Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .
Bước Sen
Nữ Tu & Cư Sĩ Phật Giáo:
Cuộc Sống,Tình Yêu & Thiền Định
                                   
Walking On Lotus Flowers
Buddhist Women:  Living, Loving and Meditating
 
 
Tác Giả:   MARTINE BATCHELOR
 
Biên Tập Viên:  Gill Farrer-Halls
 
Việt Dịch:  Diệu Ngộ -Mỹ Thanh
Diệu Liên-Lý Thu Linh

 

Kính Tặng Mẹ Tôi:    LEA FAGES

(Martine Batchelor)

 

Mục Lục

Lời tri ân

Lời giới thiệu

Lời người dịch    

PHẦN I       THIỀN LỘ

 

Chương 1                                       Khoảng Lặng

Chương 2                                       Hành Trình Về Thiền

Chương 3                                       Ly Đã Bể

Chương 4                                       Căn Bản Thiền

Chương 5                                       Bình An & Tĩnh Lặng

Chương 6                                       Bước Sen

 

     PHẦN II                        LUYỆN TÂM

 

Chương 7                                       Nước Và Sóng

Chương 8                                       Tu Tập Giải Thoát

Chương 9                                       Con Đường Chuyển Hoá

Chương 10                                     Cánh Cửa Giải Thoát

 

     PHẦN III                             CUỘC SỐNG ĐẦY SÁNG TẠO

 

Chương 11                                     Khám Phá Ánh Sáng

Chương 12                                     Phấn Đấu Đến Giải Thoát

Chương 13                                     Thiền & Hội Họa

 

     PHẦN IV        HÀN GẮN THẾ GIỚI

 

Chương 14                                     Hoa Tâm Thức

Chương 15                                     Đôi Mắt Là Ngọc Quý

Chương 16                                     Ai Chữa Lành?

Chương 17                                     Phật Pháp Trong Đời Sống Gia Đình

 

 

Lời Tri Ân

    Tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các nữ tu và cư sĩ Phật giáo  góp mặt trong quyển sách nầy về sự hỗ trợ, trí tuệ cũng như lòng ưu ái của họ.  Tôi mang ơn sâu xa đối với tất cả quý tăng ni và giới cư sĩ đã tử tế giúp đở tôi trong các chuyến đi thu thập các tài liệu, thông dịch, và tìm chổ trọ.  Đặc biệt tôi muốn nhắc đến gia đình Koo, Oâng và Bà Dodds, Paul và Suil Jaffe, Chatsumarn Kabilsingh và Sheryl Keller.  Xin cảm ơn Suan Blake vì sự nhiệt tình biên tập của bà trong những gia đoạn khởi đầu, cảm ơn cô Gill Farrer-Halls về tài năng của cô, niềm vui đã được cùng cô làm việc, cũng như Liz Puttick ở nhà xuất bản Harper Collins về sự nhiệt tình hỗ trợ của  cô.  Cuối cùng tôi cũng xin cảm ơn chồng tôi, Stephen, vì đã thương yêu, giúp đở, ủng hộ tôi trong suốt quá trình thực hiện quyển sách nầy.

    Quyển sách nầy cũng sẽ không được thành hình nếu không có sự tài trợ rộng rãi của Korea Foundation (Quỹ Hỗ Trợ Đại Hàn), Spalding Trust (Quỹ Spalding)  và Hội Sinh Thái & Văn Hóa Quốc Tế (International Society for Ecology & Culture).

 Lời Giới Thiệu

   Làm sao tôi có thể hành thiền khi quá bận rộn với công việc và gia đình?  Làm sao tôi có thể phối hợp hoạt động với ngồi yên một chỗ?  Có các nữ tu sĩ không?  Có thể tìm được các nữ đạo sư trong Phật giáo truyền thống không?

   Là người dạy thiền, và cũng từng là nữ tu sĩ, tôi đã thường được nghe những câu hỏi như thế không biết bao nhiêu lần.  Vì thế tôi quyết định soạn một quyển sách dựa trên những kinh nghiệm sống của các phụ nữ đương thời, đê” bạn đọc thấy rằng hành thiền có thể ảnh hưởng đến nhiều cách sống, nhiều hoạt động của chúng ta như thế nào.  Thật vậy, tôi đã khám phá được nhiều vị ni, nhiều nữ cư sĩ đức độ trong thời hiện đại.

   Từ lúc khởi ý đến khi hoàn thành quyển sách là một cuộc hành trình dài dẵng.  Tôi phải tự nhủ rằng mình có thể làm được điều đó và có thể tìm được nguồn tài trợ để điều đó có thể thành hiện thực.  Tôi đã viết thư đến hai tổ chức tài trợ lớn, nhưng không có kết quả gì, tôi đành bỏ cuộc.  Rồi bỗng nhiên, sau một thời gian dài, cả hai tổ chức đều chấp nhận hỗ trợ, cộng thêm sự hổ trợ của một tổ chức khác nữa.  Tôi thật bàng hoàng; vậy là tôi phải thực hiện thôi!

   Những chuyến đi từ ngay nơi gần gủi, nơi tôi đã phỏng vấn các phụ nữ Tây phương, cho đến tận những nơi gốc rễ của Phật giáo như ở Đại Hàn, Nhật, Đài Loan và Thái Lan.  Tôi vừa ngạc nhiên, vừa phấn chấn với những gì thâu thập được từ bao cảnh đời.  Một số phụ nữ tôi đã được biết, và đã liên lạc trước đó, nhưng tôi cũng được gặp thêm rất nhiều người đến nỗi tôi không biết phải chọn lựa ai vào quyển sách nầy.  Tôi đã có 40 cuộc phỏng vấn, với tất cả những người phụ nữ thật đặc biệt, nhưng vì giới hạn của quyển sách, tôi chỉ có thể chọn 18 người dựa vào sự quyết định của các cuộc phỏng vấn.  Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, họ là tiếng nói chung cho tất cả.

   Khi phỏng vấn các vị nầy, tôi giống như một người sơ cơ, hỏi những câu hỏi đơn giản, thực dụng, phổ thông.  Có những cuộc phỏng vấn bằng tiếng Anh, dễ thực hiện nhất.  Nhưng cũng có nhiều cuộc bằng tiếng Hàn Quốc; hy vọng là công tác dịch thuật của tôi có thể phác hoạ được con người sau những lời nói ấy.  Những cuộc khác lại được ai đó dịch từ tiếng Nhật, Trung Hoa hay Thái.  Mỗi chương là một câu chuyện, với những lời chỉ dẩn về thiền bằng những lời nói riêng và những chứng nghiệm của riêng từng vị.

   Gặp gở các vị nữ tu và cư sĩ Phật giáo nầy là một quá trình học hỏi mà nó càng phát triển thêm khi tôi thực hiện các cuộc phỏng vấn, rồi dịch thuật, ghi chú, đánh máy, và biên tập.  Tôi chưa hề cảm thấy mệt mỏi, chán nản vì các câu chuyện tràn đầy sức sống và trí tuệ; thật là những câu chuyện tuyệt vời.  Tôi vẫn tự nghĩ không biết mình có được sự can đảm và tín tâm của Sư cô Ani Tenzin Palmo khi phải đối mặt với các cơn bão ở Hy Mã Lập Sơn, hay có được sự bình tâm chấp nhận của Ni Sư Ayya Khema khi đối đầu với căn bịnh ung thư.

   Tôi vẫn luôn thán phục Haeju Sunim, người đã nói rằng tất cả chúng ta là Phật, nên cách sống duy nhất là phải thể hiện lòng từ bi và trí tuệ của một vị Phật; không cần phải đợi đến lúc khác, ở một khoá chuyên tu khác hay một kiếp sống khác.   Tôi vẫn còn tán dương Sư Bà I Tsao Fashih, người đã cố gắng thuyết phục tôi cầu nguyện được tái sinh vào cõi Tịnh độ.  Bà đã nhận thấy tôi không sốt sắng, nhưng vẫn vui vẻ, bao dung, ý nhị đến nỗi khi chia tay bà, tôi có cảm tưởng như chính mình cũng có thể bước trên những cánh hoa sen, và cuộc đời như thế sẽ tuyệt vời làm sao!

   Tôi vẫn còn thấy buồn cười vì sự bình tâm của Maechee Pathomwan đối với con rắn trên đùi, so sánh với sự sợ ma của bà.  Tôi kinh ngạc về sự tưởng tượng siêu thực của Yahne Le Toumelin.  Tôi cảm động với sự giản đơn của họa sĩ thiền Okbong Sunim, và lòng từ bi của Jonmok Sunim, một nữ tu làm DJ và cũng là một cán bộ xã hội.

   Một số họ có những kinh nghiệm giống tôi.  Giống như Sư Chân Không, tôi cũng được bảo hãy cầu nguyện để được tái sinh làm người nam; giống như Sư, tôi coi đó là lời khuyên vô nghĩa, dầu người khuyên có vì lòng từ hay người đó có là bậc thánh hay bậc chứng đắc.  Nhưng chúng ta đừng quên rằng Đức Phật thật là cấp tiến khi Ngài bảo rằng mọi người đều bình đẳng trong giác ngộ.  Quyển sách nầy càng chứng minh thêm quan điểm của Đức Phật khi nó giới thiệu những người phụ nữ đã làm chủ được con đường tâm linh của mình và khi trình bày ở đây một cách tổng quát về các chứng quả trong thiền định.

   Khá nhiều sách đã được viết về phụ nữ và Phật giáo từ cái nhìn của nữ giới, của tâm lý xã hội, tôn giáo, văn hoá hay lịch sữ.  Tôi muốn trình bày vấn đề nầy dưới một khía cạnh khác, dưới cái nhìn của các chứng quả trong thiền định, trong cuộc sống hằng ngày.  Một vài phụ nữ trong quyển sách nầy đã đi tiên phong trên các diễn dàn ở Tây phương, như là Ni Sư Ayya Khema và bà Christina Feldman.  Nhưng tôi muốn hiểu rõ về cách sống thực sự của họ hơn là những ý tưởng của họ; là những người con Phật, họ đã sống mỗi ngày như thế nào?  Đạt được một tầng chứng nghiệm nào đó, điều đó có nghĩa gì đối với họ, là những phụ nữ tu theo Phật giáo?

   Ở phương Đông, khi tôi nói về đề tài phụ nữ và Phật giáo hay tăng và ni, các ni cho rằng họ cảm thấy bình đẳng.  Myongson       Sunim, thí dụ, nói rằng tăng và ni là hai cánh của một con chim –chim cần cả hai cánh mới có thể bay được.  Thực vậy, nhìn về các chứng quả của họ, họ đã bình đẳng, đạt được những gì mà người nam hay các tăng đạt trong cùng một hoàn cảnh hay một phương pháp tu.  Ngay cả trong các điều kiện có vẻ khắc nghiệt đối với họ, như ở Thái Lan, điều đó cũng không cản trở được Maechee Pathomwang trở thành một nữ tu sĩ, rồi tu tập thực hành để trở thành một vị thầy khả kính.

   Tôi cần nói đôi điều về vai trò của ni giới trong Phật giáo.  Điều đó thay đổi tuỳ theo điều kiện xã hội, lịch sữ ở mỗi nước, và khó thể nói hết ở đây.  Tôi xin tóm tắt vài điểm:  Ni giới ở Hàn quốc bình đẳng khoảng 90% với tăng, ở Nhật 60 phần trăm, Đài Loan 85 phần trăm, Thái 15 phần trăm, Tây Tạng 45 phần trăm.  Thí dụ, ni giới ở Hàn quốc thọ đại giới với 338 giới luật, trong khi ở Thái, các ni hầu như không thọ đại giới, với chỉ tám hay mười giới cấm.

   Không ngạc nhiên gì khi ni giới ở Hàn quốc được ủng hộ hơn, có nhiều cơ hội được học hành, huấn luyện.  Nhưng điều gây ấn tượng và tạo lòng tin trong tôi, là dầu các điều kiện có khó khăn, tệ hại đến thế nào, các vị nữ tu và cư sĩ Phật giáo mà tôi đã gặp đều có thể chuyển hoá hoàn cảnh, sống một cuộc đời tràn đầy ý nghĩa, trở thành các vị thầy bằng chính sức lực của mình, như Maechee Pathomwan ở Thái Lan hay Pang Kwihi, một tiểu thuyết gia bị bại liệt ở Hàn quốc.

   Tôi đã cố gắng thu thập nhiều truyền thống Phật giáo để giới thiệu khá nhiều phương pháp thiền, và tôi đã tìm được khá nhiều phương pháp và tiềm năng của chúng.  Con đường Phật giáo có nhiều ngã; ai cũng có thể tìm được điều gì đó cho mình trong Phật giáo.  Tuy nhiên, có một mẫu số chung xuyên suốt quyển sách đó là chánh niệm, là một sự tỉnh thức đầy sáng tạo, mà nếu biết áp dụng, biết vung trồng sẽ giúp ta nhìn sự việc rõ ràng hơn, chuyển đổi được con người ta, cách ta sống.

   Cuộc đời của những người phụ nữ nầy gửi đến chúng ta một thông điệp rằng hãy tin ở chính mình, tin ở khả năng của mình, dầu ta là nam hay nữ, vị trí xã hội cao hay thấp, mạnh khoẻ hay khuyết tật.  Thông điệp đó là chúng ta không thể làm gì hơn là hãy cố hết sức mình.  Những phụ nữ nầy đã làm tôi cười, tôi khóc và nghĩ ngợi; họ khiến tôi hiểu hơn, rộng vòng tay hơn với những khả năng bất tận mà cuộc đời có thể mang đến trên con đường tâm linh.  Tôi mong rằng họ cũng mang đến cuộc đời của bạn những điều tương tự.

 

Lời  Người Dịch

   Theo lời giới thiệu của tác giả, bà Martine Batchelor, quyển Bước Sen (Walking On Lotus), là những câu chuyện về các nữ tu và cư sĩ Phật giáo.  Quyển sách có 18 chương là 18 câu chuyện của nhiều số phận khác nhau, nhưng có cùng một mẫu số chung là tất cả đã tìm được hướng đi trong cuộc đời mình, đó là Phật đạo, là con đường đưa đến giải thoát, giác ngộ.  Mặc dầu chúng ta có thể không tu theo phương pháp của các nữ tu sĩ nầy, hoặc giả chúng ta có thể không đồng quan niệm với họ về giới luật hay gì đi nữa, chúng ta cũng sẽ tìm thấy ở đây những tấm gương tu học sáng ngời, đáng để người đọc noi theo.  Trong bản Việt dịch, chúng tôi quyết định không dịch chương thứ 17, vì đề tài có thể chưa thích hợp với đọc giả Việt Nam, mong bạn đọc thông cảm.

   Đây là quyển sách dịch chung sức đầu tiên của tôi và người cháu, Diệu Ngộ-Mỹ Thanh.  Diệu Ngộ-Mỹ Thanh và tôi cũng có những duyên nghiệp đặc biệt.  Lúc 6, 7 tuổi, cháu đã  theo tôi xuống Saigon trọ học.  Tôi như người mẹ trẻ của cháu.  Rồi cô cháu xa nhau.  Đến khi hội ngộ ở xứ người, thì cháu đã không nhận ra cô.  Không biết bằng cách nào, cháu và cô đều tìm được con đường đến với Phật pháp, mỗi người theo cách riêng của mình.  Chỉ biết là gần đây lên các website hay đọc các tạp chí Phật giáo, tôi đã ngạc nhiên thấy tên cháu ở cuối một số bài dịch.  Ngạc nhiên vì cứ ngỡ là vốn tiếng Việt của cháu rất hạn chế, nói chi đến danh từ Phật học.  Thật là duyên lành.  Quyển sách dịch nầy thành tựu là kết quả của duyên lành đó.  Mong rằng nó sẽ là hạt giống giúp chúng tôi dù sinh ra ở đâu, cũng luôn được biết đến Phật pháp.  Mong là nó góp được chút sức vào công việc giới thiệu với bạn đọc, các đạo hữu, những tấm gương tu học sáng ngời.

   Dĩ nhiên, với sự hiểu biết hạn chế về Phật pháp, cũng như một số đề tài chuyên môn mà một số tác giả đã viết – như chương 11, về hội họa- chúng tôi không tránh khỏi nhiều sơ sót.  Mong nhận được sự chỉ giáo, hướng dẩn của các bậc tôn sư, thiện hữu tri thức.

   Quyển sách nầy được ấn tống với sự hùn phước của nhiều đạo hữu, bạn bè, thân quyến.  Chúng con kính cẩn kê đầu đảnh lễ tạ ơn chư Phật đã tạo điều kiện, phước duyên để Phật sự nầy được viên thành.

Diệu Liên-Lý Thu Linh

4/2005

  

Thiền Lộ

 

Chương 1

 Khoảng Lặng

 

Ani Tenzin Palmo

 

   Ani Tenzen Palmo sinh năm 1943 tại Anh.  Năm 1964, bà sang Ấn Độ và đã ở lại đó tổng cộng 24 năm.  Bà đã trãi qua 6 năm ở  Dalhousie trong tu viện của Thầy bổn sư, và 18 năm ở Lahul (gần Ladakh, phía Bắc Ấn Độ, vùng Hy Mã Lạp Sơn), trong đó có 12 năm nhập thất trong một hang núi, trước khi trở lại Âu châu để sống ở Assisi, Ý, năm 1988.  Dầu bản chất thích sống ẩn dật, nhưng bà Ani Palmo là người rất vui tính, thẳng thắng, cởi mở khi tiếp xúc với người khác.

 

Bắt Đầu Từ Chỗ Của Bạn

   Ai cũng phải bắt đầu từ một nơi nào đó.  Không ai trên thế gian nầy có thể bắt đầu ngồi xuống tọa thiền ngay.   Người Tây phương thường có quan niệm sai lầm là người Á châu chỉ cần ngồi xuống là mọi việc sẽ tuần tự xảy ra một cách hoàn hảo.  Sự thật thì không phải vậy, tôi đã hỏi nhiều thiền sinh và các vị lạt ma về điều nầy.  Tất cả đều cho biết lúc khởi đầu khó khăn thế nào, họ đã phải khổ công tu tập như thế nào.  Vì thế chớ nên sớm nản lòng.

   Nếu tâm bạn còn quá nhiều phiền não, bạn sẽ thấy rất khó định tâm lúc bắt đầu.  Có nhiều con đường khác nhau để xuất phát, bởi nhiều phương cách hay bằng cách quán nội tâm.  Điều quan trọng là: đừng nghĩ rằng bạn chỉ rèn luyện tâm khi ngồi trên chiếu thiền.

 

Thực Tập Từng Phút Giây

  Người Tây phương thường nản chí vì cảm thấy họ không có thì giờ để thực hành.  Họ luôn nói: “Chúng tôi phải làm việc, chúng tôi không có thời gian ngồi thiền”.  Họ nghĩ rằng chỉ có thể thực hành khi ngồi tụng niệm hay khi thực tập thở ra hít vào.  Không đúng như thế.  Thực tập là việc ta phải làm trong từng phút giây, suốt cả ngày.  Đó là cách bạn tiếp xúc với người khác.  Cách bạn uống trà, cách bạn làm việc và cách bạn cảm nhận được những phản ứng nội tâm với mọi sự.  Đó là sống một cách tỉnh thức.  Phần đông chúng ta sống trong trạng thái của người mộng du.

   Thực tập là (bà búng ngón tay) sự tỉnh thức, phát triển trí tuệ, sáng suốt, đồng thời cũng thương yêu, tử tế, quan tâm đến người khác.  Nhưng ta không chỉ tử tế đối với tất cả chúng sanh trong mười phương, như trong lời nguyện cầu, mà thực tế là phải tử tế với những người ở bên cạnh ta như chồng, như vợ, con cái, đồng nghiệp, người hành khách ta gặp trên xe buýt, hay bất cứ một ai.  Bạn nên biết là họ cũng khổ như ta.  Vì thế một nụ cười, một cử chỉ tử tế có ý nghĩa biết bao đối với họ.  Đó là thực tập.

 

   Không phải là bạn đã niệm được bao nhiêu câu kinh, điều đó không quan trọng.  Thật là sai lầm khi người ta nghĩ là phải nhập thất cho lâu, hay phải thực hiện hằng triệu thứ thực tập khác nhau mới đạt được điều gì.  Sự thực tập chân chính của Bồ Tát đạo không liên quan nhiều đến những điều đó, mà quan trọng là cách chúng ta sống, đối xử với mọi người quanh ta.

 

   Hằng ngày, tôi thực tập quý trọng mọi người, không kể họ là ai, tuổi tác thế nào.  Mọi người đều xem mình quan trọng.  Chúng ta phải coi trọng điều đó.  Tôi cũng cố gắng để người khác có thể là họ, mà không phán đoán, đánh giá họ. 

 

   Mỗi người đều đặc biệt, có cá tính riêng trong cách của họ.  Giống như trong một vũ điệu, mà mỗi người đều có điệu nhảy riêng.  Hay như trong một dàn nhạc giao hưởng, mỗi người sử dụng một nhạc cụ riêng, với tiết tấu riêng của mình.  Người ta không phải hành động theo một mẫu mực nào đó; họ có quyền tự do được là họ.

 

   Tôi thích có những lúc được ở một mình, nhưng không phải vì tôi không thích tiếp xúc với người khác.  Chỉ vì trong tĩnh lặng, tôi tìm thấy sự hòa đồng cũng vũ trụ.  Tôi không bỏ quên thế giới bên ngoài.  Ngược lại, chính nhờ  có những khoảng thời gian một mình, tôi cảm thấy cởi mở hơn với người khác, cảm nhận được sự có mặt của người khác.

 

‘Bạn Là Một Kagyupa’(1)

 

   Tôi trở thành một Phật tử năm 18 tuổi và bắt đầu tu tập ở Luân Đôn từ đó.  Sau 6 tháng, tôi gia nhập hội Xã Hội Phật giáo.  Họ có lớp cơ bản Phật giáo và lớp thiền.

 

   Lúc bắt đầu tôi theo Nguyên thủy, tu tập ở Sinhalese Vihara.  Lúc đó, bạn hoặc là tu theo Nguyên thủy hoặc là Thiền tông.   Phật giáo Tây tạng bị xem là không có phẩm chất, thấp hèn, với các phép thuật ma quái, những cách thể hiện dục tình kỳ quặc – tóm lại tuyệt đối không phải là Phật giáo, nên dứt khoát là tôi không muốn dính dáng gì đến.  Nhưng một ngày kia, tôi đã đọc một quyển sách, đến phần cuối có đoạn ngắn nói về Phật giáo Tây tạng như sau: “Ở Tây tạng có bốn tông: Nyingmapa, Sakyapa, Kagyupa và Gelugpa”.

 

   Khi đọc đến đó, bên trong tôi như có tiếng nói: “Bạn là một Kagyupa”.  Tôi không biết khám phá nầy có ý nghĩa gì, nên đã hỏi một người thông thái về Phật giáo Tây tạng, “Kagyupa là gì?”  Cô bạn bảo tôi đọc Milarepa, rồi cô trao cho tôi một quyển sách dịch của Evans-Wentz về cuộc đời của Mila.  Sự kiện đó đã thay đổi hoàn toàn cái nhìn của tôi.  Tôi nhận ra rằng mình phải tìm một vị thầy, có nghĩa là tôi phải đi Ấn Độ.

 

   Khoảng thời gian đó, ngài Chogyam Trungpa Rinpoche đã có mặt cùng với Akong Rinpoche từ Ấn Độ, và ông đã hướng dẫn tôi tu thiền.  Một ngày, ông bảo tôi: “Có thể Cô khó tin điều nầy, nhưng ở Tibet, tôi cũng là một lạt-ma có tiếng.  Tôi không hề nghĩ sẽ đến nơi đây, nhưng tôi có thể dạy thiền cho Cô không?  Tôi phải có một đệ tử chứ”.

   Tôi trả lời không có vấn đề gì đối với tôi, thế là ông bắt đầu dạy tôi thiền.  Đó là phương pháp Mahamudra, ngồi xuống, để tâm thư giãn, rồi quán sát các vọng tưởng đến rồi đi.

 

Mahamudra (2)

 

   Phương pháp Mahamudra rất đơn giản, và có lẻ đó chính là cái khó của phương pháp nầy.  Căn bản phương pháp nầy chỉ việc là ngồi xuống với tâm thư giãn, đồng thời giữ tâm rất chánh niệm, tỉnh giác.  Bạn chỉ thực tập nhận biết các vọng tưởng khi chúng đến rồi đi, mà không cố gắng phát khởi, ngăn cản hay chạy đuổi theo chúng.  Bạn chỉ biết sự có mặt của chúng.  Bản chất của tư tưởng là trong sáng.  Một khi sự thực tập đã được phát triển, các vọng tưởng sẽ thưa dần, vì tâm được thư giãn.  Khi các vọng tưởng đã thưa nhạt, khi sự tỉnh giác của bạn ở cao điểm, ở khoảng giữa của hai tưởng, bạn có thể bắt  gặp được một sự thanh tịnh ở giữa và sau các vọng tưởng.  Sự trong sáng cực độ nầy là không gian bao la, sự tỉnh giác, bản tâm chân thật.

   Bạn có thể chỉ thực hành duy nhất phương pháp Mahamudra.  Cần có một vị thầy uyên thâm cạnh bên, vì ta dễ đi bị dẫn dắt đi lang thang, lúc đó cần có người chất vấn ta: “Cái gì đã xảy ra?  Như thế nào?  Có giống như thế nầy hay thế kia?”  Điều đó giúp cho sự thực hành của ta được định hướng, rõ ràng.  Bằng không, nên thực hành Mahamudra ở cuối thời thực tập quán tưởng chính của ta.  Rồi hãy để tâm được thư giãn đi vào khoảng vắng lặng của nội tâm, và ý thức được điều đó.  Cái không gian bao la, sự sáng suốt, sự tỉnh giác mà bạn nắm bắt được giữa các vọng tưởng, đó là tâm không.

   Nếu chánh niệm của bạn rất cao ở lúc đó, bạn sẽ thấy được nó.  Nói rằng ‘thấy’ có thể làm bạn hiểu lầm, vì ở thời điểm đó, không còn cái thấy nữa.  Mahamudra là như thế đó.

   Dĩ nhiên là khi đã nhận biết được trạng thái đó, bạn bắt đầu có thể phân tách được điều đó với cái nhìn thật sự của Phật giáo: chánh niệm, vọng tưởng, sự vắng lặng sau vọng tưởng, chúng có giống nhau hay khác nhau?  Nếu chúng khác thì khác như thế nào?  Nếu giống nhau, thì giống ở những điểm nào?  Bạn bắt đầu đặt câu hỏi để thấu đạt được cái kinh nghiệm đó.  Điều nầy rất quan trọng khi tu tập theo Phật giáo; hành giả không chỉ có chứng nghiệm, mà còn phải hiểu được sự chứng nghiệm của mình bằng cách phân tích, đặt câu hỏi.

 

Pháp Nhiệm Mầu

    Tôi luôn mơ ước được trở thành một nữ tu.  Khi còn nhỏ, tôi đã nghĩ đến tu theo dòng Carmelites, là nơi mà bạn bước vào, cửa đóng lại sau lưng, và bạn sẽ không bao giờ ra khỏi nơi ấy.  Rất tiếc là tôi không tin vào ý nghĩa của một vị Trời nào đó, nên Thiên Chúa giáo không hấp dẫn tôi.  Khi mới được nghe nói đến Phật giáo, tôi chỉ nghe người ta nhắc đến các vị Tăng, nên tôi rất buồn vì tưởng là không có các nữ tu sĩ.  Khi cuối cùng được thấy các ni cũng được nhắc đến ở đâu đó, tôi quá đỗi vui mừng, và biết đó là việc mình muốn được trở thành.  

    Nếu nhìn bề ngoài, tôi không giống một tu sĩ chút nào. Tôi luôn ăn mặc đẹp, có nhiều bạn trai, chạy lăng xăng bên ngoài –không phải là loại người sẽ trở thành người tu.  Tuy nhiên, khi gặp được vị lạt-ma của tôi, tôi chỉ muốn được ở cạnh Thầy, muốn hoàn toàn dâng hiến cả đời cho Phật pháp.  Tôi hỏi Thầy cho tôi được xuất gia và Thầy đã chấp thuận dầu chỉ mới biết tôi được ba tuần.

    Vì Phật pháp quá thâm thẳm nhiệm mầu, tôi cảm thấy không thể bỏ phí chút thì giờ nào, mà không trì Pháp.  Tôi không muốn bị xao lãng vì những công việc khác; tôi chỉ muốn suốt đời được ở bên Thầy, hành pháp, trì giới bằng tất cả khả năng của mình.  Tôi không muốn phí thì giờ cho tình cảm trai gái.  Nếu tôi thật sự muốn yêu thương ai, thì tôi chỉ muốn dành sự thương yêu đó cho vị lạt-ma của mình, mà không cần gì thêm nữa.  Dĩ nhiên là khi ở bên cạnh Thầy, tôi làm việc.  Tôi là thư ký của Thầy, cũng như dạy tiếng Anh cho các vị tăng trẻ.  Tôi làm việc 12 tiếng mỗi ngày.  Vì tất cả là cho vị lạt-ma của tôi, cũng là cho Phật pháp. 

   Quan hệ của tôi với người khác giới hoàn toàn thay đổi.  Là người tu, tôi có thể thân cận với họ mà không còn có ý niệm trai gái nào.  Họ cũng cảm thấy thoải mái cạnh tôi.  Tôi coi họ như bạn, anh hay em tôi, nên đơn giản là không có vấn đề gì.  Điều nầy làm cho sự quan hệ của chúng tôi thêm cởi mở, phóng khoáng, và tôi rất cảm ơn điều đó. 

   Trong suốt bao năm làm nữ tu sĩ, tôi không hề, dù trong phút giây, ân hận về quyết định của mình.  Tôi luôn hết lòng kính trọng, thương yêu tăng đoàn.  Cái cảm giác rằng đã có được một truyền thống gìn giữ từ thời Đức Phật đến nay, cho tôi một sức mạnh, niềm vui vô bến bờ.  Hình ảnh các vị tăng ni là tấm gương của cuộc sống vì đạo Pháp.

   Tây phương cần có những tăng đoàn nhỏ, bao gồm các vị tăng ni thật sự là những người tận tụy, để trở thành trung tâm điểm của cuộc sống đầy chánh pháp.  Điểm chánh yếu của việc trở thành tăng ni là chỉ với một hành động đó, nó có thể quét sạch bao vướng víu trong cuộc đời của bao người: sự quan hệ với người khác giới, việc yêu thương, ghen tuông, bất an, lập gia đình, có con cái.  Đây là những điều quan trọng, nhưng chúng có thể làm suy giảm năng lực, sức mạnh tâm linh mà ta có thể dành cho sự thực hành Phật pháp.

   Không phải ai cũng cần xuất gia, và cũng thật sai lầm nếu nghĩ rằng chỉ có người tu mới có thể hành pháp.  Nhưng Đức Phật đã gầy dựng nên tăng đoàn vì rõ ràng đó là một cách sống giúp người ta có sự tự do, phóng khoáng, và thời gian để dành cho sự tu tập thực hành pháp trọn vẹn.

 

Cuộc Sống Ẩn Dật

   Thầy Lạt-ma bảo tôi:  “Phần con, sống một mình thì tốt hơn”.  Bất cứ khi nào tôi đề nghị được sống với ai, với một vị ni khác, thì Thầy luôn bảo: “Không, với con, tốt hơn là sống một mình”.

   Lúc đầu khi đến Lahul, tôi sống trong khuôn viên của tu viện, dù tôi sống một mình trong một gian nhà, cũng như mọi người khác trong tu viện.  Có cả tăng và ni ở đó.  Nói chung, chúng tôi sống rất hoà hợp, không có vấn đề gì.  Tuy nhiên, đó không phải là nơi lý tưởng để nhập thất, vì thường tôi là người duy nhất nhập thất, và nhà tôi ở giữa khuôn viên tu viện.  Ai cũng có những sinh hoạt bình thường, tụ họp bạn bè, nói chuyện dai dẳng, trên các sân thượng từ nhà nầy qua nhà kia, vì thế thật không được yên tĩnh lắm.

   Tôi quyết định phải sống cô lập hơn.  Sau đó, tôi được nghe về một cái hang, nên đến đó sống.  Thật là một nơi lý tưởng, tôi sẽ không trách được ai nếu việc tu tập không có kết quả.  Rõ ràng là nếu bạn thực sự muốn tu chuyên sâu, thì hoặc là bạn phải tuyệt đối sống một mình hoặc là phải ở với những người cùng mục đích.  Nếu không thì sẽ rất khó khăn.

   Mỗi năm tôi thường bị tuyết giam một thời gian dài, nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy cô đơn.  Trái lại, tôi thường nghĩ rằng không có nơi nào trên trái đất nầy tôi muốn có mặt hơn là ở đây và không có việc gì tôi muốn làm hơn là tu tập.

   Lần duy nhất trong đời tôi cảm thấy cô đơn là khi tôi sống với Thầy lạt-ma của tôi trong tu viện của Thầy với 80 vị tăng khác và tôi là người ni, người ngoại quốc duy nhất.  Mọi người sống với nhau như một cộng đồng, còn tôi luôn là người đứng ngoài.  Khi tôi thực sự sống một mình, tôi lại không cảm thấy cô đơn dù trong phút giây.  Thật là vui sướng khi biết rằng tôi có tất cả thời gian, không gian nầy để hoàn toàn chú tâm vào việc tu tập mà không bị cái gì khác làm xao lãng.  Nếu thỉnh thoảng tôi thấy có hơi chán, tôi lại đọc một quyền sách thú vị về Phật pháp.

   Tôi rất thích được một mình.  Tôi cũng thích có người khác, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, trong khi tôi có thể ở một mình mãi mà không bao giờ chán.  Tôi nghĩ có lẽ vì khi có người khác, tôi thường phải thỏa hiệp với họ, để thích hợp với hoàn cảnh, nên không hoàn toàn sống thật với chính mình.  Khi một mình, tôi có thể sắp xếp việc trong ngày cho riêng mình, có thể chân thật với chính mình và tu tập.  Điều đó khiến tôi cảm thấy không bị gò bó.

   Phần đông đều có khó khăn khi phải nhập thất một mình, nhưng theo tôi nghĩ, đó là tuỳ thuộc tâm bạn thế nào.  Có một số người đến ở trong hang của tôi, khi tôi không có mặt ở đó, họ vấp phải nhiều khó khăn.  Cuối cùng họ trở về tu viện, hoặc tệ hơn trở về làng.  Họ không thể ở một mình trong hang.  Họ trở nên quá giải đãi, hay rơi vào trạng thái hoang tưởng hay sợ hãi cùng cực, khiến họ không biết giải quyết thế nào.

   Một số người nghĩ rằng việc sống một mình để tu tập là chủ nghĩa trốn tránh, nhưng thực ra đó khoảng thời gian khi bạn có thể thực sự đối mặt với thực tại vì không còn có nơi nào để trốn tránh.  Bất cứ việc gì xảy ra, bạn không thể mở TV, tán gẫu với hàng xóm, đi lang thang hay làm gì đó, bạn chỉ phải ngồi đó và đối mặt với nó.  Dầu cho đó là một vấn đề ở bên ngoài hay ở nội tâm, chỉ có bạn mới giải quyết được.  Riêng cá nhân tôi, tôi cảm thấy điều đó cho tôi thêm sức mạnh, vì tôi khám phá ra rằng thực sự tôi có nhiều khả năng hơn tôi tưởng.

  

Đào Hầm Ra!

   Một năm kia, một trận bão tuyết bất thường đã kéo dài bảy ngày, bảy đêm.  Nó gây ra những trận lở tuyết kinh hồn khắp nơi ở Lahul, nhiều làng mạc bị hủy hoại hoàn toàn, hàng ngàn cây cối bị tróc gốc và hàng trăm người tử nạn.  Tôi bị kẹt trong hang dưới hàng tấn tuyết.  Ống khói bếp lò của tôi bị bể, nên tôi không thể đốt lửa.  Bên trong hang, mọi thứ tối đen, còn khi tôi mở cửa ra thì chỉ có bức tường nước đá trước mặt.

   Tôi bị kẹt trong khoảng không gian nhỏ bé nầy.  Tôi cảm thấy không khí càng lúc càng ít đi, tôi thực sự cảm thấy cái chết gần kề. Tôi còn có thời gian nghĩ đến điều đó.  Giờ nhìn lại, cũng thấy thú vị vì tôi không cảm thấy hoảng loạn, không có cảm giác bị giam hãm, tù túng; tôi rất bình tĩnh, hoàn toàn chấp nhận sự việc.  Sau khi nghiền ngẫm, tôi nhận ra rằng chỉ có vị lạt-ma là đáng cho tôi nhớ đến; ngài là chỗ nương trú duy nhất của tôi.

   Với tất cả lòng thành, tôi cầu nguyện ngài dẫn dắt tôi trong cõi trung ấm (cõi ở giữa sự chết và tái sinh), và khi tôi làm thế, tôi nghe một giọng nói vang lên trong tôi: “Đào hầm ra!”  Nên tôi bắt đầu đào tuyết ra khỏi cửa.  Dĩ nhiên làm thế thì tôi lại phải mang tuyết vào trong hang, không còn chỗ nào khác nữa.  Lúc đầu tôi dùng một cái xẻng, sau đó, khi tôi bắt đầu có một đường hầm, tôi dùng nắp nồi, rồi sau đó là dùng tay.  Mất khoảng một giờ hay gì đó.  Có lúc tôi như bị nén trong cái ống nước đá nhỏ xí nầy.  Bên dưới cũng tối, mà trước mặt cũng đầy bóng tối.

   Dần dần đường hầm bắt đầu có ánh sáng, và tôi thoát ra được.  Tuyết phủ nhiều đến độ không còn thấy cái hang đâu nữa.  Tôi không còn nhìn thấy cây cối gì chung quanh, cũng không thấy nóc của cây trụ ba thước cao của tôi, chỉ là một không gian trắng xoá, trong khi bão tuyết vẫn không dứt.

   Tôi phải xúc tuyết ra khỏi hang, nên lại chui trở vào hầm.  Khi vào đến bên trong, mắt tôi cảm thấy đau buốt, đỏ cạch như thể có ai đã thải cát nóng vào đó.  Nước mắt chảy ra, và tôi nhận biết mình đã bị chói tuyết.  Dù sao, tôi cũng đã thoát chết.

   Hôm sau, tuyết phủ trở lại, tôi lại phải xúc tuyết ra.  Tôi phải làm như thế ba lần trước khi trận bão tuyết tan đi.  Khoảng một tháng sau đó, một tăng sĩ từ tu viện đến báo cho tôi biết là các xóm làng đều bị tàn phá.  Có lẻ tôi là người được an toàn nhất, sống trong cái hang không thể bị tàn phá nầy.  Tôi nhận ra rằng trong lúc nguy kịch đó, tôi chỉ có thể dựa vào những gì mình có trong tầm tay và nghị lực bên trong.  Không có ai để gánh vác cho tôi, tôi phải một mình vượt qua, và tôi đã làm được một cách hoàn toàn điêu luyện.

  

Đài Truyền Hình Nội Tâm

   Tôi thường nhập thất từ tháng mười một đến tháng năm hay sáu.  Thường là tháng năm, vì khoảng thời gian đó tuyết bắt đầu tan, và tôi phải để ý đến điều đó, nên thực sự không thể tiếp tục nhập thất một cách nghiêm ngặt nữa.  Những gì tôi làm giữa tháng Năm và tháng Mười Một thường thay đổi.  Tôi phải chăm sóc vườn tược, lấy thêm đồ dự trữ, kiếm củi, trét bùn lên hang, vân vân.  Thỉnh thoảng cũng có người đến thăm.  Tôi cũng dùng thời gian đó để đọc sách, vẽ nhiều hơn.

   Rồi khoảng tháng mười, tôi đi Tashijong để thăm thầy lạt-ma và trên đường về đôi lúc tôi ghé qua Manali để mua đồ dự trữ.  Dĩ nhiên tôi vẫn hành thiền vào sáng sớm và tối, khi tôi phải bận rộn trong ngày.

   Có lần tôi nhập thất ba năm, nhưng cuối cùng bị gián đoạn, nên thực sự chỉ có hai năm và chín tháng.  Trong khoảng thời gian nhập thất đó, một người Lahul tiếp tế vật thực cho tôi hằng năm.

   Về nội tâm, vấn đề chính, là có những lúc tôi cảm thấy chán thực tập.  Suốt mười hai năm sống trong hang, điều đó thường xảy ra.  Thời gian đầu sau khi nhập thất, sau khoảng hai tuần lễ, tôi cảm thấy: “Ấy dà! Mình phải còn thực hành đến bao nhiêu tháng nữa!”  Tóm lại, cũng giống như phải xem một chương trình truyền hình, bốn lần một ngày, tuần nầy sang tuần khác, tháng nầy qua tháng kia.  Có những lúc, tôi cảm giác, “Thôi, không làm nữa!”

   Vì không có ai ở đó để sách tấn tôi, hay để tôi tâm sự, hầu thoát ra khỏi sự đơn điệu, lần nữa tôi biết mình phải tự giải quyết thôi.  Tôi biết cách duy nhất là không được đầu hàng, cứ phải tiếp tục.  Sau một thời gian, tôi nhận diện được cảm thọ chán nản, nên nó không còn là vấn đề nữa.  Tôi cứ tiếp tục, cứ tuân theo công việc đều đặn.  Điều căn bản là không được gián đọan, không được tự hỏi là có thích thực hành không.  Sau một thời gian, việc tu tập của tôi tự nhiên trôi chảy đâu vào đấy.  Rồi nó bắt đầu lên một tầng cao hơn, trở nên rất thú vị, gần như cuốn hút.  Vào cuối thời nhập thất, tôi tự động cảm thấy hăng hái tu tập hơn là lúc bắt đầu mới nhập thất.

   Cuối cùng tôi nhận ra vấn đề chỉ là ở trong suy nghĩ của ta hơn là thực tế; cái ý nghĩ rằng làm sao tôi có thể chịu đựng suốt thời gian nhập thất, trong khi vẫn biết rằng thực ra tôi rất thích làm việc đó.

  

An Trú Và Hỷ Lạc

    Khi mới bắt đầu tu Thiền, nhiều người thường quá hăng hái, bắt đầu ngay bằng cách ngồi cả tiếng đồng hồ.  Nhưng thực tế cho thấy là họ khó duy trì được sự chủ tâm trong suốt thời gian đó, vì thế họ trở nên chán nản.  Sau đó, thì dù có ý hướng tốt, họ cũng đành bỏ cuộc.  Tôi nghĩ tốt hơn hết là bắt đầu bằng 10 hay 20 phút mỗi ngày.

    Bắt đầu bạn có thể đặt hình tượng vị nào mà bạn tôn kính, đốt nhang đèn, để chuẩn bị tâm thức.  Hãy ngồi xuống và tự nhủ rằng bạn sẽ dành trọn khoảng thời gian ngắn ngủi nầy cho việc tham thiền, một việc không chỉ đem lại lợi ích cho bạn mà cho cả những người bạn tiếp xúc.  Dầu ngắn ngủi, nhưng là một khoảng thời gian đặc biệt, riêng dành cho sự tu tập của bạn.

    Khi bạn khởi niệm gì, suy tư hay lo lắng, hãy để chúng qua đi.  Bằng cách chỉ ngồi theo dõi hơi thở.  Đức Phật đã chứng ngộ bằng phương cách đó.  Đó không phải điều đơn giản, nhưng ai cũng có thể làm được, rồi từ đó tiến lên, tiến lên mãi.  Không có sự cùng tận.

   Vì thế hãy ngồi im lặng, theo dõi hơi thở vào ra, ở mũi hay ở bụng, nơi nào bạn thấy thõa mái là được.  Cố gắng trụ theo hơi thở, theo sự vào ra, đừng lo sợ mất tâm.  Không có vấn đề gì đâu.  Bạn đừng mong đợi mọi thứ sẽ tốt đẹp ngay lúc bắt đầu; đó là kiêu mạn.  Hãy theo dõi hơi thở vào ra.  Nếu tâm khởi vọng tưởng, chỉ cần kéo nó trở lại, lần nầy tới lần khác.  Kéo tâm trở về với hơi thở chính là sự thực tập.

    Thực tập như thế trong 10 hay 20 phút.  Và hãy dừng ở đó dầu bạn vẫn còn có thể tiếp tục.  Hãy ngưng lại ở đó hơn là tiếp tục đến khi bạn trở nên trạo cữ.  Bằng không, lần sau bạn sẽ không cảm thấy sốt sắng ngồi nữa.  Trái lại, nếu bạn ngưng lại khi vẫn còn muốn tiếp tục ngồi, thì bạn sẽ thấy hứng thú để ngồi lần sau.  Hành thiền không phải là một thử thách, mà phải là sự an trú và hỷ lạc.

  

Quá Trình Khám Phá

    Qua nhiều năm thực tập, việc hành thiền của tôi đã chuyên sâu hơn, trở nên rõ ràng hơn.  Người ta thường nói về những điều thiền giả đạt được khi hành thiền, nhưng đối với tôi điều quan trọng không phải là mình đã đạt được gì mà là mình đã đoạn diệt được gì.  Quá trình hành thiền là để bộc lộ, khám phá ra những gì ta vẫn hằng biết.  Bạn sẽ không khám phá ra được điều gì mới lạ đâu.  Chỉ là những điều bạn đã biết mà không biết rằng mình biết.  Chúng ta biết tất cả, nhưng chỉ là không nhận thức được điều ấy thôi.  Thiền mở ra cho ta những lối về với chính trí tuệ nội tâm, và phá vỡ các chướng ngại để ta có thể thấy rõ ràng hơn.

    Mỗi người khi hành thiền đều có những khó khăn riêng.  Tuy nhiên nếu ta thực tập trong sự thoải mái, và có chú tâm thì khó thể sai lệch.  Vấn đề là đôi khi ta thấy sự hành thiền của mình dễ dàng quá.  Ta cảm thấy được an lạc, trong khi thực sự thì tâm ta lúc đó ở trạng thái ù lì.  Bạn có thể dễ dàng ngồi như thế vài tiếng đồng hồ mà không hề hay biết tâm đang bị hôn trầm.

    Dấu hiệu thực sự của việc hành thiền đúng cách là khi tâm sáng suốt, rõ ràng và hoàn toàn tỉnh thức, đồng thời cảm thấy thư giãn, nhẹ nhàng.  Điều quan trọng là giữ được sự cân bằng nầy.  Nếu bạn đạt được sự cân bằng đó, bạn sẽ biết ngay.  Trong trạng thái tự tại, tỉnh thức, sáng suốt, bạn không thể nào có thể sai lạc được.

 

Vị Thầy Chỉ Đường

   Tôi không nghĩ nhất thiết phải có thầy.  Nếu bạn ở trong hoàn cảnh không có thầy, thì đó không phải là lý do để ta không thể bắt đầu tu tập.  Có rất nhiều sách vở, và với chút ít hiểu biết căn bản, bạn có thể tự đi một bước dài mà không có thầy hướng dẩn.

   Tuy nhiên, nếu có được một vị thầy chân chính thì chắc chắn là mọi việc sẽ dễ dàng hơn nhiều.  Như trên một cuộc hành trình, bạn có thể đi một mình, nhưng nếu có người hướng dẩn đã qua đoạn đường ấy, đã biết địa thế rõ ràng thì chắc chắn là chuyến đi của bạn sẽ dễ dàng, nhanh chóng hơn.  Bạn được đảm bảo không bị lạc đường, không phải lo lắng, vì bạn biết mình được bảo vệ.  Đó là trách nhiệm của vị thầy, là để chỉ đường cho bạn.  Họ không thể đi dùm bạn, không ai có thể làm được việc đó cho bạn.  Họ chỉ có thể chỉ cho bạn hướng đi.

    Với Thầy của tôi, thật là tuyệt vời.  Từ lúc bắt đầu, ngay khi vừa nghe tên ông, tôi biết ngay đó là Thầy tôi.  Ông cũng không nghi ngờ dù chỉ trong phút giây rằng tôi là đệ tử ông, nên từ lúc bắt đầu chúng tôi đã có một mối dây liên hệ thật thân thiết.  Ông là một vị lạt-ma tuyệt vời, và tôi mang ơn ông sâu nặng, không thể diễn tả bằng lời với ông như thế nào.  

Ông đã dạy cho tôi thật nhiều bằng chính sự có mặt của mình, hơn là lời nói.  Ông thường gợi ý tôi nên thực hành theo phương pháp nào và ban cho tôi khả năng thực hiện chúng.  Sau đó tôi mới thực sự được các thiền sinh khác trong tu viện chỉ dạy.  Vị lạt-ma ở đó chỉ để có mặt, để hướng dẫn và hộ trì.  Chỉ được ở cạnh bên Thầy Rinpoche, tôi đã học được rất nhiều.  Sự có mặt của một vị thầy chân chính không thể diển tả thành lời, một điều khó tin nổi  - một hiện thân sống động của những gì ta mong đạt được.  Bạn biết điều đó có thể thực hiện được vì Thầy có mặt để chỉ cho bạn phương cách.

   Bất cứ điều gì tôi muốn thực hiện trong việc tu tập của mình, tôi có thể hỏi ý kiến Thầy và Thầy có thể cho tôi biết điều đó không cần thiết hay nên làm.  Điều đó động viên tôi mạnh mẽ.  Nếu vị lạt-ma nói: “Tốt lắm, hãy làm đi”.  Tôi có thể bắt đầu ngay, và đặt hết mọi nghị lực của mình vào đó mà không chút gì lo lắng.

   Trong những lúc khó khăn, thí dụ như khi tôi phải tu tập một mình, tôi vẫn có thể cầu nguyện đến với lạt-ma.  Nếu tôi có vấn đề gì, tôi chỉ cần chú tâm, cầu nguyện đến thầy Rinpoche xin một lời giải đáp.  Dĩ nhiên đối với tôi, thì không thể thiếu Thầy.  Lạt-ma luôn ở trong trái tim tôi.

   Giờ thì chính sự hành thiền mang đến cho tôi sự cảm hứng.  Ở thời điểm nầy, dù tôi có muốn bỏ hết tu tập, tôi cũng không làm được, nó đã trở thành một phần của tôi.  Càng tu tập, tôi càng cảm nhận Phật pháp thật độc đáo, tuyệt vời làm sao.  Tôi cảm tạ ơn sâu của Đức Phật đã truyền dạy lại cho chúng ta những điều này.

 

Chương 2

 

HÀNH TRÌNH VỀ THIỀN

 Songgyong Sunim

  

   Tôi may mắn được sống ở Hàn quốc trong 10 năm với tư cách là một nữ tu sĩ thiền Phật giáo, và ấn tượng sâu đậm nhất đối với tôi là được gặp gỡ Sư bà Songgyong Sunim,viện chủ của một trong những thiền viện trung tâm dành cho Ni giới ở Naewon Sa.  Sư bà là một phụ nữ nhỏ nhắn, hơi khòm nhưng năng động một cách đáng phục ở tuổi 80.  Khi Sư bà không hướng dẩn hành thiền ở thiền đường, thì lại bận rộn gom góp các quả đấu và làm những công việc lặt vặt trong thiền viện.

 

CUỘC SỐNG NHỌC NHẰN

    Tôi sanh ngày 2 tháng 5 năm 1903, trong một ngôi làng gần thành phố Ch’ongju.  Chúng tôi là những nông dân rất nghèo.  Khi tôi được chín tuổi, thì mẹ tôi qua đời.  Tôi có một anh, một  chị và một đứa em gái năm tuổi.  Cha chúng tôi quá đau khổ về cái chết của mẹ, đã không lo lắng cho chúng tôi được đầy đủ.  Cuộc sống trở nên rất khó khăn và cuối cùng thì tệ đến nỗi tôi đã có ý định tìm cái chết.  Nhưng khi vừa định kết liễu đời mình, tôi nghe một tiếng nói từ trên không vọng xuống: “Con có duyên lành với Phật pháp. Tại sao lại kết thúc mạng sống?”  Tôi hiểu điều đó có nghĩa là tôi phải trở thành người tu. 

    Vì thế năm 18 tuổi, tôi tìm đường đến một ni viện, gọi là Yongun Am, gần tu viện của Magok Sa. Đầu tiên tôi bị từ chối, không được nhận vào tu vì tôi quá nhỏ bé.  Sau đó, sư bà Inu Sunim nói là dù tôi nhỏ thó, nhưng tôi nhìn cũng được.  Thế rồi tôi được chấp nhận.

    Năm sau các ni sư cạo tóc cho tôi và tôi được làm lễ thọ giới.  Thầy của tôi tên là Myongdok Sunim.  Bà đã đi rất nhiều từ ni viện này sang ni viện khác để thu thập kiến thức tu thiền.  Sư phụ của bà lại là ni sư Inu Sunim, vị sư bà đã nhận tôi vào thiền viện.  Ni sư Myongdok Sunim nhận lãnh việc dạy dổ tôi và tôi đã làm thị giả cho ni sư trong nhiều năm.

    Cuộc sống của tôi rất cực nhọc. Tôi phải giặt đồ, sửa soạn bửa ăn, bửa cũi và thổi lửa. Đôi lúc tôi còn phải vào rừng chặt cũi, rồi vác về trên chiếc khung đựng cũi trên lưng. Tôi bàng hoàng vì không ngờ mình phải làm việc này, bởi vì trong làng, việc này thường dành cho cánh đàn ông.  Một lần tôi nhớ mình đã nghĩ rằng đời sống ở tu viện còn tệ hơn là cuộc sống nơi làng quê cũ, nên tôi chán ghét liệng cái khung đựng cũi trên lưng xuống. Và tôi ngồi xuống khóc. Vì tôi làm khung cũi hư, vị giáo thọ hỏi tôi chuyện gì đã xảy ra.  Tôi trã lời: “Tôi đã chán lắm rồi coâng việc này! Tôi nhỏ con! Tôi lại là ni. Tại sao tôi phải làm việc đó?”  Sau lần ấy, bà không bao giờ kêu tôi đi chặt cũi nữa.

 

NHU CẦU HÀNH THIỀN

    Tôi đã ở lại Yongun Am cho đến năm tôi 33 tuổi.  Lúc này Nhật đang chiếm đóng khắp đất nước, và đang gây khó khăn cho cộng đồng Phật giáo.  Kết quả là Giáo hội Phật giáo đề nghị rằng để củng cố công tác giảng dạy, các vị đại thiền sư trong thời gian này cần đến trụ trì ở các thiền viện lớn. Do chính sách này, Thiền sư Mangong ở thiền viện Chonghye Sa gần Sudok Sa, được bổ nhiệm làm trù trì của Magok Sa trong ba năm.

    Trong buổi thăm viếng đầu tiên, thiền sư Mangong đã khuyến khích các vị tu sĩ xây một thiền đường.  Rồi Thiền sư bỗng nói: “Các vị là tu sĩ, sao lại lãng phí cuộc sống mà không chịu tu Thiền?”

    Khi nghe được câu này, tôi đã 32 tuổi.  Tôi chưa bao giờ được nghe một câu hay như vậy. Thật là phi thường và điều này đã tác động mạnh đến tôi, khiến tôi quyết tâm tu thiền.  Sau đấy, tôi thầm suy nghĩ và nhận ra rằng vai trò của tăng ni thật khác với những gì tôi đã được giáo huấn.

    Các bài thuyết pháp của Thiền sư Mangong luôn phù hợp với người nghe.  Với các thiền sinh, Thiền sư nói về thiền định; với các đệ tử của kinh điển, thầy nói về Bát Nhã Tâm Kinh (Heart Sutra), thôi thúc các vị ấy nên hiểu rõ nghĩa của kinh cũng như khơi dậy nhiều ý nghĩa sâu xa hơn của kinh qua sự thực tập thiền.

    Tôi nhận thấy mình cần tìm một ni viện gần chỗ lưu trú của Thiền sư ở Chonghye Sa, khoảng 100 ki-lô-mét (62 miles), đông bắc của Magok Sa.  Khi biết được ý định nầy, thầy tôi (ni sư Myongdok) đã từ chối không cho tôi đi.  Tôi giải thích rằng tôi muốn học hỏi thêm về vai trò thật sự của một vị ni.  Nhưng Ni sư, thầy tôi, phản bác lại rằng nếu tôi bỏ đi mới thật là không hành đúng vai trò ấy. Bà cũng chất vấn về khả năng hiểu biết Pháp của tôi, vì tôi chưa từng nghe qua bài thuyết pháp nào.  Bà nói thêm, một người nên sống như đang sống – và không có gì hơn điều này nữa.  Bà còn cố gắng ngăn chận không cho tôi rời viện, bằng cách giao cho tôi một chức vị quan trọng trong ni viện này, nhưng vô vọng.  Không có gì có thể ngăn cản tôi lúc này và tôi đã van nài bà trong suốt bốn ngày.

    Cuối cùng thì Ni sư cũng xiêu lòng, nhưng nói rằng tôi có thể đi thăm cho biết thôi.  Không cho tôi tiền hay chăn mền, bà giúp tôi sửa soạn hành lý, và dặn rằng, đi xem xong rồi sớm trở về. 

 CUỘC SỐNG HÒA ĐỒNG

    Tu viện của Chonghye Sa giống như một thế giới khác.  Khi nhìn thấy thiền đường, tôi có cảm giác là đức Phật đang sống ở đấy.  Tôi muốn ở lại thiền đường của một ni viện gần đó,  Kyongsong Am, nhưng không có lương thực. Vào lúc ấy, (1936), tăng ni phải cung ứng một “mal” (18 kí-lô / 40 lbs) gạo trong vòng một tháng, tính ra đến ba “mal” mỗi khóa tu thiền. Ở Kyongsong Am,  phương thức trả tiền này vừa chấm dứt không lâu trước khi tôi đến.

    Mặc dù tôi không gạo, không tiền, họ cho tôi việc làm, nấu những món ăn kèm trong nhà bếp, trong vòng một năm.   Tôi chấp nhận để đổi lại tôi được quyền thực tập trong thiền đường với các vị ni khác. Trong thời gian này, tôi được nghe các bài thuyết pháp của Thiền Sư Mangong và ni sư Pophui, một vị trưởng lão ni đang làm cố vấn trưởng ở Kyongsong Am.

    Cuối năm, Ni sư (Myongkok) xuất hiện ở Kyongsong Am, nằn nì là bà không thể sống mà không có tôi, rằng tôi là người duy nhất có thể phục vụ bà một cách thích hợp. Bà nói nếu tôi không trở về, bà sẽ đến Kyongsong Am để sống với tôi.  Tôi từ chối trở lại với đời sống của người tu sĩ mà Thiền Sư rõ ràng không chấp nhận. Ông thường nói, sống như thế sẽ đưa chúng tôi xuống địa ngục sau khi chết.  Vì thế tôi đã khẩn cầu bà ở lại dựï một khóa tu thiền với tôi, và bà bằng lòng.

    Thật kỳ lạ, cuộc sống hoà đồng ở Thiền đường đã hấp dẫn Ni sư. Bà nhận xét rằng sống như thế này  thật là tiết kiệm và hữu ích. Vì từ đó bà tham thiền trong Thiền đường, rồi thọ thực chung với ni chúng, nên tôi không cần phải làm thị giả cho bà nữa.  Tôi chỉ giúp bà giặt quần áo và làm những công việc lặt vặt.  Ngồi thiền là một điều rất mới lạ đối với bà, nhưng bà phát khởi tín tâm vàø “lòng quyết tâm mạnh mẽ” để thực hành đã nẩy sinh.

    Năm sau, vào cuối khóa thiền mùa hạ, Ni sư lại xuất hiện. Lúc đó bà đang sống ở thiền đường Yunp’il Am, một ni viện gần Mungyong, miền đông bắc của Nam Hàn. Bà hỏi tôi có muốn cùng đến đó không. Tôi nhận lời, quá đỗi vui mừng với triển vọng có nhiều thời gian để ở bên bàø.

  

CUỘC DIỆN KIẾN KINH HOÀNG

    Tuy nhiên trước khi ra đi, tôi quyết định học thêm về “hwadu” (nghĩa đen là “thoại đầu”, phần quan trọng của công án) từ lão sư Mangong.  Tôi chưa bao giờ thực sự có cơ hội để tham vấn Sư, vì tôi luôn bận rộn trong nhà bếp.  Mặc dù tôi đã nghe qua các bài thuyết pháp của Sư, đã thử thực hành những lời dạy của Sư, nhưng tôi thường bỏ cuộc sau một thời gian ngắn.  Tôi cũng chưa thực tập một cách nghiêm túc một công án hwadu nào.  Sư Mangong thường dạy các  hwadus, “Vạn pháp trở về một. Một trở về đâu?”, “Không!”, hoặc “Cái gì đây?”.  Tôi nhận thức rằng nếu tôi thật sự muốn tham thiền, tôi phải có một  hwadu (công án) của riêng mình.

    Vì vậy, một ngày nọ tôi đến bái kiến Sư Mangong trong thư phòng của ngài.  Sư đang ngồi một mình. Tôi cúi chào ba lần rồi thưa: “Con muốn có một hwadu. Xin Thầy dạy cho con một hwadu”.

    Sư đã thấy tôi vào, nhưng cũng chẳng ngước nhìn.  Sư chỉ ngồi nhắm mắt. Tôi cảm thấy bối rối vô cùng, tự nghĩ không biết có phải Sư hành động như thế vì nghĩ tôi nhỏ con, không thể tu tập. Tôi cảm thấy buồn và bắt đầu nghĩ đến tất cả những khuyết điểm của mình.

    Và rồi, sau 30 phút im lặng, tôi quyết định đi ra. Ngay lúc ấy, Sư bỗng mở lớn mắt, la lên: “Cô không có khả năng biết được đâu là đầu hay đuôi, thì làm gì biết được loại ‘thoại đầu’ nào mà nói?”

    Tôi quá bất ngờ vì sự la lối này đến nỗi tôi cảm thấy nặng ngực, tim tôi đập như thể vừa bị một trái banh dội vào. Tôi chẳng biết làm gì nữa. Tôi cảm thấy đau khổ vì bị la thay vì được một hwadu, tôi bổ nhào ra cửa sau không dám hỏi thêm gì nữa.

    Sau đó không lâu, tôi ra đi theo sư phụ tôi.  Tôi rất vui được đi với bà, nhưng dường như có một khối gì động lại nơi ngực của tôi, từ sau cuộc diện kiến kinh hoàng với Sư Mangong.  Tôi vẫn còn tràn đầy thất vọng và lo âu vì không có được một hwadu.

    Không bao lâu sau khi chúng tôi đến Yunp’il Am, thầy Ch’ongam, một vị đệ tử của Sư Mangong, từ Taesong Am, một tu viện lớn gần bên, nơi thầy đang giữ chức vụ cố vấn Thiền môn, đến thăm ni viện.  Tôi xin thầy dạy tôi chút ít về hwadu để tôi có  thể hành thiền tốt hơn. Thầy kêu lên: “Nếu cô đã không học được hwadu từ nơi Sư Mangong, thì cô còn học được từ ai nữa?”

    Điều này còn làm tôi đau khổ hơn và tôi suy gẫm về sự kiện đây là lần thứ hai tôi bị khiển trách bởi một vị thầy có tiếng. Lần nữa tôi lại tràn đầy lo lắng, xấu hổ.

  

SỰ SÁNG SUỐT RÕ RÀNG

    Vài ngày sau đó khóa thiền bắt đầu. Ba mươi vị ni đã họp lại ở thiền đường, toàn là những thiền sinh cần mẫn.  Chúng tôi quyết định bắt đầu với thời gian là 30 ngày tích cực tham thiền.  Nhưng tôi không thể nghĩ đến việc thực tập đàng hoàng nữa, tôi chỉ cảm thấy một nỗi thất vọng và xấu hổ cùng cực, nghĩ rằng mọi người có lẽ đang hỏi rằng tôi làm gì trong thời gian tham thiền này.  Tôi phải pha trà vào buổi sáng, nhưng thời gian còn lại tôi ngồi thiền. Đôi lúc tôi cảm nhận những ý nghĩ đau buồn, đôi khi những nghi ngờ như “Tại sao tôi không thể thực tập như những người khác?” và “Tại sao các vị tăng luôn quở trách tôi, không ban cho tôi một hwadu?” 

   Trong suốt 21 ngày sau đó, cái tâm tự khiển trách này vẫn không thuyên giảm. Tôi không còn thiết ngủ nghỉ hay trò truyện với ai. Rồi tôi nhận thấy mình đang ở trong trạng thái sáng suốt rõ ràng. Ni chúng đều nghỉ ngơi lúc 11: 30 trong thiền đường ở chỗ riêng của họ, nhưng tôi lại vào phòng bên cạnh ngồi thiền suốt đêm.  Dần dần, một trạng thái tâm tỉnh thức, sáng suốt phát sinh.  Tất cả mọi vọng tưởng tan biến, chỉ còn lại một sự tĩnh lặng sáng suốt.  Đôi khi câu hỏi, “Cái gì đây?” lại phát khởi trong tâm. Tất cả mọi dấu vết của phiền não biến mất, chỉ còn lại một tâm thức sáng suốt, thanh tịnh.

    Đột nhiên một ý nghĩ độc nhất xuyên qua tôi, lên đến tận đỉnh đầu. Ý nghĩ này mãnh liệt đến nỗi tôi buột miệng thốt lên “Từ lúc ban sơ đã không đầu, không đuôi, vậy thì đâu là đầu, đâu là đuôi?”

  

KHÔNG CHƯỚNG NGẠI

    Sau đó không lâu, thầy Ch’ongam lại đến Yunp’il Am.  Tôi thưa với Thầy tâm tự trách đã được hóa giải trong tôi,  đến độ tôi cảm thấy tôi có thể không màng đến các vị đại sư. Thầy giải thích đó là đại nghi trong tôi sắp bùng vỡ. Nó còn trên đà phát triển trước khi bùng vỡ, nhưng một khi nó đã xảy ra thì sự thực hành sẽ tiến triển một cách dễ dàng.

    Hôm sau, Thầy dán trên tường của thiền đường một câu như sau: “Ngồi trên con thuyền sắt không đáy, vượt qua sông không chướng ngại.”

    Khi đọc câu này, bất giác tôi nhận ra rằng không có chướng ngại trong tâm thức tôi.  Chỉ còn lại sự nghi hoặc, nhưng rồi nó cũng sẽ biến mất! Lần sau gặp lại, tôi trình bày với Thầy làm thế nào màø tôi đã hiểu được con thuyền sắt không đáy chính là tâm thức.  Tôi cũng nói thêm là vì cơ bản, tâm thức không có chướng ngại, nó không bị trở ngại khi vượt qua bờ bên kia.

    Thầy trả lời là lòng nghi hoặc của tôi giờ đã bị phá vỡ rồi, và sự thực tập của tôi đang tiến triển tốt đẹp.  Dường như đây là lần đầu tiên Thầy gặp một vị ni với tâm không còn nghi hoặc, điều đó thúc giục Thầy quay về Chonghye Sa để thực tập hết sức tinh tấn dưới sự chỉ dạy của lão sư Mangong.  Hình như Thầy sợ bị một vị ni qua mặt trong sự thực tập.

    Giờ tôi không còn bị các vọng tưởng chi phối; tâm tôi hoàn toàn  sáng suốt, thanh tịnh và phát tín tâm rộng lớn. Tôi rất vui với niềm tin tràn đầy và không thể nghĩ đến điều gì khác ngoài vieäc hành thiền.

    Trong khóa tu thiền mùa hè đó, một sự kiện trong tiền kiếp của tôi chợt xuất hiện. Tôi thấy trong một tiền kiếp tôi là một tăng sĩ tuấn tú, thông minh. Tôi cũng thấy một cô gái rất xinh đẹp được sinh ra từ cõi trời, rồi trở thành một vị ni. Tôi đã làm cho vị ni này phạm giới. Sau đó tôi chết đi ở tuổi 50, rồi tái sanh với thân thể nhỏ thó xấu xí, nhưng với một tâm thức trong sáng.  Sau khi vị ni xinh đẹp từ trần, lại được tái sanh làm ni mà bây giờ là sư phụ của tôi.

    Khi chung sống với sư phụ, tôi vẫn thường tự hỏi tại sao, bất kể hành vi của tôi, thầy tôi lúc thích tôi và lúc lại không ưa.  Sau khi nhìn thấy điều này tôi hiểu rằng tại vì tôi đã làm bà ta phạm giới trong kiếp trước. Tôi không biết có nên coi trọng về ảo ảnh đã thấy hay không, tuy nhiên tôi cảm thấy rất sung sướng khi biết về nó.

  

TRÊN ĐƯỜNG ĐI

    Cũng gần bốn năm từ lúc tôi rời Yunp’il Am. Bây giờ tôi tin rằng nếu lúc ấy tôi ở lại thêm một năm nữa tôi có thể hoàn thành công tác (giác ngộ rốt ráo).  Tuy nhiên, một bạn đạo đã thuyết phục tôi cùng chu du đây đó, và tôi quyết định đi chung. Người bạn này là Pongong Sunim. Cô này đi với tôi vì cô nghe nói về sự đốn ngộ của tôi và đề nghị cùng đi đến Đỉnh Odae sau mùa an cư.  Tôi đồng ý một cách hăng hái, nghĩ rằng đấy là một chỗ tốt để thực tập và hoàn thành công việc.

    Trước khi đi, chúng tôi thực hiện một thời khóa tụng niệm đặc biệt.  Trong vòng bảy ngày chúng tôi giữ yên lặng, rồi tụng niệm và đứng suốt ngày.  Lúc kết thúc, một bé trai xuất hiện trước mặt tôi như trong mơ. Pongong Sunim không thấy đứa bé, riêng tôi hỏi đứa bé ấy từ đâu đến và tại sao lại đến đây. Đứa bé trả lời đến từ Đỉnh Odae, và rằng vị đại Lão Thiền sư Hanam sai cậu đến dẫn đường cho chúng tôi.  Sự xuất hiện này rõ ràng là một dấu hiệu để củng cố lòng quyết tâm của chúng tôi.

    Vì thế chúng tôi ra đi. Trên đường đi chúng tôi nhân tiện đó đến viếng Dãy núi Kim Cương (Diamond Mountains). Đây là lần đầu tiên tôi thấy những cảnh hùng vĩ đẹp đẻ như vậy. Ở động Podok, chúng tôi lại thực hiện trì niệm trong vòng bảy ngày, rồi là Nakasan Sa, và một nơi khác nữa, kéo dài đến l4 ngày.  Vào cuối thời gian trì niệm này, Bồ Tát Quán Thế Âm, với hình ảnh treo trên điện, đã hiện ra nói với tôi : “Nếu con thật sự muốn thực tập, tại sao lại luẩn quẩn vô ích ở đây? Mau đến ra mắt vị đại Lão Thiền sư! Tham vấn Pháp với ngài, rồi thực hành tinh tấn!”

    Vì vậy chúng tôi tiếp tục đi đến thiền viện của Lão sư Hanam. Khi xuyên qua những vùng núi non quanh Đỉnh Odae, chúng tôi đến một ngôi chùa nhỏ. Vì trời đã tối, chúng tôi quyết định ngủ qua đêm.  Ba vị tăng sĩ cư trú tại chùa rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi, vì họ chưa từng thấy các vị ni đi du hành chỉ để tiến sâu hơn trong sự tu tập.  Vì chùa rất nhỏ hẹp, họ phải ngăn phòng chánh ra làm hai bằng tấm ngăn, rồi nhất quyết dành cho chúng tôi chỗ ấm nhất trên sàn để ngủ.  Đây là vào tháng mười, tuyết đang rơi nhiều và chúng tôi còn đến 40 dặm (16km/ 10 miles) mới đến Sangwon Sa, thiền viện của Thiền Sư Hanam.

    Các vị tăng sĩ khuyên chúng tôi nên đi theo đường đèo Sinsollyong, con đường mà họ nghĩ rằng sẽ không khó đi lắm.  Sau khi dùng cơm, chúng tôi rời chùa rất sớm. Khi chúng tôi đang giữa đường lên núi, thình lình một thanh niên xuất hiện và muốn biết chúng tôi đang đi đâu. Nghe xong, anh ta khuyên chúng tôi nên ngủ lại một làng gần đó đêm nay, vì chúng tôi hãy còn rất xa đích đến.

 

LẠC LỐI

    Sáng hôm sau, chúng tôi lại lên đường. Đó là một ngày sáng trong tươi đẹp, nhưng đi một lúc chúng tôi không thể tìm thấy đúng đường vì tuyết rất nhiều.  Chỉ còn vài ngày nữa là khoá tu thiền bắt đầu, vậy mà ở nơi đây chúng tôi không thể tiến tới hay thối lui - thật là gay go.  Rồi chúng tôi nghe tiếng la của một người đàn ông: “Các vị làm gì ở đây? Nếu các vị đi lạc  đường bây giờ thì các vị sẽ chết cóng mất!”  Chúng tôi năn nỉ anh ta chỉ dùm đường và anh ta bảo chúng tôi nên chọn con đường chính giữa, mà chúng tôi cũng vừa nhận ra.  Lạ một điều là hình như đó cũng là người mà chúng tôi đã gặp hôm trước. 

    Cuối cùng, chúng tôi cũng đến được tu viện Sangwon Sa trong tình trạng ướt sũng.  Khi diện kiến Thiền sư Hanam, ngài hết sức kinh hoàng khi nghe chúng tôi kể đã chọn con đường nào để đến tu viện.  Hình như kể cả những người rành rọt về vùng đó, cũng phải chết cóng, nếu đi theo con đường chúng tôi đã đi. Chúng tôi kể có một thanh niên đã giúp đỡ chúng tôi như thế nào. Ngài bảo rằng đôi lúc Bồ