Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt    

   

...... ... ..  . ..  .  .
HAI KHUÔN MẶT TÂM THỨC
Nguyên tác Tây Tạng: Lama Gendun Rinpoche
Dịch sang tiếng Anh: Anila Rinchen Palmo
Việt dịch: Lục Thạch

2

ĐỐI TRỊ CÁC CẢM XÚC

            Khi áp dụng sự từ bỏ các cảm xúc, chúng ta sẳn sàng buông rơi chúng và tạo khoảng cách giữa mình và cảm xúc trong tâm ta, để quán sát khi cảm xúc xuất hiện. Như vậy là chuẩn bị cho tâm chiến đấu chống lại các cảm xúc.

            Khi chúng ta bắt đầu quan tâm tới những vấn đề tâm linh. chúng ta nhận thấy rằng dù được hấp thụ bởi những ý tưởng cao cả, chúng ta vẫn khó trung thành với những ý tưởng đó. Là vì chúng ta chịu ảnh hưởng lớn bởi những khuynh hướng "tự nhiên". Mặc dù có ý định tốt nhưng chúng ta thường có những hành vi xấu. Chỉ khi nào thói quen tốt trở nên ngang hàng hoặc mạnh hơn thói quen xấu, thì lực tâm linh trong chúng ta mới bắt đầu hiển lộ.

            Đây là lúc mà các phẩm tính bên trong chúng ta có khả năng gây ảnh hưởng tới các cảm xúc khi chúng xuất hiện. Giống như thuốc giải độc, những phẩm tính đó có thể thay đổi hiệu quả của các cảm xúc. Thuốc giải độc càng mạnh thì chất độc càng bị hóa giải nhiều.

            Trước hết, chúng ta phải trau dồi những phẩm tính này, vì chúng không phải là những tính chất tự nhiên nơi con người vị kỷ của chúng ta. Qua thời gian và với kiên nhẫn, những phẩm tính này trở nên kiên cố để có thể chiến thắng mỗi lần chống lại các cảm xúc.

            Chagme Rinpoche cho chúng ta biết những phẩm tính đặc biệt nào có hiệu lực nhất trong việc đối trị mỗi cảm xúc của năm cảm xúc chính yếu. Khi đã được biết công thức giải độc, chúng ta chỉ còn việc chế tạo và dùng thuốc.

                1.- Thiền quán để đối trị Tham dục

                     Khi chúng ta khởi lòng ham muốn bởi sự quyến rũ về vẻ đẹp hình thể của người nào. Thì hãy xét tính chất thật của người mà ta đam mê. Sự thật là dù vóc dáng cô gái rất đẹp nhưng bên trong cơ thể lại toàn là những chất không hấp dẫn gì cả. Thân thể giống như một cái bình bằng vàng đựng đầy những thứ như phân và nước tiểu. Thân thể chỉ là một cái túi chứa ba mươi hai chất bẩn được liệt kê theo truyền thống. Thân trên là máu, mủ và óc; thân dưới là nước tiểu và phân, mật và bạch huyết. Nếu trông thấy như vậy, người ta sẽ nghĩ một con người như thế thì có gì đáng ham mê.

            Thân thể cũng chứa đựng 84000 con vi trùng luôn luôn hoạt động để hủy hoại cái thân đó. Chúng ta không phạm sai lầm tham muốn một người đang bị những con trùng ăn mòn dần. Phương pháp suy ngẫm này được gọi là quán thân bất tịnh.

            Những xác chết được mang cho kênh kênh rỉa thịt còn lại bộ xương là một cảnh mà chúng ta có thể thấy rõ. Chúng ta ghê sợ và tránh xa cảnh đó. Nhưng chính bộ xương đó cũng có bên trong thân thể chúng ta. Nếu chiêm nghiệm điều này chúng ta sẽ không còn ham muốn một bộ xương được phủ bên ngoài bằng những bộ phận khác của cơ thể.

            Chúng ta cũng có thể tưởng tượng trước mắt mình xác chết của người mình yêu với đầy trùng và dòi bọ. Hay những xác chết ở các mức mục rữa khác nhau. Chúng ta có thể quán tưởng một bộ xương khô với hai hốc mắt trống rỗng. Chúng ta nhân lên bên trong tâm, số xác chết cho đến khi trước mặt mình chỉ có toàn xác chết. Nên quán tưởng như vậy đối với những chi tiết tỉ mỉ.

            Chúng ta có thể hình dung thân xác của mình hay thân xác của người mình yêu đang tan rã dần dần, bắt đầu với lớp da bên ngoài, để lộ ra những bộ phận bên trong thật gớm ghiếc, nội tạng biến đi từng món một cho đến khi chỉ còn bộ xương.

            Chúng ta lại tưởng tượng thân thể lộn từ trong ra ngoài để tất cả những bộ phận mà thường chúng ta không thấy như tim, phổi và các thứ khác đều được phơi bày rành rành. Đó là năm phương pháp quán tưởng sự đáng ghê tởm của thân thể, có hiệu lực trong việc khắc phục tính tham dục. Tất nhiên, loại thiền quán này cũng có thể được dùng để vượt qua những cảm xúc độc hại khác. Khi nào chúng ta cố gắng khắc phục những phản ứng của mình đối với người khác, dù phản ứng thuận xuất hiện từ ái dục, hay phản ứng nghịch do giận ghét, thì cách thiền quán này có thể tiêu diệt những cảm xúc đó. Cách này cũng đối trị được tính kiêu ngạo, vì nếu chúng ta quán tưởng chính mình như vậy thì tất cả sự tự kiêu trong chúng ta tiêu tan.

            Đó là những pháp thiền quán chính yếu được dạy trong Phật tạng Phật giáo. Các Thinh văn dùng các pháp quán thân bất tịnh này. Các La hán đi xa hơn, dùng những pháp thiền quán về sự tan rã của thân thể dựa trên sự quan sát trực tiếp của họ ở các nghĩa địa, và những nơi thiêu xác chết. Mục dích của các pháp này là để hiểu tính vô thường và sự không có tính bền vững của thể xác, cũng như ở đây để từ bỏ tính tham dục thể xác vật chất.

            Qua thực hành các pháp này chúng ta có thể giảm thiểu ý tưởng coi mình là quan trọng. Chúng ta thường nghĩ mình là người đẹp, hấp dẫn, nhưng nếu chúng ta thường xuyên xét sự kiện thân thể của mình chỉ là tổng hợp của những chất không trong sạch thì chúng ta có thể từ bỏ hình ảnh đẹp đẽ mà mình tự tô vẽ về mình. Theo nghĩa rộng, các pháp quán tưởng này giúp chúng ta hiểu tánh vô thường, và dễ hư hoại của thể xác, không bền vững đã nâng đở bản ngã của chúng ta, chúng ta không phải là thể xác, và đây là bước đầu tiên trong việc phát triển trí huệ vô ngã.

                2.- Từ bi và nhẫn nhục đối trị Sân hận

                     Muốn đối trị sân hận phải hiểu rằng tất cả chúng sinh trong vũ trụ, dù đang ở trong trạng thái hiện hữu nào, đều là cha mẹ của chúng ta trong quá khứ; không chỉ một lần mà vô số lần. Khi chúng ta là con, họ đã chăm lo và yêu thương chúng ta rất nhiều.

            Nhưng hiện tại những người đó không biết rằng họ đã là cha nmẹ của chúng ta trong quá khứ. Vì không biết như vậy, họ cố gắng giữ hết sức để làm hại chúng ta, cứ như là họ đã bị quỷ vô minh làm cho điên cuồng. Ngược lại, vì biết họ là cha mẹ cũ nên chúng ta tránh đáp trả lại sự sân hận và kình địch mà hãy làm những gì chúng ta có thể làm được để giúp họ.

            Chúng ta nên suy ngẫm cẩn thận về điều này cho đến khi thực sự cảm thấy biết ơn lòng tử tế mà họ đã dành cho chúng ta trong quá khứ. Cách suy nghĩ như vậy sẽ được đáp lại bằng từ bi thay thế thù địch. Một khi chúng ta khởi lòng yêu thương và biết ơn với họ chúng ta sẽ không tức giận một cách vô lý. Chúng ta nên nghĩ về họ : "Người này đã tử tế với mình trong quá khứ", vậy giờ đây mình phải hết sức giúp đở và giúp họ thỏa mãn ý nguyện. Họ cũng giống như chúng ta, cũng muốn có hạnh phúc và tránh đau khổ, vì vậy chúng ta hết sức giúp họ đạt hạnh phúc. Chúng ta biết rằng nguyên nhân của hạnh phúc là hành động đức hạnh, do đó chúng ta nên khéo léo tìm cách tạo hoàn cảnh thuận lợi cho những người thù địch để họ có thể dùng thân, khẩu, ý của họ làm những việc tốt, tạo cơ hội để họ gieo nhân tốt và nhận được nghiệp quả tốt sau này.

            Chúng ta phải hiểu rằng muốn đạt giác ngộ viên mãn thì phải thực hành sáu hạnh hoàn hảo hay sáu ba la mật, một trong những hạnh đó là nhẫn nhục. Nếu không có những người kình địch và sân hận với mình thì chúng ta không có cơ hội để thực hành hạnh nhẫn nhục, chúng ta không có dịp để trau dồi đức tính cần thiết này. Như vậy người có hành động thù nghịch với chúng ta chính là người làm ơn cho chúng ta. Tình trạng kình địch mà người đó đang tạo ra là một cơ hội tuyệt hảo để chúng ta luyện tính nhẫn nhục. Xét như vậy, người đó không còn là kẻ thù của chúng ta nữa, mà là một người bạn tinh thần đang giúp chúng ta phát triển những đức tính cần thiết cho sự giác ngộ. Thực hành hạnh nhẫn nhục như vậy, mỗi khi chúng ta bị khinh khi, chỉ trích, hoặc bị người khác phơi bày những sự lỗi lầm của mình, thì chúng ta mới có thể thanh lọc vô minh chất chứa trong tâm ta.

            Giáo lý dạy rằng không có gì tai hại hơn sân hận, vì một cơn giận có thể làm tiêu tan tất cả công đức được tích lũy trong hàng ngàn kiếp. Và không có gì quý bằng đức tính nhẫn nhục, vì nhẫn nhục có năng lực thanh lọc tất cả những nghiệp xấu tích lũy trong hàng ngàn kiếp. Nếu muốn giác ngộ viên mãn, thì chúng ta nhất định phải có đức tính nhẫn nhục. Nhẫn nhục là một trong những đức tính chính yếu tạo nên tâm giác ngộ. Để phát triển đức tính này chúng ta đối mặt với người thù lẫn nghịch cảnh theo nghĩa trừu tượng. Vì vậy, tất cả những ai khinh bỉ hay thù địch với ta đều là bạn, vì họ tạo cơ hội lý tưởng để chúng ta luyện tính nhẫn nhục, thanh lọc nghiệp xấu đã được tạo tác trong quá khứ và giải trừ những vô minh hiện tại.

            Nếu ta không trông thấy những người đói khát, nghèo khổ thì không thể phát triển lòng từ bi và hạnh bố thí. Không có từ bi và hảo tâm hay những phẩm tính tương tự thì chúng ta không bao giờ có thể giác ngộ. Những cảnh nghèo đói thật là cần thiết cho chúng ta, vì thấy người khác trong hoàn cảnh khốn khó nên lấy đó làm phương tiện tốt nhất để tu tập các hạnh lành.

            Có thể nói rằng, những người khác giúp chúng ta đạt giác ngộ nhiều hơn là chư Phật giúp chúng ta. Trong sáu hạnh hoàn hảo bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí huệ thì chỉ có ba đức tính bố thí, trì giới và nhẫn nhục là có thể được trau dồi trong sự hợp quần với người khác. Chúng sinh là những người có công tạo điều kiêïn cho chúng ta luyện tập những đức tính này. Để thực hành hạnh bố thí cần phải có những người làm đối tượng cho hảo tâm của chúng ta. Hạnh lành chỉ có thể được xét theo mối liên hệ giữa chúng ta với người khác, vì trì giới hay hạnh tốt được định nghĩa là không làm điều gì có hại cho người khác về thân, khẩu, ý. Chúng ta đã biết rằng nhẫn nhục nghĩa là không có thái độ xấu nào đối với người khác. Vậy, chúng ta dễ thấy rằng ba đức tính này không thể phát triển trong sự thiếu vắng người khác.

            Do đó, sân hận người khác khi họ giúp ta cơ hội luyện đức tính nhẫn nhục là vô lý. Người ta nói rằng ngay cả viêïc Đức Phật Thích Ca giác ngộ sớm hơn Đức Di Lặc cũng là nhờ vào hành vi thù địch của người anh họ Đề-bà-đạt-đa (Devadatta) của Ngài. Chúng ta phải hiểu rằng nhờ vào các lực đối nghịch đó mà chúng ta có thể phát triển những phẩm tính như từ bi, vốn không thể thiếu trên con đường tiến tới giác ngộ.

            Đạo sư Tilopa (Ấn Độ, thế kỷ mười một) nói rằng, ai muốn giác ngộ nhanh thì không nên tìm bạn tốt, trái lại dành nhiều thời gian để giao tiếp với người xấu. Vì nếu chỉ có bạn tốt mà không có ai kình địch, không ai thử thách thì các cảm xúc của chúng ta sẽ gia tăng, còn các đức tính thì không có dịp phát triển. Nếu chúng ta dành thời gian tiếp xúc với người xấu, chúng ta luyện được tính nhẫn nhục, và kết quả là chúng ta mau giác ngộ hơn.

            Nếu những phương pháp nói trên không thể hóa giải sân hận, thì hãy tưởng tượng kẻ thù địch trước mặt chính là mẹ mình. Chúng ta quán tưởng như vậy nhiều lần cho đến khi có cảm giác người đó thực sự là mẹ mình, và hãy nghĩ tiếp rằng kẻ thù hiện tại này đã nhiều lần là mẹ mình trong các kiếp trước, do đó không có lý gì để mình thù ghét người này.

            Một cách khác mà chúng ta có thể dùng là quán tưởng chính mình là kẻ thù địch, và kẻ thù địch chính là mình trao đổi hai nhân vật, mà cũng là trao đổi hai cảm giác của đôi bên. Chúng ta luyện cách nhìn sự việc từ quan điểm của bên đối nghịch. Chúng ta nên quán tưởng như vậy nhiều lần, cho đến khi thực sự thay thế ý muốn và quan điểm của mình bằng thái độ và tư tưởng của người thù địch đó.

            Chúng ta thường chỉ chú trọng tới ý kiến của chính mình mà quên cách suy nghĩ về mình theo như người khác nhận xét, và nghĩ về người khác như họ nhận xét chính họ. Chúng ta thay đổi cách nhìn sự vật bằng cách đặt mình vào vị trí của người khác. Sự chuyển đổi thái độ này rất có lợi cho việc khắc phục tất cả cảm xúc, đặc biệt là cảm xúc của sân hận.

            Bằng việc luyện tập các hạnh Bồ tát, dần dần chúng ta sẽ quen với việc ban cho người khác mọi thành công và tự nhận mọi thất bại và khó khăn về mình.

            Pháp đối trị sân hận tốt nhất là thiền quán về đức tính từ bi. Đó là phương pháp thiền quán chính yếu của truyền thống Kinh điển (Kinh Điển Thừa) với 21000 quyển kinh, trong đó có nhiều quyển chứa giáo lý đặc biệt về từ bi.

            Nhiều nguời thấy việc trưởng dưỡng lòng từ bi và tánh nhẫn nhục rất khó. Thậm chí chúng ta còn cảm thấy đó là việc bất khả, nhưng chúng ta không nên tuyệt vọng, vì đó chỉ là vấn đề tập luyện. Nếu chúng ta không ra sức trau dồi thường xuyên những phẩm tính này thì tất nhiên chúng ta không thể đạt được chúng.

                3.-Những giải pháp cho Vô minh và Hôn trầm

                  Pháp đối trị thứ nhứt cho vô minh hay ngu si là ghi nhớ mười hai giai đoạn trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca: giáng hạ từ cõi Đâu Xuất; nhập bào thai; sinh ra đời; biểu lộ tài năng trong các học thuật; du hí với phụ nữ; từ bỏ lối sống thế gian; thực hành khổ hạnh; thiền định dưới cội Bồ đề; nhiếp phục ma quỷ; giác ngộ; chuyển pháp luân và nhập Niết bàn.

            Phương pháp thứ nhì là nghiên cứu thấu đáo mười hai nhân duyên, một chuổi các sự kiện lần lượt là nhân và quả của nhau trong luân hồi: vô minh, hành (tập hợïp của nghiệp quá khứ), thức (tâm thức), danh sắc (thân tâm), lục nhập (các cảm giác), xúc, thọ (cảm tưởng), ái (tham), thủ (chấp giữ), hữu (hiện hữu, nghiệp hiện tại), sinh, lão, tử.

            Nguồn gốc của luân hồi là vô minh. Vô minh sinh ra các niệm tưởng khác nhau trong tâm và những niệm tưởng này phát sinh một loạt những sự kiện dẫn tới những kinh nghiệm sau cùng là sinh, lão, tử. Đó là tiến trình luân hồi mà tất cả chúng sinh đều phải trải qua từ kiếp này sang kiếp khác. Chư Phật là những người đã thoát luân hồi (chu trình đau khổ được vận hành bởi vô minh). Tiến trình này được tượng trưng bằng một bánh xe, chính là vì tính chất xoay chuyển không ngừng của nó.

            Dù chúng ta sinh ra từ bào thai, từ trứng hay nơi ẩm ướt như vi trùng, hoặc sinh ra một cách tự nhiên như một vị hóa thần ở cõi trời thì vẫn có một điều chắc chắn là cuộc đời của chúng ta sẽ kết thúc với cái chết. Không thể tránh sự chết và sự tái sanh. Chúng sinh không ngoại lệ đều phải trải qua kinh nghiệm này. Đó là lý do trong các tranh vẽ theo truyền thống, bánh xe luân hồi được giữ trong miệng của Diêm Vương, hay Thần Chết, có hình dạng khổng lồ và quái đản. Sáu cõi luân hồi nằm ở giữa bụng Diêm Vương vì mọi sinh vật phải chuyển từ kiếp này qua kiếp khác.

            Bên trái của cổng vào các tu viện có hình vẽ bánh xe luân hồi để nhắc nhở mọi người, tăng cũng như tục.

            Người nào chấm dứt được sự vô minh của mình thì người đó tự động làm ngừng những mắc xích khác của mười hai nhân duyên, từ các niệm tưởng của tâm thức cho tới già và chết. Tiến trình này được đảo ngược và chấm dứt với việc thoát luân hồi. Ở bên phải cổng tu viên là hình vẽ bánh xe pháp có màu trắng tượng trưng cho sự thanh tịnh, tám căm xe tượng trưng cho Bát chánh đạo, là pháp mà Đức Phật đã dạy với mục đích chấm dứt mười hai nhân duyên gây ra luân hồi.

            Vô minh hay ngu si thực sự nghĩa là gì? Tâm vô minh là tâm không biết chính mình, không hiểu chân như của mình. Vì vô minh , mà chúng ta vướng vào luân hồi, lang thang từ kiếp này sang kiếp khác, tìm hạnh phúc một cách vô vọng. Vô minh sẽ chấm dứt lúc nhận ra tâm chân như của mình, và lúc đó chúngta bước vào con đường của những đấng cao quý, đường đạo thoát khổ của các Bồ tát. Vậy việc làm chính yếu của chúng ta là loại bỏ vô minh để nhận ra chân tánh của mình.

            Để chống lại vô minh, chúng ta không nên ngủ nhiều mà phải ngủ trể, dậy sớm. Để giúp vấn đề này, chúng ta dán vào cột nhà những biểu tượng thanh tịnh của chư Phật. Thay vì ngủ, chúng ta nhiễu quanh cột tỏ lòng tôn kính những biểu tượng này, hay phục lạy hoặc niệm chú. Như vậy chúng ta không để cho tâm hao phí thì giờ với giấc ngủ, vốn là sự biểu lộ của vô minh.

            Nói cách khác để giảm thiểu tính ham ngủ, khi nào thấy buồn ngủ chúng ta hãy tưởng tượng mình đang đội một cái đèn trên đỉnh đầu, và tập trung tâm vào ngọn lửa, hình dung chiếc đèn thật rõ ràng. Pháp quán tưởng này có khả năng tiêu trừ sự hôn trầm, do đó rút ngắn thời gian ngủ cần thiết.

            Trong Luận Tạng, thiền quán về mười hai nhân duyên được coi là pháp đối trị tốt nhất cho vô minh hay sự mê muội của tâm.

                4.- Hủy diệt kiêu ngạo và tự cao

                     Loại cảm xúc độc hại tiếp theo cần phải đối trị là kiêu ngạo. Để hóa giải tính kiêu ngạo chúng ta hãy quán sát như sau:

            Trải nhiều đại kiếp mình đã lang thang trong luân hồi vô tận. Mình thật là cứng đầu, vì dù phải trải qua bao đau khổ, mình vẫn trơ trơ, luôn luôn sẵn sàng lăn trôi sinh tử.

            Khi nào tâm hậu quả bị xâm chiếm bởi những tư tưởng liên quan tới năm cảm xúc độc hại, chúng ta không nên làm gì cả. Đây chính là lúc làm theo những lời dạy của Đức Phật. Đức Phật là pháp vương là Vua của các giáo lý, và những lời dạy của Ngài phải được coi là mệnh lệnh của một vị vua đầy uy quyền, nếu không tuân theo thì chịu hậu quả nghiêm trọng. Nếu có những cảm xúc khuấy động tâm trí mà chúng ta không biết hành động đúng cách thức như Đức Phật đã dạy, thì chúng ta sẽ còn phải tái sinh hàng trăm, hàng ngàn kiếp trong những cõi thấp.

            Cần phải ngăn chận hoạt động của năm cảm xúc, và cách độc nhất để kiềm chế những cảm xúc là thực hành giáo lý của Đức Phật. Không như vậy, những cảm xúc sẽ tiếp tục gây rối loạn và làm cho chúng ta rơi vào những cõi thấp và đau khổ trong nhiều kiếp.

            Chúng ta biết rằng một khi sinh ra ở thế gian này sớm muộn gì chúng ta sẽ chết và lúc chết không phải là một kinh nghiệm dễ chịu đựng. Nhưng nếu chúng ta không làm theo những lời dạy của Đức Phật về cách đối trị các cảm xúc, thì sự đau khổ mà chúng ta chịu vào lúc chết sẽ được nhân lên một trăm ngàn lần. Nếu biết cách thay đổi những khuynh hướng cảm xúc của mình, chúng ta sẽ hành động một cách đạo đức. Lúc đó, dù phải chết, nhưng cái chết như không hiện hữu đối với chúng ta, vì vào lúc chết chúng ta tái sanh tức khắc với một thân thể tốt và một cuộc sống thật dễ chịu, vậy phải tránh mọi đau khổ vào lúc chết.

                5.- Những ý tưởng giúp chúng ta bỏ cảm xúc

                     Nếu chúng ta từ bỏ giới nguyện vì tham muốn một cái gì đẹp đẻ hay hấp dẫn, thì như vậy giống như con thiêu thân lao đầu vào lửa, chúng ta tự gây ra sự hư hoại của mình.

            Khi tâm bị xâm chiếm bởi một khối cảm xúc rối loạn bất an, chúng ta có thể bám vào cảm giác mờ nhạt về một sự dễ chịu và an toàn do tâm trạng này sinh ra. Tình trạng này cũng nguy hiểm như ngủ trên nệm rơm trải trên than nóng; rơm có thể bốc cháy bất cứ lúc nào.

            Nếu chúng ta từ bỏ giới nguyện của mình về ẩm thực để uống quá nhiều rượu hay ăn quá nhiều thịt, thì thú vui đó giống như liếm mật ong dính trên lưỡi dao cạo, có nguy cơ bị đứt lưỡi.

            Chúng ta có thể tìm cách đánh phá kẻ thù địch, giết họ và cướp tài sản, nhưng chúng ta không bao giờ thắng tất cả kẻ địch. Ngược lại, làm như vậy là chúng ta cướp hạnh phúc của chính mình không chỉ trong một kiếp mà là vô số kiếp. Hơn nữa công đức mà chúng ta đã tích lũy qua nhiều kiếp có thể bị tiêu tan hết chỉ vì một lúc tức giận. Vậy chúng ta cần xem mình có những lỗi lầm nào hay không. Những lỗi lầm cần phải được loại bỏ và thay thế bằng những tính tốt. Nếu không nhận lỗi, chúng ta sẽ mỗi lúc mỗi kiêu ngạo hơn. Sự kiêu ngạo làm cho chúng ta coi lỗi lầm của mình là những đức tính và đối xử xấu với người khác. Người khác bị thuyết phục phải chia xẻ ý kiến của ta về chính mình, và trên hết chúng ta tự cho mình đúng do nhận lầm những bợn dơ trong tâm trí của mình là trong sạch.

            Những điều giả dối này, sẽ làm cho chúng ta lẫn người khác tái sanh vào những cõi thấp, vì vậy, phải liên tục thực hành giáo pháp để sám hối tội lỗi và ngăn chận những hậu quả xấu có thể sinh ra từ tội lỗi đó.. Chúng ta phải bắt đầu bằng việc tìm xem mình có những lỗi làm nào rồi ứng dụng những giáo lý đã học được vào việc tiêu diệt những lỗi lầm đó. Khi tâm chúng ta không còn lỗi lầm nào cả, thì mọi hành động của chúng ta sẽ hoàn hảo, sớm đạt sự thanh tịnh đích thực của Phật quả, giác ngộ viên mãn.

            Việc nhìn thấy lỗi làm trong tâm sẽ tự động làm cho chúng ta cảm thấy hổ thẹn và do đó giải trừ tính kiêu ngạo.

                6.- Pháp đối trị ganh tị

                     Tính ganh tị cũng được đối trị bằng thực hành quán sát tương tự. Chúng ta nhớ lại lúc mình thọ giới Bồ tát. Trong lễ thọ giới, chư Phật chứng giám lời thệ nguyện của chúng ta về việc đạt giác ngộ vì lợi ích của chúng sinh sau khi mình giác ngộ, cũng giúp chúng sinh giác ngộ.

            Chúng ta thệ nguyện cư xử đức hạnh, tạo nghiệp tốt để giúp đở và luôn luôn làm việc vì lợi ích chúng sinh. Chúng ta cũng thề sẽ cầu nguyện liên tục cho người khác, mong cầu họ được hạnh phúc và tạo được nhân lành đem lại hạnh phúc.

            Vậy chúng ta không được quên tất cả những lời thệ nguyện này, để mỗi lần trông thấy những người nào hạnh phúc hay thành công, người nào khá giả hơn hay đạt được nhiều hơn mình, chúng ta lại ganh tị và ghét họ. Nếu đó là phản ứng thì chúng ta đã làm ngược lại tất cả những lời thệ nguyện trước của mình. Để chống lại phản ứng ganh tị này, mỗi lần thấy người nào hạnh phúc, chúng ta hãy vui vì hạnh phúc của họ. Đó là pháp đối trị cảm xúc ganh tị.

            Chúng ta phải hiểu rằng, cảm giác ganh tị khi thấy người nào hơn mình sẽ sinh ra hậu quả xấu là tái sanh vào địa ngục hay vào cõi của loài bán thần A tu la với tất cả mọi đau khổ của những cõi này. Vì vậy chúng ta phải suy ngẫm thật cẩn thận để hóa giải tính ganh tị của mình.

            Đến đây là chấm dứt phần thứ nhì bàn về cách đối trị những cảm xúc. Những phương pháp đối trị được trình bày trong phần này, tương ứng với những phương pháp có trong Kinh điển thông thường của Đại thừa cũng như Tiểu thừa.


Giới thiệu | chương 1 | chương 2 | chương 3 | chương 4 | chương 5

 


Vào mạng: 27-11-2001

Trở về mục "Đạo đức-Tâm lý học Phật giáo"

Đầu trang