     Mỗi truyện tiền thân thường gồm có bốn phần: phần “truyện hiện tại”, phần “truyện quá khứ”, phần “kết hợp” và một bài “kệ”.

     Phần “Truyện hiện tại” kể một câu truyện được xem là đang xảy ra trong thời Đức Phật còn tại thế, đề cập tới một sự kiện liên hệ đến Phật, Pháp, Tăng hay quần chúng đã làm đề tài bàn luận của Tăng chúng tại chánh pháp đường. Nhân đó, Ðức Phật kể một chuyện quá khứ theo lời yêu cầu của các vị này.  Thí dụ như khi ở tịnh xá Kỳ Viên, có một tỳ kheo khó bảo, không chịu chấp nhận những lời khuyến giáo. Đức Phật bèn hỏi vị này. Tỳ kheo nhận đúng vậy. Đức Phật mới nói tới những tai hại mà hành động này có thể gây ra và Ngài kể lại truyện trong một tiền kiếp, trong quá khứ có liên quan. Truyện này là truyện “Nai Trốn Học” (tập I, truyện 15).

     Phần “Truyện quá khứ” kể một câu truyện từ thời xa xưa có liên hệ đến những nhân vật trong câu truyện hiện tại. Trong truyện quá khứ luôn luôn có sự hiện diện của một vị Bồ Tát trong một vai trò nào đó, vị này là tiền thân của Đức Phật. Dù ở hoàn cảnh nào, Bồ tát luôn thể hiện tài năng trí tuệ hay đức tính tốt đẹp phi thường, đó là mầm mống của trí tuệ vô thượng trong đời cuối cùng của Ngài trước khi thành đạo. Có một hay nhiều bài kệ, khi thì do Bồ Tát nói, khi thì do Đức Phật nói, phần lớn dưới hình thức một bài dạy vđạo đức. Thí dụ trong truyện quá khứ “Nai Trốn Học” nói trên thời chú nai thuở đó không chịu nghe lời thầy dạy, chỉ ham chơi, ham nghịch, thường xuyên trốn học để rồi một hôm bị sa chân, bị mắc bẫy thợ săn, không đường thoát, kết cuộc bị giết banh da, xẻ thịt rất là thảm thương.

     Phần “Kết hợp” là phần liên kết truyện hiện tại với truyện quá khứ. Chỉ rõ sự liên hệ giữa những nhân vật chính trong hai câu truyện, để rồi “nhận diện tiền thân” tức là nói rõ ra rằng “người này”, “sinh vật này” trong truyện quá khứ “là ai” trong truyện hiện tại. Thí dụ trong truyện “Nai Trốn Học” nói trên thời Đức Phật cho biết con nai trốn học trong quá khứ chính là tiền kiếp của tỳ kheo khó bảo trong hiện tại. Nai em gái, mẹ của nai trốn học, là Liên Hoa Sắc. Nai anh đóng vai thầy dạy học trong truyện quá khứ này là Đức Phật trong hiện tại.

     Mỗi truyện tiền thân có một bài “Kệ”. Kệ đó phần lớn do Bồ Tát nói, có khi do Đức Phật nói. Kệ dựa vào câu truyện để đưa ra lời phê bình khi nhận xét những sự việc đã xảy ra, có khi là một lời cảnh cáo những nhân vật trọng yếu, sai trái, có khi là một lời khuyên dạy đạo đức, dựa trên câu truyện đã xảy ra. Nghiên cứu các bài kệ này cũng là một nguồn cảm hứng đặc biệt, và các bài kệ được xem là phần cổ kính nhất của các truyện tiền thân này.

     Với lòng tin tưởng ở luật nhân quả, ở sự luân hồi trong Phật giáo người đọc truyện tiền thân Đức Phật sẽ tự mình rút ra được những bài học thật quý giá để hành xử trong cuộc sống hàng ngày trên bước đường tu tập bản thân: “sống sao cho có đạo đức, nhận thức rõ ràng về mọi ý nghĩ và hành động của mình đồng thời phát triển sự hiểu biết và trí tuệ.”

 DIỆU PHƯƠNG

***

GHI CHÚ:

     Các hình vẽ phụ họa đã được bỏ đi trong nội dung các truyện phổ biến trên website.

***

* Soạn giả không giữ bản quyền.

* Hoan nghênh tái bản

hoặc phổ biến dưới bất kỳ hình thức nào khác.

 

***

LIÊN LẠC: 

giaongo @ msn.com

 

***

 

 

http://www.buddhismtoday.com/viet/truyen/truyenthoTienthanDucPhattap4.htm

 

 


Vào mạng: 28-12-2007

Trở về mục "Truyện Phật giáo"

Đầu trang