Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt    

   

...... ... ..  . ..  .  .
HAI KHUÔN MẶT TÂM THỨC
Nguyên tác Tây Tạng: Lama Gendun Rinpoche
Dịch sang tiếng Anh: Anila Rinchen Palmo
Việt dịch: Lục Thạch

1
TỪ BỎ CẢM XÚC

            Phần thứ nhất này nói về việc từ bỏ năm độc (hay năm cảm xúc tham, sân, si, ganh tị, kiêu mạn) dựa trên giáo lý Tứ diệu đế của Đức Phật. Ngài định nghĩa sự khổ, nguyên nhân của khổ. Để dứt khổ, ta phải diệt nguyên nhân của khổ, nghĩa là chúng ta phải cư xử một cách đức hạnh. Đức Phật dạy: "Hãy so sánh mình với người khác". Câu này có nghĩa hãy đối xử với người khác giống như mình. Chúng ta biết rõ là mình không thích đau khổ, vậy chúng ta có thể dễ dàng hiểu là người khác cũng không muốn đau khổ, do đó chúng ta sẽ không nghĩ tới chuyện làm hại người khác.

                1.- Luật nhân quả

                     Theo lời Phật dạy: "Mọi sự vật trong vũ trụ đều từ nhân duyên mà có". Do luật nhân quả tự nhiên này, tự thân chúng ta và thế giới mà chúng ta sống chỉ là kết quả của những hành động trong quá khứ của chúng ta. Thế gian là do tâm chúng ta tạo ra, và được cảm nhận tùy theo ảo giác sản sinh bởi các hành động trong quá khứ hay nghiệp của chúng ta. Loại thế giới mà tâm phóng chiếu giống như một giấc mơ tùy thuộc vào biệt nghiệp của chúng ta. Thí dụ, có hạng chúng sinh với đau khổ thường trực, không có một khoảnh khắc nào sung sướng cả. Đó là những chúng sinh ở địa ngục, ở loại ngạ quỷ, hay súc sinh. Nguyên nhân là trong một thời gian dài, họ đã không làm một việc tốt nào cả. Thế giới hay cuộc sống của họ là kết quả của một tập hợp toàn những nghiệp xấu, làm phát sinh một cảnh giới có đặc tính đau khổ.

            Giáo lý của Đức Phật dạy: "Từ đâu mà có sàn địa ngục bằng sắt nóng chảy, cái gì sinh ra lửa địa ngục? Đơn thuần chỉ là tâm vị kỷ". Vị kỷ là thái độ sinh ra những hành động xấu. Thế giới mà chúng ta đang sống chỉ là những hình tướng giả ảo do tâm của chúng ta hiển lộ ra. Chính tâm của chúng ta tạo ra thế giới mà chúng ta đang sống, và nếu tâm của chúng ta chứa đầy những nghiệp xấu, kết quả của những hành động xấu trong quá khứ, thì thế giới do tâm đó phóng chiếu ra sẽ có tính chất đau khổ.

            Không phải chỉ có một địa ngục, mà có tới mười tám địa ngục, mỗi địa ngục là một loại đau khổ. Những sinh linh thọ trong những cảnh giới này do quá khứ đã gây nhiều tội lỗi và ở các mức độ khác nhau, vì vậy mà có nhiều địa ngục. Trong cõi ngạ quỷ cũng vậy. Có bốn loại quỷ đói. Mỗi loài chịu một hình thức đau khổ đặc biệt. Tất cả đều liên quan tới đói và khát. Chúng ta có thể thấy cảnh khổ của các loài thú sống dưới nước, trên mặt đất, và trên không. Mộ số loài chịu khổ vì bị loài người dùng làm vật sở hữu và khai thác, những loài khác thì sống tự do nhưng luôn luôn lo sợ bị săn bắt.

            Nhìn về các cõi cao hơn chúng ta cũng thấy nhiều cảnh khổ. Trong cõi người, có người được hưởng hạnh phúc, trong khi những người khác phải gánh chịu rất nhiều đau khổ. Trong quá khứ, ở những kiếp làm người trước kia ta đã làm cả những việc thiện lẫn việc ác, những nguyên nhân này sẽ chín rải rác trong cuộc đời thành quả tốt và xấu có cả hạnh phúc lẫn đau khổ. Vậy, cõi người không hoàn toàn sung sướng mà cũng không hoàn toàn khổ cực.

            Chúng sinh ở các cõi thấp được sánh nhiều như hạt cát trên một khu đất lớn, còn những người được sinh ra trong cõi người và các cõi trời thì chỉ bằng số cát trên một khoảnh đất nhỏ cở móng tay, đó là vì có quá ít người trong vũ trụ làm những việc lành, và có quá nhiều người gây tội lỗi.

            Người ta có thể cho rằng không nên nghĩ gì về đau khổ, vì như vậy chỉ làm cho mình u uất. Nhưng thái độ như vậy chỉ là sự đánh lừa chính mình. Nếu không nghĩ tới đau khổ thì không bao giờ có hạnh phúc thực sự, vì chúng ta vẫn giữ sự rối loạn tâm trí (vô minh). Vô minh là nguyên nhân đau khổ của mình. Một khi nhận thấy tính chất đau khổ nơi thế gian, chúng ta sẽ cảm thấy cần làm một việc gì đó góp phần vào việc chấm dứt những đau khổ này. Có thể nói là, chúng sinh chịu tội trong địa ngục là những người giúp chúng ta nhiều nhất trong nổ lực thành Phật, vì do nghĩ tới cảnh khổ của họ mà lòng từ bi thúc đẩy chúng ta tiến tới Phật quả càng sớm càng tốt. Đức Phật cũng dạy rằng nếu muốn biết quá khứ của mình, chúng ta chỉ quan sát mình hiện tại, và muốn biế tương lai của mình, chúng ta chỉ cần nhìn vào những hành động hiện tại của mình. Nghĩa là muốn biết về kiếp trước của mình, chúng ta hãy nhìn vào kiếp hiện tại với những đau khổ và hạnh phúc, rồi chúng ta có thể suy luận về những hành động đã làm trong kiếp quá khứ. Và nếu muốn biết điều gì sẽ xảy ra cho chúng ta sau khi chết, một khi đã biết rằng những gì chúng ta làm trong đời này sẽ quyết định kiếp sau, thì chúng ta chỉ cần nhìn qua lối sống của mình hiện tại là có thể biết trước cuộc đời của mình sẽ ra sao trong kiếp sau. Luật nhân quả hết sức vô tư, không thay đổi. Một hành động nào đó luôn luôn sinh ra cùng một kết quả tương xứng đối với bất cứ ai nếu người đó đã gây ra. Cũng không có một hành động nào chúng ta làm mà lại mất đi hay bị lãng quên. Hành động nào cũng sinh ra kết quả tương ứng, dù sớm hay muộn.

            Do lời dạy của Đức Phật mà chúng ta được biết về luật nhân quả. Trong đại định Đức Phật thấy cảnh vận hành của luật nhân quả, và Ngài giải thích luật này một cách rõ ràng để mọi người có thể hưởng lợi ích do tri kiến và ứng dụng vào đời sống của họ.

                2.- Nhân quả và hạnh phúc

                     Tất cả loài người đều có những ý nguyện giống nhau. Chúng ta đều muốn có hạnh phúc và tránh đau khổ. Nhưng mặc dù chúng ta đã hết sức ngăn chặn mọi điều không may có thể xảy tới với mình, chúng ta vẫn thấy, mình là nạn nhân của hoàn cảnh,  cảm thấy bất lực trước mọi tình huống mà mình gặp. Cảm giác bất lực này là do sự tác động của luật nhân quả. Hạnh phúc hay đau khổ của chúng ta trong hiện tại đã được quyết định bởi những hành động của chúng ta đã làm trong kiếp trước, vì vậy cảm giác không thể giúp gì cho tình trạng hiện tại của mình. Chúng ta tranh đấu một cách vô ích chỉ vì không hiểu rằng có những việc trong cuộc đời này đã được định trước.

            Chúng ta nên nghĩ tới tương lai của mình bằng cách thay đổi lối hành xử hiện tại để có thể đạt được những quả tốt trong tương lai. Nếu chúng ta muốn có hạnh phúc mai sau thì hôm nay chúng ta phải làm những điều tốt. Nếu muốn tránh đau khổ trong tương lai thì hiện tại phải tránh làm điều xấu.

            Những hành động của chúng ta luôn luôn sinh ra quả tương ứng không hề sai biệt. Giống như trồng cây, trồng hạt táo, thì có cây táo quả táo, trồng hạt cam thì có cây cam trái cam; nhân nào quả nấy. Bất cứ hành động nào cũng có lúc chín múi để trưởng thành hạnh phúc hay đau khổ tùy theo nguyên nhân gây ra hành động. Không thể thay đổi luật tự nhiên này. Vì vậy chúng ta phải cẩn thận trong mọi việc làm, nếu muốn hái quả hạnh phúc thay vì những trái đắng.

            Hành động tốt hay xấu là tùy vào trạng thái tâm thức của chúng ta khi hành động. Nếu lúc hành động chúng ta chỉ nghĩ tới mình, thì hành động đó bị ô nhiễm bởi tính ngã chấp, và không thể sinh ra quả tốt. Nếu khi hành động chúng ta nghĩ tới lợi ích của người khác, thì đó là hành động tốt và sẽ sinh ra quả hạnh phúc.

            Tất cả những hình thức hạnh phúc, tốt lành hay may mắn mà chúng ta thấy trong thế gian, như của cải, lòng thỏa mãn, sự hòa hợp với người khác, có óc sáng tạo, và những việc khác, đều được thực hiện bởi sự hộ trì của chư Phật. Điều này làm cho các Bồ tát phát nguyện tu tập tinh tấn trên đường đạo, để có thể thực hiện mọi ước muốn của chúng sinh. Các Bồ tát hồi hướng công đức của mình để chúng sinh đạt được niềm hạnh phúc mà họ đang tìm kiếm. Do ý nguyện đặc biệt đăït căn bản trên việc thực hành các đức hạnh mà thế gian có khả năng hưởng hạnh phúc.

            Nhưng một cá nhân chỉ có thể hưởng hạnh phúc, khi người đó đã tích lũy nhiều nghiệp tốt. Người ta vẫn chịu nhiều loại đau khổ, đó không phải là do ý nguyện của các Bồ tát không có hiệu quả, mà do nghiệp xấu của họ vẫn  còn quá nặng nề.

            Chúng ta nên theo gương các Bồ tát tạo công đức càng nhiều càng tốt và hồi hướng những công đức này cho chúng sinh, để góp phần xây dựng hạnh phúc cho họ. Sau khi hồi hướng công đức, chúng ta nên tiếp tục phát nguyện, giống như các Bồ tát, nguyện rằng với những công đức như vậy, chúng sinh sẽ có hạnh phúc và thịnh vượng. Bằng cách này, chúng ta tu luyện dần dần để trở thành Bồ tát.

            Trong sáu cõi luân hồi, cõi trời là nơi chúng sinh sống như những vị thần (vị trời), hoàn toàn hạnh phúc và không biết tới đau khổ. Đó là do phước báu được tạo ra trong những kiếp trước của họ, các phước báu này không có liên quan tới trí huệ, chúng bị giới hạn bởi các ý niệm, những điểm tham chiếu cho tâm, làm cho tâm bị kẹt trong các ý tưởng hạn chế về chủ thể hành động, đối tượng thọ lãnh và hành động. Thí dụ, họ chấp giữ ý tưởng người bố thí, kẻ nhận của thí và hành động bố thí. Một người tạo công đức loại này không biết cách để cho tâm trụ trong trạng thái trí huệ. Không có các ý tưởng hạn chế chủ thể, đối tượng và hành động. Người đó không hồi hướng việc thiện của mình cho chúng sinh. Kết quả của những phước báu đó là tái sanh trong các cõi trời. Hạnh phúc ở những cõi này cũng không bền vững, và khi thiện nghiệp không còn nữa thì những người đó sẽ rơi xuống những cõi thấp thọ nhiều đau khổ.

            Chúng ta không nên nhắm tới việc tái sinh trong cõi trời, mà nên hồi hướng tất cả công đức vì lợi ích chúng sinh, và sau mỗi lần hồi hướng nên để cho tâm trụ trong trạng thái hoàn toàn mở rộng, không có một điểm tham chiếu nào (vô trụ), tức là trong trạng thái không có ý tưởng chủ thể, đối tượng và hành động. Công đức mà chúng ta tích lũy, sẽ không bao giờ bị cùng cạn mà trở nên công đức vô lượng.

            Nếu chúng ta thành tâm thực hành giáo pháp của Đức Phật, chúng ta phải từ bỏ tất cả mọi ý tưởng thiên về vật chất, thế gian và cống hiến trọn vẹn bản thân (thân, khẩu, ý) cho mục tiêu tâm linh của mình. Chúng ta phải hồi hướng kết quả các việc làm của mình vì lợi ích chúng sinh. Như vậy chúng ta sẽ tiến dần qua các giai đoạn của Bồ tát đạo, cho đến khi đạt giác ngộ, viên mãn tối thượng. Vào lúc đó chúng ta thoát tất cả đau khổ, và hơn nữa, có khả năng giải thoát người khác khỏi đau khổ. Hoạt động của chúng ta sẽ trở nên rộng lớn hơn như bầu trời, chúng ta có thể hành động vô giới hạn với nhiều nguồn năng lực chưa được biết trước đây dành cho chúng ta.

            Vậy, cần phải biết và tin tưởng vào sự vận hành của luật nhơn quả bất biến này. Chỉ khi nào hiểu rõ luật nhơn quả này chúng ta mới có thể hiểu thấu đáo tính chất không đáng thỏa mãn của luân hồi(1).

******

(1) Tóm lại, nghiệp quả của chúng sinh có sai khác là do niệm khởi trong quá khứ, ví như không đổ lúa xuống sân thì chim  không đến, hay đường không rớt xuống nền thì kiến không bu.

******

                3.- Cảm xúc và cái ta

                     Về mặt chân lý tối hậu, kiếp luân hồi không có một sự thật nào cả. Nhưng khi tâm còn vô minh thì không biết điều này và nó tạo ra một sự thật của riêng nó. Trong tâm của mỗi cá nhân có một niệm tưởng vi tế về bản ngã hay cái "ta", một cảm giác về chính mình, và dần dần cảm giác này đông cứng lại thành điều mà chúng ta gọi là ngã chấp, bám giữ vào cái ta.

            Ý tưởng về bản ngã tự động hàm ý "người khác", và với ý tưởng "mình" và "người" này, chúng ta sống trong thế giới nhị nguyên. Tâm chúng ta bị ảnh hưởng bởi lối xét đoán về liên hệ giữa mình và người khác. Chúng ta phân biệt người thân, kẻ sơ, người đáng ưa và kẻ đáng ghét. Những phản ứng này dẫn tới việc tâm chúng ta bị quấy nhiễu liên tiếp bởi năm trạng thái cảm xúc căn bản và việc này làm cho thái độ của chúng ta sản sinh một phản ứng có hệ thống (nhân sinh quan và thế giới quan). Khi những phản ứng này chín mùi, chúng sẽ quyết định hình thức thế giới quanh ta.

            Như vậy giống như ngủ mơ. Trong giấc mơ chúng ta coi thế giới mộng do tâm tạo ra là thật, và chúng ta hao tốn năng lực để hoạt động phản ứng những sự kiện trong giấc mơ, khi không thành công chúng ta thất vọng và đau khổ. Cuộc sống lúc thức của chúng ta đích thực giống như vậy. Chúng ta hoạt động trong đời sống hàng ngày là để đạt được những điều mong muốn , nhưng chúng ta thường không thành công. Khi chúng ta đạt được mục tiêu thì lại phải đối diện với vấn đề giữ cho nó khỏi mất. Chúng ta không thể tránh được tất cả những tình trạng xấu có thể tới với mình. Cũng như thế, thuận cảnh tốt dầu muốn nó cũng không tự đến. Cuộc đời của chúng ta đầy thất vọng. Khi trời mưa chúng ta không thích ướt, khi trời nắng chúng ta lo thiếu nước. Không có gì là hoàn toàn cả. Do sự đòi hỏi của bản ngã mà có những phản ứng khác nhau này. Vì vậy Đức Phật dạy rằng ngã chấp là gốc rễ của luân hồi.

            Tất cả những cảm xúc căn bản mà chúng ta kinh nghiệm, tham, sân, si, ganh tị và kiêu mạn được hoạch định để sản sinh một thứ lợi ích nào đó cho bản ngả. Khi chúng ta hành động theo bản năng vì một cảm xúc, thì đó là để duy trì hiện hữu của bản ngã. Và vì muốn giữ cho mình sống còn mà chúng ta làm nhiều việc không đức hạnh, gây ra những quả xấu. Khi chết chúng ta không thể mang theo thứ vật chất nào cả, nhưng chúng ta lại phải mang theo tất cả những nghiệp xấu mà mình tạo ra vì bản ngã của mình.

            Nếu suy nghĩ cẩn thận về tính chất không đáng thỏa mãn của đời sống thế gian, chúng ta sẽ nhận thấy là đặc tính của nó là đau khổ. Vì vậy chúng ta nên nhắm tới Phật quả, quay tâm của mình khỏi những giá trị phù phiếm thế gian. Đó là nền tảng cho con đường tâm linh của chúng ta, và đó là lý do người ta nói rằng sự dứt bỏ là đôi chân của thiền định mà chúng ta dùng để đi tới giác ngộ trọn vẹn.

            Như một con người, phải chọn lối đi trước một ngã ba. Việc chọn lựa này tùy thuộc vào trình độ nhận thức của chúng ta. Nếu còn vô minh, chúng ta sẽ nghĩ rằng mình có thể tìm thấy hạnh phúc lâu bền trong thế gian này, và tất cả những nổ lực của chúng ta đang hướng tới sẽ tạo được hạnh phúc và tránh đau khổ. Nhưng nếu chúng ta không biết về những sự thật thế gian, thì mọi nổ lực đó đều vô ích. Chúng ta không thể tạo ra hạnh phúc lâu dài. Chúng ta tiếp tục đau khổ từ kiếp này sang kiếp khác, nếu chúng ta chọn sự tỉnh thức, thì điều này có nghĩa là chúng ta đã hiểu luân hồi là đau khổ. Điều duy nhất để chấm dứt hoàn toàn đau khổ là vượt lên trên lối sống thế gian thường tình và nhắm tới Phật quả.

            Là một con người, chúng ta phải quyết định như vậy, và dứt khoát ngay bây giờ nếu muốn có kết quả tốt trong tương lai. Còn nếu đợi đến lúc chết thì sẽ là quá trể.

                4.- Tứ diệu đế và các cảm xúc

                     Chúng ta thấy rằng nguồn gốc của đau khổ chính là những hành động xấu của chính ta. Mọi hành động chúng ta làm, nếu do ảnh hưởng bởi một trong năm độc thì đương nhiên là một hành động tiêu cực và sẽ có quả xấu. Chúng ta nên từ bỏ những hành động xấu do những cảm xúc phiền não này, nếu không chúng ta sẽ sống trong đau khổ. Hiểu như vậy tức là chúng ta hiểu điều thứ nhất của bốn chân lý cao quý, đời là khổ.

            Do bám vào ý thức bản ngã hay cái ta, chúng ta coi thân ngũ uẩn này là thật là chính ta rồi tự đồng hóa mình với nó. Thái độ này là nguyên nhân gây đau khổ, vì tâm chúng ta sẽ liên tục bị kích động bởi những cảm xúc, nó làm cho chúng ta hành động một cách tiêu cực, gây ra đau khổ. Đây là chân lý thứ nhì, nguyên nhân của sự khổ. Năm độc là nguyên nhân gây đau khổ, vì thế chúng tạo nên những hành động xấu.

            Nếu chúng ta chấm dứt mọi cảm xúc gây rối loạn tâm thức, thì chúng ta sẽ thoát khổ. Đây là chân lý diệt khổ.

            Chúng ta có thể đạt giác ngộ tối hậu, vượt qua mọi chướng ngại, trong đó có năm cảm xúc, bằng cách thực hành lần lượt những phương pháp tu tập mà Đức Phật đã dạy. Đây là đạo diệt khổ, là chân lý cao quý thứ tư hay tứ diệu đế, những giáo lý đầu tiên mà Đức Phật đã dạy ở thành Ba-la-nại vài ngày sau khi đấng Từ phụ thành đạo.

                5.- Những cảm xúc và sự tái sinh

                     Chương "Chim công lớn" nói tiếp rằng, nếu tâm chúng ta bị ảnh hưởng bởi cảm xúc tham dục thì hậu quả sẽ tái sinh làm ngạ quỷ; do ảnh hưởng của sân hận, chúng ta sẽ tái sinh trong địa ngục, nếu tâm chúng ta bị sự si mê ngự trị, chúng ta sẽ tái sinh trong loài súc sinh. Qua sự ganh tị, chúng ta sẽ tái sinh như một á thần (bán thần, A tu la), còn nếu bị ảnh hưởng mạnh của kiêu mạn, chúng ta sẽ tái sinh trong loài người hay trong một cõi trời. Đây chỉ là những điều trình bày tổng quát về những trạng thái cảm xúc mạnh, và không có nghĩa là mỗi lần giận, chúng ta lại tái sinh vào địa ngục, và những cảm xúc khác lại đưa chúng ta tới sự tái sinh vào những cõi khác. Luật nhơn quả phức tạp và tinh tế hơn thế nhiều.

            Nhưng nếu chúng ta giữ sự tức giận lâu dài, chẳng hạn như lúc hấp hối, thì hậu quả là chúng ta sẽ rơi thẳng xuống địa ngục. Sự tức giận còn có thể làm cho chúng ta tái sinh trong loài A tu la, nơi có nhiều cảnh đánh và cải nhau, hay sinh ra làm người trong hoàn cảnh thường có xung đột. Có thể chúng ta trở thành người dễ nổi giận, hay một người có tính hung hăng. Các cảm xúc khác cũng làm cho người ta tái sinh theo quy luật tương tự. Như đã nói, dù mỗi cảm xúc chiếm ưu thế trong từng cá nhân, nhưng chúng chỉ ở mức độ giới hạn nào đó. Nếu chúng ta tái sinh trong ba cõi thấp địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, sự đau khổ sẽ bức bách và triền miên, ngược lại sinh vào ba cõi cao thần, á thần và loài người thì hạnh phúc cũng có mức độ nào đó và chỉ trong những giai đoạn ngắn. Sớm muộn gì hạnh phúc trong đời người cũng bị thay thế bởi đau khổ, một sự thay đổi có thể xảy ra thật nhanh. Với bốn điều khổ lớn là sinh, lão, bệnh, tử chúng ta đắm mình trong nó mà không có khả năng giải thoát.

            Nguyên nhân của vấn đề này là hoạt động của năm cảm xúc trong tâm chúng ta, do đó phải từ bỏ chúng, chúng ta có thể thấy rằng mỗi người có một cảm xúc riêng chiếm ưu thế trong tâm. Ở một số người, đó là cảm xúc tham dục và sự đau khổ trong đời họ là do tham dục, vài người khác thì cảm xúc chính của họ là sân hận, hoặc ganh tị, làm cho mỗi người phản ứng một cách khác nhau trong một tình trạng nào đó.

            Mỗi người có một cảm xúc chiếm ưu thế hơn những cảm xúc khác đó là do hành động của chúng ta trong kiếp trước. Nếu quá khứ, hành động bị thúc đẩy chính yếu là sân hận, thì giờ đây nó là hình thức cảm xúc hoạt động nhiều nhất trong chúng ta. Nguyên tắc này cũng ứng dụng cho những cảm xúc khác. Nếu hiểu luật nhân quả, chúng ta sẽ biết lý do vì sao một vài cảm xúc có khuynh hướng vượt trội.

                6.- Lợi ích của việc từ bỏ cảm xúc

                     Muốn tránh đau khổ chúng ta phải từ bỏ tất cả những cảm xúc là nguyên nhân dẫn đến đau khổ. Nhưng chúng ta thấy khó chấp nhận ý tưởng từ bỏ cảm xúc, dù ý tưởng này muốn nói tới tất cả sự loại trừ đau khổ là hậu quả của những cảm xúc. Đó là vì chúng ta chịu sự tác động của tánh ngã chấp, không thích nghe những lời khuyên làm giảm ảnh hưởng của bản ngã mình. Chỉ có việc suy ngẫm thường xuyên về từ bỏ cảm xúc thì chúng ta mới có thể thay đổi thái độ, chấp nhận ứng dụng và thực hành lời dạy này.

            Nếu chúng ta chỉ ghi nhớ những lời dạy dễ dàng, có vẻ hấp dẫn với mình vì nó không làm phật ý hay thay đổi nhiều, thì khi chúng ta thực hành những lời dạy lẻ tẻ đó, kết quả là bản ngã sẽ trở nên mạnh hơn, vì nó đã chọn các lời dạy theo ý muốn riêng. Vậy chúng ta phải cẩn thận không phạm sai lầm này, và chấp nhận những gì Đức Phật dạy mà không tự ý lựa chọn.

            Khi bị kích động bởi năm cảm xúc, chúng ta thường dễ dàng đón nhận những ý tưởng khác nhau phát sinh trong tâm trí. Chỉ khi thực sự kinh nghiệm hậu quả đau khổ trong ba cõi thấp thì chúng ta mới bớt hứng khởi.

            Bao nhiêu Đức Phật đã thị hiện trên thế gian để dạy bảo, thế mà mình không biết dùng kho giáo lý đó để thoát luân hồi. Chỉ riêng trong kiếp này, mình đã chứng kiến nhiều lễ điểm đạo, đọc nhiều kinh sách, nghe nhiều lời khuyên, vậy mà mình còn kẹt trong bánh xe luân hồi. Tất cả đã không có hiệu quả đối với mình.

            Trong khi cố gắng tu tập, mình đã xin để được thọ ba giới nguyện: giới nguyện bên ngoài hạnh kiểm, giới nguyện bên trong của bậc Bồ tát về đạt giác ngộ tối thượng vì lợi ích của chúng sinh, và giới nguyện bí mật của Kim Cương thừa về việc giữ tri kiến coi các pháp đều thanh tịnh. Nhưng mình vi phạm những giới nguyện này và giới hạnh của mình hoàn toàn không còn trong sạch nữa, vì mỗi ngày mình đã phạm bao nhiêu là tội lỗi.

            Mình đã bỏ nhiều thì giờ để niệm thần chú và thiền quán về vô số vị thần, vậy mà vẫn không trông thấy được vị thần nào trong một khoảnh khắc cả. Tâm đã hoàn toàn mê muội, và mình không đạt đuợc gì hay có một ấn chứng nào trong thiền quán. Đối với mình những điều đó cũng giống như lông rùa, sừng thỏ.

            Trong vô số kiếp, từ khi sinh ra cho đến lúc chết, mình đã không tự lợi, mà chỉ ăn với ngủ và làm những chuyện hoang phí thì giờ vô ích, không dành một lúc nào để thực hành giáo pháp đạt giác ngộ. Mình chỉ ham mê những thứ vui trần tục của kiếp người mà không biết gì tới an lạc thật sự.

            Không bao giờ thỏa mãn, mình chỉ biết bỏ thì giờ và sức lực để theo đuổi những mục tiêu phàm tục tầm thường. Tâm mình đầy những phiền não do năm độc gây ra, thế mà bên ngoài mình làm ra vẻ trong sạch, đắp y mang bình bát.

            Không có một chút khả năng nào để giảng dạy hay thảo luận về một đề mục nào trong kinh sách, thế mà mình cho là có học thông minh hơn ngưòi. Lúc nào cũng tự khoe với người khác là mình nhiều kiến thức lại thông hiểu kinh sách. Mình không làm được gì để hóa giải năm độc, vậy mà vẫn cho là tài giỏi và còn thuyết với người khác như vậy. Không những tự lừa dối mà còn lừa dối luôn người khác.

            Không biết lúc chết mình sẽ gặp điều gì, nhưng cả đời vẫn nói là mình biết hướng dẫn thần thức người chết, và quên đi lúc nào tới phiên mình. Mình chỉ biết tự kiêu về cái nghề dẹp bỏ những chướng ngại của người khác.

            Khi nào chúng ta còn nghĩ tốt về mình, thì khi đó là còn che dấu tội lỗi, như thế thì không thể trừ bỏ được tội lỗi. Việc suy ngẫm như trên làm cho chúng ta nhận lỗi của mình, do đó có thể diệt trừ được những lỗi này, và tính kiêu ngạo được khắc phục.

            Dù là tu sĩ hay cư sĩ, chúng ta cần phải thường xuyên nhìn vào tâm của mình và tự kiểm soát xem phải bỏ ý tưởng thù địch, nhất định không coi người khác là kẻ địch để tiêu diệt hay đánh bại.

            Nếu một con ong bám vào mật mà nó làm ra, thì nó sẽ dính chặt vào mật và     chết. Cũng vậy, nếu chúng ta bám vào hạnh phúc và thú vui thông thường của thế gian, chúng ta sẽ vướng vào luân hồi không thoát ra được. Vậy chúng ta cố gắng giảm thiểu ham muốn, chỉ thỏa mãn với những điều thanh cao, vui lòng với những gì mình đã có.

            Cảm xúc ngu si, hay sự mê muội, tự biểu lộ trong giấc ngủ. Việc ngủ cướp của chúng ta cơ hội làm việc tốt. Dù cho chúng ta sống lâu bao nhiêu, một nữa đời của chúng ta cũng bị lãng phí trong trạng thái giống như một xác chết. Theo truyền thống, có hai mươi lỗi về sự ngủ, nhưng tất cả đều dẫn đến hậu quả là khi ngủ chúng ta không thể thực hành những đức tính. Vì vậy chúng ta nên cố gắng bớt ngủ và dùng nhiều thời gian hơn để làm việc tốt.

            Một phương diện khác của sự mê muội là không biết phân biệt đúng, sai, phải, trái. Chúng ta hoàn toàn mơ hồ đâu là giáo lý của Đức Phật, đâu k hông phải là giáo lý của Ngài.  Chúng ta có thể bỏ chánh pháp, nhận lầm tà giáo. Sự lầm lẫn này đã được ví với người tự cắt lưỡi của mình vì không có gì để ăn.Người này làm một điều vô lý vì không nghĩ rằng lưỡi của mình còn được dùng để nếm khi nào có thực phẩm.

            Nếu chúng ta nghe giáo lý về luật nhân quả, về cái gì phải bỏ, cái gì phải theo, về những điều tốt và những điều xấu trong đời sống hàng ngày, nhưng không hiểu đúng ý nghĩa của những giáo lý này, thì chúng ta có nguy cơ làm ngược lại những lời dạy của Đức Phật. Chúng ta làm sai với đúng, trái với phải và có thể tạo nghiệp xấu không thể rửa sạch được bằng sám hối. Đó là lý do chúng ta không nên để cho mình tiếp tục bị ảnh hưởng bởi sự mê muội hay ngu si.

            Trạng thái vô minh hay mê muội là một cảm xúc, mà mọi người chúng ta thường không nghĩ đến. Nhưng nếu xét kỹ, chúng ta dễ bị ảnh hưởng bởi sự tham dục, sân hận (cảm xúc) hay vô minh. Vì lẽ, vô minh   không phải là một trạng thái (cảm xúc) mang tính chất trung tín, không có hậu quả, mà chính nó được nhận biết khi người ta thể hiện hành động theo một cách nào đó khi tâm ta đã xác định để thực hiện.

            Mê muội hay vô minh là khi chúng ta không có khả năng xét biết sự vật theo tính chất thật của chúng. Vô minh có thể là có ý thức hay không ý thức về sự vô minh của mình. Vô minh vô thức là không có khả nănng nhận ra điều gì đang xảy ra, có khi được ca tụng là sự hồn nhiên, hay một cảm giác vô tư lự, hay có thể là một sự không cần biết. Sự vô minh có thể có những mức độ từ rối loạn tổng quát (tức là sự kém trí thông minh) về các sự việc, cho đến việc tạo lập những quan niệm sai lầm. Trong vô minh cũng có một thành phần chấp thủ nào đó. Vô minh có thể được coi là dễ chịu, như ý niệm "vô tư là an lạc"; nếu chúng ta tự xét mình, chúng ta sẽ thấy thái độ này trong nhiều hành vi của mình. Phật giáo cho rằng vô minh không thể nào là an lạc hay hồn nhiên. Vô minh là nguyên nhân chính của đau khổ, vì vậy nó là một trong năm độc.

            Một cảm xúc khác là sự ganh tị. "Chim công lớn" của Lama Chagme Rinpoche nói rằng: Vì muốn là người hạng nhất hay quan trọng nhất mà chúng ta cư xử một cách ganh tị với người khác. Chúng ta sẽ gặp nguy cơ xúc phạm một vị Bồ tát, và đó là một tội nặng nhất trong vũ trụ, hơn cả tội giết người. Để tránh điều này, chúng ta phải bỏ mọi ganh tị mà mình có đối với người khác.

            Có người được thọ giới trở nên kiêu mạn, cho rằng mình trong sạch, đạo đức, mình là người đặc biêït, tốt hơn những người thường còn bám vào những tư tưởng phàm tục như giàu sang, của cải. Người nào tự cao như vậy sẽ làm hại tới đức hạnh của mình.

            Khi chúng ta thọ giới, trở thành một thành phần trong tăng đoàn, trong tâm của chúng ta chỉ nên có một ý nghĩ, đó là vui vẻ đi theo những bước chân của Đức Phật. Không nên có ý định trở thành người tốt hơn hay trong sạch hơn người khác. Người nào mặc áo tu sĩ thì người đó thuộc tăng đoàn của Tam bảo. Chúng ta không nên coi thường một người như vậy. Vì dù rằng hạnh kiểm của họ có vẻ không hoàn hảo, chúng ta không thể nhìn thấy bên trong họ để hiểu đúng động lực hay tâm trạng của họ. Đối với những người khác cũng vậy. Chúng ta phải trau dồi một cái nhìn trong sáng, một sự hiểu biết thành thật rằng chúng sinh đều có Phật tính. Không có lý do gì để khinh thường một chúng sinh khác, coi chúng sinh đó là vô giá trị. Ngay cả một con côn trùng nhỏ nhất cũng có Phật tính và cũng sẽ có ngày nó giác ngộ. Cần phải luôn luôn tự luyện mình theo quan điểm trong sạch này, tôn trọng tất cả những chúng sinh khác.

            Nói chung, chúng ta nên trau dồi ý tưởng rằng mình kém hơn tất cả những người khác. Như vâïy chúng ta sẽ không rơi vào lỗi kiêu ngạo hay ganh tị.

            Những ý tưởng suy ngẫm ở trên được trình bày để khuyến khích chúng ta từ bỏ năm độc. Đó là những phương pháp được dùng trong truyền thống Thinh văn của Tiểu Thừa.


Giới thiệu | chương 1 | chương 2 | chương 3 | chương 4 | chương 5

 


Vào mạng: 27-11-2001

Trở về mục "Đạo đức-Tâm lý học Phật giáo"

Đầu trang