Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .
Cảm Niệm Mùa Phật Đản
Thích Tuệ Nhật

Xét lại chiều dài lịch sử nhân loại, từ xưa đến nay đã xuất hiện biết bao triết gia nổi tiếng. Bên phương Tây, chúng ta chứng kiến một loạt sự ra đời của các nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại: Socrate, Platon, Aristote, Pythagore,… mà tầm ảnh hưởng của họ đến với nền tư tưởng phương Tây có tới mấy ngàn năm, sau đó là sự giáng sanh của chúa Jesus Christ, rồi thời Trung Đại có Descartes, Voltaire, Hegel, Kant, Schopenhaure; Cận Đại có Nieztsche, Karl Marx, Friedrich Engels,… Gần giống Phương Tây, ở phương Đông cũng xuất hiện nhiều nhà tư tưởng lớn. Đơn cử như Lão Tử, Khổng Tử, Trang Tử, Mặc Tử của Trung Quốc; hay hàng trăm triết gia lỗi lạc với các nguồn tư tưởng lớn như ở Ai Cập, Ấn Độ.

Tuy nhiên, ta vẫn thấy giữa bầu trời triết học đầy sao kia vẫn thiếu một vầng trăng, ấy chính là vầng trăng toàn giác của Đấng Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Hay nói như nhà nghiên cứu Phật học Thích Nguyên Hiền trong bài “Bối cảnh xã hội và tư tưởng khi Đức Phật Thích Ca ra đời” thì: “sự xuất hiện của Đức Phật như một nhu cầu bức thiết đối với xã hội lẫn tư tưởng Ấn Độ đương đại . Và Đức Phật là người đã làm tròn vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình trong bàn tròn tư tưởng bấy giờ.” Quả là như thế, xã hội Ấn Độ bất công với bốn giai cấp rất cần một hệ tư tưởng bình đẳng như giáo pháp của Ngài, nhân loại trên thế gian u muội không thể thiếu ánh sáng trí tuệ của Bậc Đạo Sư, cuộc đời đau khổ hằn học luôn mong chờ những lời dạy về lòng từ bi, nhân ái. Chính bởi thế, sự ra đời của Đức Phật có ý nghĩa vô cùng lớn lao, không chỉ với xã hội Ấn Độ đương đại, mà còn là nhu cầu thiết yếu của hoàn cầu.

Kinh Pháp Hoa chép: “Như Lai ra đời vì một nhân duyên lớn, khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”. Đó là hạnh nguyện chung của ba đời chư Phật, và sự đản sanh của Đấng Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni không ngoài ý nghĩa cao đẹp ấy. Nhờ có sự xuất thế của Ngài mà ngày nay chúng ta có con đường sáng để đi, nhân loại có triết lý hay để sống. Từ xưa đến nay, bao nỗi sầu bi khổ não đã được chánh pháp của Ngài xoa dịu, bao ngọn lửa dục vọng ngã chấp đã được nước từ bi của Ngài tưới rải, dập tắt. Công ơn ấy cao hơn trời biển, không ngôn từ nào diễn tả cho cùng, không tâm niệm nào có thể suy cho tận, cho nên công đức Phật là vô lượng vô biên, bất khả tư nghì. Hoặc nói như Giáo sư Minh Chi thì: “tất cả mọi lời tán thán, ca ngợi dù cho hay đẹp đến đâu, cũng không thể ngang tầm cỡ con người hoàn thiện đó, hoàn thiện đến mức nhân loại đã suy tôn Ngài là bậc Thầy của loài trời và loài người, là bậc tôn quý nhất trong cõi thế.”[1]

Đứng trên phương diện thế gian mà xét, Đức Phật được nhìn dưới nhiều giác độ khác nhau. Có người bảo Ngài là nhà đạo đức học, có người lại cho Ngài là nhà giáo dục học, nhà tâm lý học, hay nhà triết học, khoa học,… Thiết nghĩ, tất cả chỉ phản ánh được một phần nhỏ trong con người giác ngộ ấy. Nếu nói Ngài là nhà đạo đức học, thì đó là nhà đạo đức học hoàn hảo với ba đặc tính chân thiện mỹ, xứng đáng được tôn kính nhất. Nếu xem Ngài như một nhà giáo dục, thì đó là nhà đại giáo dục trong các nhà giáo dục cổ kim. Còn gọi Ngài là nhà tâm lý, thì đó là nhà tâm lý siêu tuyệt, tùy bệnh cho thuốc, tùy duyên hóa độ. Bằng như xem Ngài là nhà triết học, thì đó là bậc hiền triết thông thái nhất; hoặc là nhà khoa học, thì đó là nhà khoa học đi đầu trong các nhà khoa học.

Thật không quá lời khi ta xưng tán Ngài là bậc chí tôn ở đời, là thầy dạy khắp trời người, cha lành chung bốn loài, xứng đáng với mười danh hiệu cao quý: Như lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật – Thế Tôn. Ai xưng tán Ngài là bậc thánh, thì phải biết đó là thánh trong các vị thánh, còn nếu nói Ngài là người, thì đó là con người giác ngộ hoàn toàn: “Đức Phật không chỉ là một nhân vật lịch sử được cả thế giới biết đến, mà còn là một bậc giác ngộ vĩ đại, một vị thánh nhân trong tâm tưởng của mọi người” (TT. Thích Thiện Bảo). Đúng thế, Ngài không phải là nhân vật huyền thoại, mà là một con người có thật, là bậc vĩ nhân mang bản chất “rất người”:

“Mừng Phật Đản, ngày khởi đầu lịch sử

Một vĩ nhân mà bản chất thường dân

Công khai hóa, lòng đại từ, muôn xứ

Đón nhận đều như nắng ấm mặt trời xuân”[1]

Tất nhiên, dù ta xem Đức Phật là gì, thì cũng chẳng thể diễn tả hết đức hạnh và tài năng của Ngài, bởi lẽ Ngài là người ra khỏi Tam giới, không còn nằm trong vòng đối đãi thị phi, siêu việt ngôn từ, không đến không đi, chẳng một chẳng khác, nên gọi là Như Lai. Và thủy chung, Như Lai là vị lương y trị tâm bệnh chúng sanh, là bậc đạo sư chỉ cho chúng sanh đâu là khổ, đâu là con đường thoát khổ: “suốt 49 năm thuyết pháp, Như Lai không nói gì ngoài khổ và con đường diệt khổ”. Cảm nhận ân đức sâu xa ấy, nhà thơ Tống Anh Nghị với nguồn cảm súc dạt dào đã viết:

“Kính lễ Phật

Ngọn đuốc Ngài đốt trước

Mỗi cuộc đời tự thắp đuốc đi lên

Cho bóng tối mỗi tâm tư xóa được

Góp thế gian trí tuệ lớn khai đèn.

Không một lần Ngài xưng mình thiên sứ

Không tự mình phong thần tượng, thánh linh

Mà hướng dẫn làm mặt trời lịch sử

Mở lòng người mỗi thế hệ bình minh”[1]

Vâng, ngọn đuốc kia đã được Ngài đốt trước và rực cháy suốt hai ngàn mấy trăm năm qua, chắc chắn nó sẽ còn tỏa sáng mãi. Khi xưa Ngài tìm đạo khó khăn vất vả bao nhiêu, thì ngày nay mỗi lần nghĩ về cuộc đời và đức hạnh của Ngài, chúng ta lại càng phải trân quý giáo pháp mà Ngài giảng dạy bấy nhiêu. Giáo pháp ấy hoàn hảo ở đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn kết, có công năng diệt trừ khổ ưu chứng ngộ Niết bàn. Giáo pháp ấy là suối nguồn từ bi trí tuệ giúp nhân loại vơi đi nỗi đau, xóa bỏ sự bất an trong lòng, xua tan bóng tối vô minh, thắp lên ngọn đèn tâm muôn thuở. 

Thời gian trôi chảy dẫu cuốn phăng đi bao học thuyết lớn của nhân loại vào dĩ vãng, nhưng giáo pháp của Như Lai vẫn đứng vững giữa cuộc đời. Nếu ở Ai Cập, người ta tự hào về tuổi thọ của Kim Tự Tháp với câu nói: “tất cả sợ thời gian, nhưng thời gian lại sợ Kim Tự Tháp”, thì ở bất cứ nơi nào trên thế giới, người con Phật cũng hoàn toàn tự hào về sức sống trường tồn của chánh pháp: “pháp của Thế Tôn đã thuyết giảng thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự thân giác hiểu.” Mà quả thật, dù cuộc sống con người có tân tiến đến đâu, thì những giá trị về từ bi, trí tuệ, bình đẳng,… của giáo pháp vẫn luôn là suối nguồn  bất tận tưới mát cuộc đời.

Thời gian có thể bào mòn tất cả, nhưng không thể bào mòn giá trị lời dạy của bậc Đạo Sư, chả thế mà ông Ban Ki-Moon, tổng thư ký Liên Hợp Quốc đã nói: “hơn 2500 năm qua, những lời dạy của Bậc Đạo Sư Đại Giác Thích Ca vẫn tiếp tục là kim chỉ nam và đã mang lại ý nghĩa cho cuộc đời của hàng triệu người trên thế giới”[1] Với một con người vĩ đại như thế, chúng ta dù xưng tán suốt đời suốt kiếp cũng không hết. Công hạnh Ngài thật lớn lao, cho nên mỗi mùa Phật Đản trở về, lòng người con Phật lại hân hoan đón chào sự đản sanh của Đấng Từ Phụ, người đã dẫn đường chỉ lối cho nhân loại biết thương yêu, cảm thông cho nhau, sống theo hạnh từ bi trí tuệ để đạt giải thoát cho chính mình và giúp ích cho tha nhân: “Âm vang tưng bừng của ngày trọng đại nhất loài người vẫn quanh đây, khi hạt giống từ bi trí tuệ mà Người đã reo rắc trên lưu vực sông Hằng năm xưa, nay mọc lên tươi tốt ở một số châu lục trên trái đất này. Hạt giống ấy luôn mang lại sự sống đầy tin yêu cho loài người chúng con, vượt mọi không gian và thời đại để đáp lại thực tại nơi mỗi con người.”[1] 

Âm ba của ngày Khánh Đản đã vang vọng khắp hoàn cầu, đem đến cho nhân loại niềm vui pháp lạc. Không phải ngẫu nhiên mà Liên Hợp Quốc tôn vinh Ngài là bậc vĩ nhân, lấy ngày Phật Đản làm ngày Lễ Hội Văn Hóa, Tôn Giáo Thế Giới, để hằng năm tổ chức đại lễ này tại trụ sở chính của Liên Hợp Quốc tại New York (Hoa Kỳ) và tại các trung tâm của Liên Hợp Quốc trên toàn thế giới. Thông điệp ra đời của Ngài là thông điệp thương yêu, hiểu biết, hòa bình, đúng như lời phát biểu của Ông Kofi Anna: “Thông điệp của Đức Phật là thông điệp về hòa bình và từ bi, nhưng cũng là thông điệp về tỉnh thức – nhận biết bản thân, hành động của mình và nhận biết về thế giới chung quanh. Đây là thông điệp mà những ai quan tâm đến hướng đi và vận mệnh của loài người cần nghiêm túc đón nhận” (trích Thông Điệp Liên Hợp Quốc 2003).

Ta cứ thử tưởng tượng, nếu không có giáo pháp của Ngài, thử hỏi nhân loại ngày nay sẽ sống ra sao? Nếu không có sự ra đời của Ngài thì hàng triệu triệu người con Phật sẽ như thế nào? Vì thế mỗi khi đến mùa Phật Đản, lòng người con Phật như sống dậy để hướng về Đấng Đạo Sư, hướng về vườn Lâm Tỳ Ni mà chiêm ngưỡng khung cảnh thái tử Tất Đạt Đa đản sanh dưới cội Vô Ưu, chiêm ngưỡng hình ảnh bảy đóa sen nở trên gót chân Ngài, đồng thời lắng đọng tâm tư, nghe lại những lời tuyên bố hùng hồn của Ngài về khả năng vô tận tiềm ẩn bên trong mỗi con người:

“Thiên thượng thiên hạ

Duy ngã độc tôn

Nhất thiết chúng sanh

Giai hữu Phật tánh”

Ai cũng có tánh Phật nên ai cũng có khả năng thành Phật, Như Lai là Phật đã thành, còn chúng sanh là Phật sẽ thành. Chữ “ngã” ở đây, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì đó là cái bản ngã nơi mỗi con người mà ta thường cho là trên hết, rồi cung phụng vun đắp cho cái “ta” của riêng mình. Đức Phật biết vậy nên Ngài nói lên sự thật về bản chất chấp chặt của con người: “chỉ có bản ngã trong lòng mỗi người là trên hết”, tu là diệt trừ ngã chấp, sống vô ngã vị tha, ai chấp ngã người ấy đau khổ. Nếu hiểu chữ “ngã” theo nghĩa rộng, thì đó chính là “chân ngã”, tức Phật tánh, và như thế hiển nhiên câu “duy ngã độc tôn” có giá trị thật lớn: “chỉ có chân ngã là cao quý nhất”.

Cả hai cách giải thích trên, dù hiểu theo nghĩa nào, thì ta cũng thấy được ý chỉ thâm thúy trong lời tuyên ngôn đản sanh của Ngài. Mặc dù một số kinh điển chép lời tuyên ngôn này dưới dạng dị bản[1], nhưng tất cả không ngoài mục đích khai mở cho chúng sanh con đường hướng thượng, vạch trần sự thật cuộc đời, và nhất là ca ngợi vị trí cao quý của Đức Phật trong cõi trần, nói lên ý nghĩa tối quan trọng về ngày Khánh Đản.

Hình ảnh bảy đóa sen nâng bước chân Phật là ảnh dụ đẹp. Đóa sen tượng trưng cho sự thanh tịnh, sống trong bùn mà không bị bùn nhơ làm vấy bẩn, như Đức Phật sống giữa đời mà không bị nhiễm đời, vượt lên trên thói thường thế gian, thoát ly ngũ dục, ra khỏi tam giới. Con số bảy là con số kiết tường, tượng trưng cho sự hoàn mỹ của vũ trụ, là sự kết hợp hài hòa giữa không gian và thời gian (không gian: 4 hướng chính Đông, Tây, Nam, Bắc; thời gian: 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai). Điều này nói cho chúng ta biết rằng: Phật ra đời là một sự kiện vĩ đại, tốt đẹp và hoàn hảo nhất.

Sự đản sanh, tầm đạo và chứng đạo của Ngài đã đem lại cho nhân loại cũng như đất nước Ấn Độ một nguồn tư tưởng mới bao hàm đức từ bi, trí tuệ, bình đẳng, không hề mang một chút gì về bạo động, bất công hay thù hận. Và đặc biệt, nó không phải là triết lý suông, mà là nguồn sống, là phương pháp sống cho cuộc đời. Nó thổi và xã hội Ấn Độ cổ đại một trận gió mới – trận gió đại hùng, đại lực, đại từ bi, dẹp tan các luồng tư tưởng bất công thời bấy giờ.

Trận gió ấy đã làm cho hệ tư tưởng của Bà la môn dựa trên 4 bộ kinh điển Phệ đà, phân chia giai cấp, tự đặt ra nhiều hình thức tế lễ tổn hại sinh vật bị lung lay; tín ngưỡng tập tục thờ 3 vị thần: Brahma, Visnu, Siva bị rúng động; trào lưu triết học lấy Phạm thư và Áo nghĩa thư không còn đứng vững. Nó giúp con người thoát khỏi vòng lạc lõng giữa “một mớ học thuyết” về vấn đề tự thân và thế giới, giúp các nhà trí thức lớn như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Đại Ca Diếp,… vốn không thỏa đáng với cách giải quyết của các hệ tư tưởng trên, thì bây giờ họ tìm được một nguồn sống mới, phù hợp và đáp ứng nhu cầu tâm linh – trí tuệ mà họ hằng mong ước. Trước những tiền đề như thế, tất nhiên các học thuyết Bà la môn không còn thích nghi, cần được thay thế bằng một nguồn tư tưởng mới thoát khỏi quan điểm truyền thống vốn có, đó chính là giáo pháp được Bậc Đạo Sư thuyết giảng.

Từ điều kiện lịch sử trên, ta thấy sự đản sanh của Đức Phật có ý nghĩa vô cùng lớn lao, đem lại cho nhân loại một nếp sống đạo đức cao đẹp, đầy đủ tự lợi lợi tha. Ngày Khánh Đản là ngày nhân loại mừng vui, chúng sanh hoan hỷ, toàn thành Ca Tỳ La tưng bừng như ngày hội, cả đến cỏ cây hoa lá cũng reo ca đón chào:

“Cây lá điểm sương rung chiếu ngọc

Bông hoa thành kính gửi trầm hương

Không gian trong lặng, thanh thanh khí

Đường mật chim dâng nhạc cúng dường

… Hôm nay làm dậy nghìn xưa lại

Xứ xứ nào không vẳng vẳng lời

Lâm Tỳ Ni cũ ngày muôn thưở

Xuất hiện Người luôn hướng dẫn người”

(Tống Anh Nghị)

Không gian như bừng sáng lên, cây cỏ như xanh tốt hơn để mừng ngày Bồ Tát giáng thế. Tất cả hòa quyện vào nhau làm nên những vần thơ điệu nhạc bất tận, bởi lẽ: “thơ là nhạc điệu của trái tim. Thơ là cung đàn của trí óc. Rung cảm trước những gì chứa đựng cao đẹp nhất, thơ cũng là tiếng nói từ tâm hồn gửi đến tâm hồn, từ nghìn xưa truyền lại mai sau. Cuộc đời Đức Phật là một dòng thơ bất tuyệt. Cho nên ngày Phật Đản thật là ngày ngạt ngào, thi vị cho nhiều thi nhân kim cổ.”[1] Vần thơ ấy, âm điệu ấy đã vang vọng từ ngàn xưa, và chắc chắn sẽ còn vang vọng mãi đến ngàn sau. Hình ảnh Đức Thế Tôn dù đã xa ta hơn 25 thế kỷ, nhưng mỗi mùa Phật Đản về, ta có cảm giác như Ngài đang thị hiện trước mắt, để nghe từng lời dạy của Ngài về nếp sống giải thoát, từ bi để vơi đi nỗi khổ niềm đau trong cuộc đời, vững bước hơn trên lộ trình đại ngộ.

Viết về Đức Phật, thủ tướng Ấn Độ –  Jawaharlal Nehru đã viết: “thời đại cứ vận chuyển nhưng rốt cuộc Đức Phật hình như vẫn không xa ta lắm, âm ba của Ngài vẫn thì thầm trong trí ta và bảo ta đừng lẩn tránh cuộc đời, mà hãy nhìn thẳng vào cuộc đời bằng con mắt bình tĩnh để đối phó, và sẵn sàng nắm lấy cơ hội thuận tiện để tiến tới mục đích cao cả trong đời.”[1] Quả là như thế, ai sống theo lời Phật dạy, tức lúc ấy Phật hiện tiền; bằng như ai sống với lòng thù hận, ganh ghét, ích kỷ thì dù Phật tại thế, người kia cũng không được gọi là sống gần Phật. Tương tự, dù chúng ta có dùng ngôn ngữ mỹ diệu nhất để ca ngợi Ngài, hay đem hoa thơm quả ngọt, sơn hào hải vị dâng lên Ngài, đó chưa phải là cách tán dương và cúng dường đúng nghĩa. Chỉ có sống theo chánh pháp, thực hành và chứng ngộ chánh pháp mới là cách xưng tán thiết thực và tối thượng nhất dâng lên Đấng Từ Phụ: “cách tán thán và ca ngợi Ngài tốt đẹp nhất, làm vui lòng Ngài nhất có lẽ là học tập Ngài, cố gắng tối đa sống theo lời Ngài chỉ dạy, đi theo con đường Ngài đã đi.”[1] (GS. Minh Chi). Được như thế, chúng ta mới xứng đáng là người Phật tử chân chánh, không phụ lòng mong mỏi của Đấng Từ Phụ, và cũng là phẩm vật cao quý nhất dâng lên Ngài trong mùa Đại Lễ Phật Đản Liên Hợp Quốc năm nay.

 

http://www.buddhismtoday.com/viet/phatdan/camniemPhatdan2008.htm

 


Vào mạng: 12-5-2008

Trở về mục “Phật Đản

Đầu trang