Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .

Thiền Sư Duy Lực Khai Thị Khóa Bồi Dưỡng Giảng Sư tại chùa Long Khánh, Tp. Quy Nhơn (Bình Định)

Thích Vân Phong


Phật giáo Việt Nam có trường hợp hết sức đặc biệt; năm 1998 Thiền sư Thích Duy Lực với tư cách là một Thiền sư VN mang quốc tịch Mỹ, đã được Ban Hoằng Pháp Trung ương Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, mời thỉnh làm Ủy viên, được Giáo hội thỉnh giảng tại các Khóa Bồi Dưỡng Hoằng pháp ngắn hạn cho các tỉnh miền Trung tổ chức tại Bình Định, cho các tỉnh Miền Nam tại Văn Phòng 2 Trung Ương Giáo Hội.

 

  Chùa Long Khánh, Tp. Quy Nhơn,

Nay xin trích một đoạn trong khóa Bồi dưỡng Giảng sư tại Bình Định để chúng ta cùng nhau tham khảo:

THIỀN SƯ DUY LỰC KHAI THỊ (13 – 4 – 1999) 
  KHÓA BỒI DƯỠNG GIẢNG SƯ TẠI CHÙA LONG KHÁNH Tp. QUY NHƠN (BÌNH ĐỊNH)

 

 Tâm là cái gì?

Nguồn gốc Phật pháp là tâm, ai cũng nói được, mà chẳng có ai biết, vì chân tâm vô hình vô tướng không có số lượng, mọi người đều sẳn có. Chư Phật nói tâm như hư không vô sở hữu; Ngài Long Thọ là Tổ thứ 14 Thiền tông có giảng trong Trí Độ Luận; Ở trong quyển Phật pháp với Thiền tông, tôi có giải thích.

 Ngài Long Thọ nói: “Tâm như hư không vô sở hữu”. Vô sở hữu là không có hư không, mà dung nạp và ứng dụng, ấy là cái thực dụng. Như bây giờ nhà cửa đất đai, cây cối, núi sông đều phải nhờ vô sở hữu này dung nạp và ứng dụng, nhưng hiện nay, các vị  ngồi đây cũng nhờ vô sở hữu mới có chỗ ngồi.

 Vô sở hữu tức là trống rỗng, Phật pháp nói là Tánh Không, vì trống rỗng mới hiện bày cái dụng. Tâm mình trống rỗng, không bị thời gian không gian hạn chế, nên tất cả vũ trụ vạn vật đều ở trong đó. Nhưng cái thông minh của bộ não làm hạn chế lại, như cái tách bít lại là cái tách chết không dùng được, cái bình nầy cũng vậy, nó có cái KHÔNG mới đựng nước được. Tất cả các thứ muốn dùng đều phải nhờ cái KHÔNG.

 Ngài Long Thọ nói: Trống rỗng mới dùng được, nếu không trống rỗng thì không dung nạp và không dùng được. Như cái tách bị bể thì không còn dùng được, còn hư không trống rỗng thì không bị thời gian, không gian hạn chế. Cái tách bị không gian thời gian hạn chế, nếu cái gì có thể tiêu mất thì không chân thật.

 Có và không là phân biệt của bộ não, vì có và không là nhị biên tương đối, Phật pháp không có tương đối. Trong Trung Quán Luận phá tương đối. Có là pháp hữu vi, không là pháp vô vi. Trong đó phẩm Quán Như Lai, Quán Niết Bàn đều phá pháp vô vi. Quán Nhân Duyên, Quán Khứ Lai,… đều phá pháp hữu vi.

 Phàm có tương đối đều phá. Vì sao lại phá? Vì nó không phải thực tế, thực tế thì không có tương đối; nhưng cuộc sống hằng ngày đều phải nhờ tương đối, cũng như mình hiện giờ ở trong mở mắt chiêm bao.

 Trong biểu đồ Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 (do tôi biên soạn), có 2 bộ phận: Thật thể và hư thể, ở chính giữa là Diệu giác. Diệu giác là cái biết cao nhất. Vừa rồi tôi  nói: Trống rỗng mới dung nạp tức là tánh không, không này chẳng phải cái không chết, không này có cái biết cao nhất của Diệu giác. Cái biết này không phải cái biết của bộ não, cái biết bộ não gọi là vọng tâm. Còn cái biết chuyển thành trí gọi là chân tâm. Thức chưa chuyển thành tứ trí thì nó hợp tác với hệ thống thần kinh bộ não, tức là lục căn gọi là vọng tâm. Cuộc sống hằng ngày ở trong vọng tâm, vì mình ở trong chiêm bao.

 Triết Học, Tự Nhiên Khoa Học, Y Học, Tâm Lý Học; 4 thứ hợp lại giải quyết cơ thể của mình chưa đầy đủ. Tại sao? Vì họ không phân biệt được lục căn, lục thức. Lục căn đảm nhiệm chức vụ gì? Lục thức đảm nhiệm chức vụ gì? Tất cả đều không rõ mà chỉ biết bộ não. Thức thứ 6 và thức thứ 7 thì hoàn toàn không biết, cho nên họ giải thích không thông, như các giáo sư trường đại học, nghi thiếu cái gì nhưng không biết.

 Quyển Vũ Trụ Quan Thế Kỷ 21 giải thích rõ và đầy đủ hơn 4 đại học hợp lại. Duy thức nhà Phật diễn giải thông suốt tất cả. Trong thật thể biểu đồ: Nhãn căn như cây đèn đảm nhiệm sự chiếu soi, nhãn thức thì phân biệt. Tức là nhờ nhãn căn chiếu soi thấy chậu bông thì nhãn thức mới nhận ra màu trắng, đỏ, vàng, xanh; đồng thời có thức thứ 6 để giúp. Nhãn căn chiếu soi hiện cái hình ra, còn nhãn thức phân biệt cái hình gì, thức thứ 6 phân biệt đầy đủ hơn;  nhãn thức chỉ phân biệt cố định, thức thứ 6 có tánh khả biến. Vì tánh khả biến bao gồm tam tánh: Thiện, ác và vô ký.

 Tam tánh gồm có: Biến kế chấp, y tha khởi và viên thành thật. Thiện ác thì người nào cũng biết, nhưng không có rõ, không có tiêu chuẩn. Tôi muốn hoằng dương với người tây phương, nên mới nói có tiêu chuẩn. Thế nào gọi là thiện? Thế nào gọi là ác? Trong cuốn Vũ Trụ Quan có giải thích kỹ.

 Đã nói nhãn căn rồi, thì các căn kia cũng như vậy; chỉ có ý căn nhiều người chưa hiểu; ý căn đảm nhiệm suy nghĩ, còn ý thức theo đó phân biệt thiện, ác… ý căn và ý thức khác nhau.

 Thức thứ 7 có 2 nhiệm vụ:

-Ngày đêm chấp thức thứ 8 là TA (thức thứ 8 là bản thể của vũ trụ, là bao gồm tất cả các chủng tử vũ trụ, cũng là bản thể của tâm mình. Đầu thai đến trước và chết đi sau cùng là do thức này).

-Truyền tống thức: Đem chủng tử thiện nghiệp, ác nghiệp của thức thứ 6 hay không thiện không ác truyền vô thức thứ 8 (còn gọi là tạng thức hay kho tàng), khi nào chủng tử chín mùi, thì nó truyền ra giao cho thức thứ 6 đi thi hành. Cái nào tâm lực mạnh thì cái quả đến trước, cái nào tâm lực yếu thì cái quả đến sau, có khi kiếp này tạo cái nhân, kiếp sau mới nhận cái quả, hoặc là 10 kiếp, 100 kiếp mới nhận cái quả.

 Nếu tu Tổ Sư Thiền, tăng cường sức mạnh của tâm, tức là tạo nhân mạnh thì quả đến liền. Mặc dầu tạo nhân ác nhiều kiếp trước, nhưng nó yếu hơn nên quả đến sau. Ví dụ như tạo nhân là 1 độ, mà tham thiền 10 độ thì quả tham thiền đến trước, đến hết rồi thì tới quả 9 độ, 8 độ, cuối cùng đến quả 1 độ.

 Nếu tham thiền được 10 độ, mà không ngưng tham lại tiến thêm 100 độ, 1000 độ, 1000000 độ cho đến thành Phật thì cái nhân ác không có cơ hội đến được. Thành Phật rồi phải độ chúng sanh nào có nhân duyên. Trong kinh Kim Cang nói: Tiền thân Phật Thích Ca bị Ca Lợi Vương xẻ thân ra từng miếng, mà Phật Thích Ca lại độ ông ấy trước. Ca Lợi Vương sau này là tôn giả Kiều Trần Như.

 Bất cứ chủng tử thiện ác, một khi đã chín mùi thì cái quả mới đến, nhân yếu dời lại sau, nhân mạnh thì đến trước. Cho nên tự mình có thể sửa đổi nhân quả, nhưng người khác không sửa được. Như  ngài Mục Kiền Liên cứu mẹ, ngài đã chứng quả A La Hán được đệ nhất thần thông, nhưng không cứu được cái nghiệp mẹ ngài là bà Thanh Đề; phải nhờ tâm lực của1250 vị Tỳ Kheo A La Hán hợp lại mới chiêu cảm được tâm bà Thanh Đề, rồi tâm bà tự chuyển ra khỏi cõi ngạ quỷ.

 Nhân quả là vậy! Ai ăn người nấy no, con cái có hiếu không ăn no dùng cho cha mẹ, cha mẹ thương con cách mấy cũng không ăn no giùm cho con.

Hỏi:
 Thiền là một pháp môn tương đối khó thực hiện trong hiện tại, vậy cúi mong Hòa thượng dạy cho phương pháp dễ thực hiện nhất, mà vẫn đạt như sở nguyện?

Đáp:
 Phương pháp Tổ Sư thiền rất dễ tu, chỉ hỏi câu thoại và nhìn thọai đầu. Tham là hỏi câu thoại, để kích thích lên một niệm không biết; khán là nhìn, nhìn chỗ không biết, nhưng chỗ không biết thì không có chỗ, không có chỗ thì không có mục tiêu để nhìn, không có mục tiêu để nhìn, thì nhìn mãi không thấy gì vẫn còn không biết; chính vẫn còn không biết đó, Thiền tông rất chú trọng gọi là nghi tình, tức là cái không biết; hỏi và nhìn, hai cái song song đi một lượt, vừa nhìn để giữ cái không hiểu không biết, tức là nghi tình để đưa hành giả đến thoại đầu, rồi kiến tánh thành Phật.

 Ví dụ chỗ trên cây viết là thoại đầu, ở dưới là thoại vỉ. Bắt đầu hỏi và nhìn là rời khỏi thoại vỉ, nhưng chưa đến thoại đầu là đang đi ở giữa đường. Vì mục đích của mình là muốn đến thoại đầu, cho nên gọi là tham thoại đầu hay khán thoại đầu.

 Phật Thích Ca dạy dùng không biết của bộ não, để chấm dứt cái biết của bộ não. Tất cả biết bộ não chia ra làm 3 bộ phận: Tìm hiểu biết, ghi nhớ biết và suy nghĩ biết. 3 cái biết này hết thì sẽ đến thoại đầu, Thiền tông gọi là đầu sào trăm thước, có người dịch là đầu sào trăm trượng, chỗ này cũng gọi là nguồn gốc của ý thức, ngài Nguyệt Khê Thiền nói là vô thỉ vô minh, tức là căn bản vô minh.

 Tại sao còn có vô minh? Vì còn không biết của bộ não, nên sát na cuối cùng của đầu sào trăm thước tiến lên một bước lìa khỏi ý thức, thì biết và không biết của bộ não đều sạch, cái biết Phật tánh hiện ra khắp không gian và thời gian.

 Khắp không gian tức là trống rỗng nên gọi là tánh không, khắp không gian không có khứ lai nên gọi là Như Lai. Khắp thời gian không có gián đoạn, chẳng có sanh diệt nên gọi là Niết Bàn. Vì không sanh không diệt nên trống rỗng, không có chỗ trụ gọi là vô sở trụ. Lục Tổ Huệ Năng nghe Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn giảng Kinh Kim Cang đến câu: “Ưng vô  sở trụ, nhi sanh kỳ tâm” rồi ngộ triệt để.

 Cái tay nắm mở, muốn lấy gì cũng được gọi là hoạt bát vạn năng, vì nó không có trụ, tức không nắm hẳn một nắm tay cố định. Nếu nắm hẳn lại thì cái hoạt bát vạn năng bị mất, không thể cầm lấy cái gì nữa.

 Cái không biết của nghi tình là cái chổi tự động quét tất cả biết và không biết của bộ não, khôi phục hoạt bát vạn năng của bản tánh, nên sử dụng việc gì cũng thông. Như cái tay tự làm nắm tay, thì trụ nơi nắm tay cũng không lấy cái gì được, nên không trụ nơi nắm tay, mới có được hoạt bát vạn năng, muốn lấy gì cũng được.

 “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”, ưng là nên, vô sở trụ là không có chỗ trụ. Sanh kỳ tâm là cái dụng, tức muốn dùng phải vô sở trụ, nếu có trụ thì không dùng được; mặc dù trụ nơi có, trụ nơi không, hay bất cứ trụ nơi nào đều không được; như trụ nơi Phật, trụ nơi Bồ Tát đều bị chướng ngại, không được hiện ra cái dụng hoàn toàn.

Hỏi:
 Lục căn tiếp xúc lục trần, làm sao lục thức không bị đắm nhiễm?

Đáp:
  Tông Tịnh Độ lấy Ngài Đại Thế Chí  trong kinh Lăng Nghiêm làm gương mẫu, có nói “thâu nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục”. Nếu nhiếp được nhãn căn không phân biệt tốt xấu, vì thấy tốt ham thích, thấy xấu chê bai; nhiếp được nhĩ căn thì không phân biệt tiếng hay dở, khen không mừng, chê cũng không tức giận.

 Nhiếp được lục căn thì tịnh niệm mới được tương tục. Tức là niệm trong sạch không có niệm nào khác. Nếu nhiếp không được thì có tương đối, có lúc thương ghét, ham thích, khen chê. Vậy làm sao có niệm trong sạch được! Tất cả các pháp môn tu đều như vậy.

 Tham thiền giữ cái không hiểu không biết thì đã nhiếp được lục căn. Không biết tốt thì không ham thích, không biết xấu thì không chê. Nếu dùng cái biết để tu thì khó hơn, dùng cái không biết để tu thì dễ hơn. Cái không hiểu không biết gọi là pháp Thiền trực tiếp.

 Có người hỏi tôi: Nếu dùng cái không biết để tu tới thoại đầu thì sắp kiến tánh, có phải sắp biết không?

 Tôi nói: không phải, không được nói là sắp biết.

 Người ấy hỏi: Nếu không được nói là sắp biết, như vậy có giống như gỗ đá không?

 Tôi nói: Cũng không phải, vì cái biết chơn tâm không bao giờ ngưng, nếu có ngưng rồi trở lại biết thì nói là sắp biết được. Nó không bao giờ ngưng, làm sao nói là sắp biết! Người đó không hiểu, vì cứ dùng bộ não, làm sao biết được chơn tâm?

 Tôi đổi lại câu hỏi: Trời gần sáng thì mặt trời sắp chiếu, vậy có được không? Không được,  không được nói mặt trời sắp chiếu! Tại sao? Vì mặt trời có ngưng chiếu hồi nào, mà nói mặt trời sắp chiếu! Trời sáng, mặt trời đâu có bắt đầu chiếu. Bây giờ nó cũng đang chiếu, vì không thấy mặt trời là do bị trái đất hay mây đen che khuất, đâu phải nó bị ngưng chiếu!

 Cái biết chân tâm của mình cũng vậy, nó không có ngưng biết, vì bị che khuất bởi biết và không biết của bộ não. Cho nên, Phật dùng phương tiện không biết của bộ não, để dẹp cái biết che khuất của bộ não thì mới đến thoại đầu. Chứ không phải cái biết của chân tâm bị ngưng, nếu cái biết chơn tâm bị ngưng thì bị sanh diệt luân hồi, kiến tánh thành Phật đâu có ích lợi gì!

 Bản tâm của mình không có sanh diệt, nên Phật gọi là vô thỉ (không có bắt đầu) cũng là nghĩa vô sanh (không có sự sanh khởi). Nếu có sự sanh khởi là có sự bắt đầu. Vậy, người chứng quả là ngộ pháp vô sanh hay chứng vô sanh pháp nhẫn.

  Theo lý toán học không có con số nhỏ nhất và cũng không có con số lớn nhất, các nhà giỏi toán cũng biết không có con số nhỏ nhất, vì đem chia mãi không có hết.

 Trong quyển toán học của Hồng Kông nói: Con sâu dép cỏ nhỏ bằng một đơn tế bào, cách ngày đêm nó sanh ra làm hai; như ngày nay 1 con, ngày mai thì 2 con, ngày mốt thì 4 con… cứ như thế trải qua 90 ngày đêm thì thể tích bằng một mét khối, cho đến 130 ngày đêm thì thể tích bằng quả địa cầu, nếu một ngày nữa thì 2 quả địa cầu.

 Ngược lại, đem quả địa cầu xẻ ra, xẻ đến 130 ngày đêm thì khôi phục con sâu dép cỏ. Nếu lấy toán học đem con sâu xẻ thêm 130 lần nữa, thì thịt con sâu mình có thể biết không? Cứ theo toán học như vậy mà đến trăm lần 130, ngàn lần 130, nhưng vẫn thấy con số để biểu thị thịt con sâu dép cỏ. Nhưng thực tế còn có thịt con sâu dép cỏ đó không? Có chia nữa thì con số vẫn còn mãi.

 Nếu đem con sâu đó làm đơn vị 1, thêm trước số 1 là số “0.” thì nó nhỏ 10 lần, rồi thêm số 0 sau “0.” thì nhỏ thêm 10 lần nữa, cứ thêm như thế, dài bằng một quả đất, hai quả đất… con số cứ nhỏ nhưng không có hết.

 Cái gì nhỏ nhất có thể dùng kính hiển vi mới thấy được. Giả thiết khoa học cải tiến kính hiển vi, còn nhanh hơn mình thêm con số 0 thì cũng có thể nhìn thấy thịt con sâu đó. Nhưng thịt con sâu đó chưa phải thực tế. Tại sao? Vì còn phân chia được nữa.

 Vậy, biết định lý toán học không thể tìm sự bắt đầu. Nên Phật nói: “Vô thỉ, bất khả đắc” gọi là vô sanh. Nhà khoa học dùng toán tìm sự bắt đầu của sanh mạng và vũ trụ, có phải si mê không? Nói nhà khoa học si mê thì không có được. Vì khoa học tạo hạnh phúc cho con người.
 
 Hỏi:
 Mấy mươi năm thực hành thiền, Hoà thượng có tâm đắc điều gì của mình và có suy nghĩ gì sự truyền bá trong giai đoạn phát triển của xã hội, có thuận nghịch gì không?

Đáp:
 Vì sự hoằng pháp cũng làm sự chướng ngại việc tu của tôi. Tại sao? Vì bắt đầu ra hoằng Tổ Sư thiền, người ta hỏi tôi thì tôi phải biết. Nếu tôi không biết thì sao người ta tin tôi được! Bất cứ người ta hỏi cái gì thì tôi phải biết. Bây giờ, tình hình xã hội kinh tế… tôi phải biết, chính cái đó làm chướng ngại việc tu. Đã dùng cái không biết để tu, mà lại dùng cái biết mãi, vậy làm sao không bị chướng ngại?

 Nhưng tôi hy vọng các vị kiến tánh trước tôi, như trong Thiền tông có: Ngài Thần Tán kiến tánh, mà thầy của ngài chưa kiến tánh. Nên thầy của ngài xin làm đệ tử ngài.

Thích Vân Phong trích lục

(Trích từ nguồn www.thuvienhoasen.org)

 

http://www.buddhismtoday.com/viet/phatphap/khaithi.htm

 


Vào mạng: 02-8-2009

Trở về mục "Đức Phật và Phật pháp"

Đầu trang