Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .
TIẾN TRIỂN CHÙA VIỆT NAM
Kiêm Đạt

Thời du nhập

Phong cách kiến trúc và điêu khắc chùa chiền Việt Nam đã theo mộttiến trình lâu dài hơn đình làng, đồng thời cũng đã biến đổi theoGiáo lý Phật Giáo và ảnh hưởng với  nền văn hoá bản địa.

 Căn cứ theolịch sử Phật  Giáo và đầu Công nguyên, trước  khi Phật Giáo TrungHoa du  nhập, thì ở đất  Giao Châu đã có  một số bộ kinh  và bảotháp. Phật Giáo vào Việt Nam theo nhiều đường: từ Ấn Độ vượt biểnsang; mặt khác  theo đường bộ qua Kampuchia, Cham - Pa tới; từ TâyTạng không  vào Trung Nguyên (Trung  Hoa), mà đã sang  thẳng miềnbắc Việt Nam; con đường sau mới  từ Trung Hoa sang.

Dòng Thiên TỳNi Đa Lưu Chi (Vicitaruci) ở thế kỷ thứ VI đã biến cụm đền Tứ Phápthờ các  vị thần tự  nhiên (mây, mưa,  sấm, chớp) thành  các chùaPháp Vân (chùa  Dâu), Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp  Điện. Vùng Dâu trởthành một trong  những trung tâm của chính quyền  đô hộ, nơi giaolưu Bắc - Nam từ Trung Hoa sang Ấn Độ.Phật Giáo  du nhập đất nước  ta vào đầu Công  nguyên. Trong thờinầy, Việt Nam còn gọi là đất  Giao Châu dưới sự thống trị của nhàHán. Những nhà sư Ấn Độ đến  tại vùng nầy theo các đoàn buôn bán,theo đường bộ lẫn đường thủy.

Trung  tâm Phật Giáo sớm nhất ở tạiđất Giao Châu là Luy Lâu, nay là Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc.Từ khoảng đầu Công nguyên cho đến khoảng thế kỷ thứ III, Phật Giáoở Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật Giáo  Ấn Độ. Số danh tăng từ Ấn vàTrung Á sang Giao Châu ngày  càng nhiều thêm. Một trong những nhàsư nổi  tiếng là Khương Tăng  Hội, đưa thiền tông trước tiên vàonước ta. Vị sư nầy  đã phiên dịch nhiều kinh điển Phật Giáo.

Cũng trong thế kỷ thứ III, một nhà sư Nhục Chi là Chi Cương LươngTiếp (Kalasivi) cũng đã đến đất Giao Châu và đã dịch bộ kinh PhápHoa Tam Muội  (Saddharma Samadhi Sutra) tại đây.  Một nhà sư ViệtNam là Đạo Thành đã giúp đỡ  Chi Cương Lương Tiếp trong việc dịchkinh. Trong giai  đoạn nầy, đất Giao  Châu đã hình thành  một trung tâmdịch kinh. Với sự phát  triển như thế người ta cho  rằng số chùa chiền trongvùng nầy đã  gia tăng thêm. Chưa có  di tích, di chỉ nào  còn lưulại.

Vào đời Tùy (thế kỷ VI - VII, chùa Pháp Vân trở thành nơi tu trìvà được dùng làm đạo tràng thuyết pháp của các vị danh tăng nhưTỳ Ni Đa Lưu Chi, Pháp Hiền và Quang Duyên.Tỳ Ni Đa  Lưu Chi (Vinitaruci) là người Nam  Thiên Trúc, đến GiaoChâu, ở chùa Pháp Vân năm 580. Ở đây Ngài dịch bộ kinh "Tổng Trì"và giảng dạy Phật pháp. Theo Thiền  Uyển Tập Anh,  sau khi nhà  sư Tỳ Ni  Đa Lưu Chi viêntịch, nhà  sư Pháp Hiền đã  dựng chùa Chúng Thiện  trên núi ThiênPhúc, huyện Tiên Du.Chùa (đền) Pháp Vân  trong thời gian đầu như một  công đường, kiến trúcnguy nga bằng gỗ. Có nhiều cột  đỡ theo kiểu "con sơn trống đấu",mái ngói ống  trúc. Vách làm bằng gỗ hay  bằng gạch, đất nung màuđỏ có  chạm những hình  hoa văn kiểu  chân lồng (hình  thoi).

Năm1954, trong một  cuộc khai quật đã tìm thấy  được một số mảnh vụncủa chùa nầy. Đây là một trung tâm tín ngưỡng quan trọng, tổ chứccầu mưa hàng năm, lễ hội tưng bừng.Trong giai đoạn nầy, nhiều di tích Phật Giáo cũng được tập trung.Trong truyện  "Đàm Thiên Pháp Sư",  vua Tùy Văn Đế  tặng cho GiaoChâu 3 hòm Xá lợi Phật, sai  Thái thú Lưu Phương chọn linh địa đểbảo tàng Xá lợi. Những hòm Xá  lợi nầy đã được chia cho chùa PhápVân và những ngôi chùa nổi tiếng khác ở châu Phong (vùng Vĩnh Phúngày nay),  châu Trường (vùng  Ninh Bình ngày  nay), châu Ái  (vùngThanh Hoá  ngày nay) và  châu Hoan (vùng  Nghệ Tĩnh ngày  nay) đểnhững ngôi chùa nầy xây tháp chứa Xá lợi.

Tại đây, cũng đã  có hơn 20 bảo tháp và 150 ngôi chùa hay tịnh xá.Trong giai đoạn nầy, Phật Giáo  Việt Nam chịu ảnh hưởng của PhậtGiáo Ấn Độ, cho nên có nhiều  nhà nghiên cứu cho rằng: những ngôichùa tháp ở Giao  Châu thời đó là hình thức kết  hợp giữa tịnh xá(Vihara) và Phật  điện (Caitua), nghĩa là "có  các tăng phòng làmnơi ở  và tu đạo  của các nhà  sư, cũng là  nơi thờ Phật"  (HVT).Những ngôi  tháp (stupa) đầu  tiên tại Giao  Châu cũng xuất  hiệntrong lúc nầy. 

Vì  Phật  Giáo  du  nhập  vào  nước  ta  là  Phật  Giáo  Đại Thừa(Mahayana), có  thể trong điện thờ  có những pho tượng  hay tranhthờ chư Phật và Bồ Tát.Năm 820, một nhà  sư Trung Quốc là Vô Ngôn Thông,  học trò của vịtổ Thiền tông  Bách Trượng Hoài Hải (720 -  814) đã đến Việt Nam,trụ trì chùa Kiến Sơ (Gia Lâm, Hà Nội), lập  ra thiền pháp mới.Vào thế kỷ thứ X, nhà Đinh rồi  nhà Lê lên ngôi, vì mục đích quânsự nên đóng đô tại Hoa Lư (Ninh Bình). Một toà thành lớn được xâydựng giữa các  núi đá vôi; trong phạm vi  nầy có chùa chiền.

TheoThiền Uyển Tập Anh, những ngôi chùa nổi tiếng tại đây là chùa ĐạiVân, chùa  Vạn Tuế. Chùa  Tháp là ngôi  chùa mà nay  tìm thấy dấutích ở  ven sông Hoàn  Long.Chùa Bà  Ngô ở Hoa  Lư cũng được xâydựng từ đời  Đinh. Bài văn trên tấm bia  đời Nguyễn có ghi: "ChùaBà Ngô trong ấp ta là một danh lam ở đô cũ nước Cồ Việt". Cồ Việttức là nước Việt Nam dưới đời Đinh.

 Cũng như Luy Lâu, đây cũng làmột trung tâm lớn của Phật Giáo.  Cũng như các chùa Tứ Pháp, chùanầy thờ một nữ thần, ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ. Ở Hoa Lư còn cóngôi chùa Nhất  Trụ (Một Cột). Chùa có tên Nhất  Trụ vì trước chùahiện có một cột  đá cao 3m, có 8 mặt, có  khắc bài thần chú trongkinh Lăng Nghiêm (Surangam Sutra).Năm 875,  Cao Biền được vua  Đường cử sang Giao  Châu làm Tiết ĐộSứ, sau khi  giẹp được giặc Nam Chiếu. Tương  truyền Cao Biền chonung 80,000 hòn gạch hình dung  những cây tháp nhỏ, dưới trôn mỗihòn đều có chừa  một lỗ sâu, rồi cất đại quân  cho mỗi sĩ tốt xócngọn giáo vào  mỗi hòn, vác đến núi Lẫm  Sơn (huyện Võ Giàng, BắcNinh ngày nay)  đồng thanh hô câu "Thông Vận  Hoàng Đế", rồi xếpchồng lên thành một ngọn tháp lớn.  Từ đó tháp nầy tên là Bát VạnSơn.

Vào tháng  ba năm 1950, đã tìm thấy  những cây tháp nung nầyđược xếp thành hàng  ở về phía đông chân núi nầy.  Có một số thápcòn có  ghi hàng chữ  "Tháp chủ khai  thiên Thông Vận  Hoàng Đế".Những tháp nầy đều được nung thành màu đỏ, hình dung một cây thápvuông nhỏ,  phía dưới mỗi cạnh  16cm, lên trên thu  nhỏ dần. Thápchia 5  tầng, có bệ  cao ở dưới,  chóp nhọn trên  cùng. Những mẫutháp nầy phản ánh nét kiến trúc giản dị theo phong cách kiến trúcđời Đường.

Nhiều nơi khác cũng tìm thấy loại tháp nầy như di tíchHang Đầu Gỗ tại vịnh Hạ Long và  Bãi Cháy ở Hòn Gai. Khi quân NamChiếu sang đánh chiếm lấy La Thành (Hà Nội) thì nhà Đường cho dờithủ phủ Giao Châu đến Hải Môn  (Quảng Yên, Hạ Long ngày nay). Nhưvậy, tục xây tháp nầy diễn ra nhiều nơi, phần nhiều là trị sở củaquan lại nhà Đường tại Giao Châu. Tháp mang tính chất phong thủy.

  Đời Lý 

 Trong thời gian đầu của nền tự chủ nước ta, tuy những triều đại Ngô,Đinh, Lê đã thắng được xâm lược qua nhiều chiến trận lẫy lừng, bảo vệđược nền độc lập, bắt đầu xây dựng nền mỹ thuật dân tộc. Tuy nhiên,thời gian lịch sử ngắn ngủi của những vương triều này khi quyền hànhchưa được tập trung, kinh tế chưa phát triển, không cho phép nhữngtriều vua nầy xây dựng được bao nhiêu. Đến đời Lý bộ máy trungương tập quyền đã tổ chức hoàn bị, mở mang bờ cõi, trong nước anbình, là giai đoạn thích hợp cho những chương trình kiến thiết. Chúngta cũng hiểu được Phật Giáo du nhập nước ta từ thời Bắc thuộc, đếnkhi nước nhà đã được quyền tự chủ, Phật Giáo đã có ảnh hưởng khá sâurộng, nhất là những tầng lớp trên.

 Trong thời  Lý, địa vị PhậtGiáo hết sức quan trọng. Lý Công Uẩn, người sáng lập ra nhà Lý, khi cònnhỏ sống trong nhà chùa; cho nên về sau, các vua đời Lý cùng hàng quýtộc, vì tín ngưỡng và vì chính trị, rất sùng mộ đạo Phật. Cứ xem bàibia chùa Linh Xứng lập ra từ thời nhà Lý, thì thấy rõ Phật Giáo có lợicho chính quyền như thế nào "... Ôi! sinh nuôi ta, không ai lớn hơnvua, cho nên phải tôn kính, dẫn dắt ta không gì cao hơn phúc huệ,cho nên ta phải tín sùng. Lấy cái phúc lành ấy, chúc cái vận lớn ấy,trông cho cơ đồ lâu dài, dòng vua hưng thịnh..."

Nói chung, đời Lý  xây dựng mấy nghìn ngôi chùa, tạc mấy vạn tượngPhật. Chỉ một bà Thái Hậu thời vua Càn Đức nhà Lý cũng đã đứng ra kiếnthiết gần 100 ngôi chùa. Phật Giáo phát triển, chùa chiền xây dựng nhiềuđương nhiên phải cần nhiều thợ. Mỗi chùa phải có đủ tượng, đủ chuông,phải được trang trí trang nghiêm, do đó sinh ra nhiều nhu cầu mới trongtừng lãnh vực.

Nghệ thuật Phật Giáo đời Lý nói chung, đều phục vụ cho tôn giáolà chính, nhưng  phong cách nghệ thuật của mỗi  triều đã có nhữngnét khác nhau. Dưới đời  Lý, mặc dù những nghệ nhân đã có những sáng tạo độcđáo, tuy nhiên trong một số tác phẩm trong thời nầy vẫn chưa thoát hẳnảnh hưởng ngoại lai. Sau những chiến thắng chống xâmlăng, tinh thần dân tộc càng lên cao, tính tự cường của dân tộc biểuhiện rõ rệt trong mọi mặt hoạt động của đời sống tinh thần và xã hội.

 Hơn thế nữa, qua mấy trăm năm từ khi nước nhà được tự chủ, những nghệnhân Việt Nam đã có một truyền thống dân tộc vững vàng, biết dung hoànhững nguồn ảnh hưởng từ bên ngoài, tạo thành một phong cách rất vữngchắc.  Vào đời Lý, Phật Giáo phát triển mạnh mẽ, bành trướng trên nhiều địahạt khác nhau, trong đó kiến trúc, nghệ thuật tạo hình, hội họa,điêu khắc chùa chiền, bửu tháp, điện đài cũng chịu ảnh hưởng theo.

Theo xu thế nầy,  vấn đề hoằng dương Phật Pháp trong đời Lý đượctriều đình ra sức nâng đỡ, coi trọng và được củng cố bằng những sắcchỉ quan trọng. Văn hóa Phật Giáo đi vào đại chúng bắt đầu triều đại nầy.Sự lớn mạnh của Phật Giáo đời Lý đã đem lại nhiều ưu thế về lịch sử bànhtrướng, hành đạo, truyền đạo, cả đến các lãnh vực thuộc văn hóa, nghệthuật mang tính chất bác học lẫn tính chất đại chúng. Năm 1031, nhà vuađã ban nhiều sắc chiếu cho chính quyền địa phương cũng như tín đồ xâydựng đến 950 chùa khắp nhiều địa phương trong một thời gian ngắn; nhiềucao tăng từ Trung Hoa cũng sang truyền bá Phật Giáo trong thời gian nầy.Giới quý tộc trong thời gian đó cũng đã tham gia những công trình xâydựng.  Những công trình  xây tháp và đúc chuông được tiến hành ở nhiều nơitrong nước. Từ kinh đô đến nông thôn, đâu đâu cũng dấy lên một phongtrào học đạo, hành đạo và truyền đạo sôi nổi.

Vua  Lý Thái Tổ thuở hàn  vi sống và tu hành ở trong chùa cho nên đã thêm nhiều giáo lý nhàPhật khá sâu sắc. Về sau lại được  nhà sư Vạn Hạnh  ra sức vận độngtriều thần cho ông chiếm lấy ngai vàng, cho nên sau  khi nắm quyềnđã ra công xây dựng Phật Giáo, tu bổ nhiều chùa chiền, đưa đạo Phậtlên vị thế cao nhất. Theo xu thế nầy,  vấn đề hoằng dương Phật Pháptrong đời nhà Lý được triều đình ra sức nâng đỡ, coi trọng và đượccủng cố bằng những sắc chỉ quan trọng.

Văn hóa Phật Giáo đi vào đạichúng bắt đầu triều đại nầy.  Nền tảng vững mạnh của Phật Giáo đời Lý đãđem lại nhiều ưu thế về lịch sử bành trướng, hành đạo, truyền đạo,cả đến các lãnh vực thuộc văn hóa, nghệ thuật mang tính chất bác họclẫn tính chất đại chúng.Năm 1010, sau khi dời đô về kinh thành Thăng Long đã cho xây dựngmôt loạt chùa chiền tại đây ở nội ngoại thành; những ngôi chùanổi tiếng như chùa Hưng Phúc ở trong thành, chùa Thắng Nghiêm ởngoại thành.

Năm sau (1011) lại dựng thêm chùa Vạn Tuế ở trongthành, còn ngoại thành thì dựng thêm các chùa Tứ Đại Thiên Vương,Cẩm Y, Long Hưng, Thánh Thọ. Năm 1012 sai dựng lên hai chùa Thiên Quang và Thiên Đức.Năm 1024, cho quân lính và thợ khéo tay xây thêm chùa Chân Giáongay trong kinh thành để nhà vua hoàng tộc và các quan đại thầnthường xuyên đến lễ bái và nghe kinh.

 Năm 1031, nhà vua đã ban nhiều sắc chiếu chochính quyền địa phương cũng như tín đồ xây dựng đến 150 chùa khắpnhiều địa phương trong một thời gian ngắn; nhiều cao tăng từ TrungHoa cũng sang truyền bá Phật Giáo trong thời gian nầy. Giới quý tộctrong thời gian đó cũng đã tham gia những công trình xây dựng.Năm 1041, cho xây viện Từ Thị Thiên Phúc ở tại vùng núi Tiên Du.Năm 1049, dựng chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột) ở kinh thànhThăng Long. Năm 1056 chùa Sùng Khánh Báo Thiên (tức chùa BáoThiên) được kiến tạo ở khu vực Nhà Thờ Lớn Hà Nội hiện nay.

Năm1057, dựng lên hai chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ, đồng thời cũng xâytháp Đại Thắng Tư Thiên ở chùa Sùng Khánh Báo Thiên (tức tháp BáoThiên). Năm 1058 xây tháp Tường Long ở Đồ Sơn. Năm 1059 xây chùaSùng Nghiêm Báo Đức. Năm 1066, xây tháp ở núi Tiên Du. Năm 1070xây chùa Nhị Thiên Vương ở Thăng Long.Ngay sau khi vua Lý Nhân Tông lên ngôi, đã cho xây dựng thêmnhiều chùa tháp ở kinh thành cũng như các địa phương.

 Bà HoàngThái Hậu Linh Nhân đã góp công không nhỏ, trước sau cho xây dựnghơn 100 ngôi chùa, và trùng tu 38 ngôi chùa mới, dựng 19 tháp.Lại phát tiền cho dân nghèo trong nước và cho chuộc những ngườicon gái nhà nghèo đem bán làm nô tỳ hay đem gả cho những ngườiđàn ông ở goá. Năm 1086, ngôi chùa ở tại vùng núi Lãm Sơn bắt đầuđược xây dựng, mãi cho đến năm 1094 mới hoàn tất và khánh thànhvô cùng trọng thể, được gọi là chùa Cảnh Long Đồng Khánh. Ngôitháp nổi tiếng của ngôi chùa nầy cũng được xây năm 1088.

Năm1099, nhà vua và hoàng tộc đã xây chùa An Lão; năm 1100, xây chùaVĩnh Phúc trên núi Tiên Du. Năm 1105, đã mở mang thêm chùa DiênHựu, xây hai ngọn tháp ở khu vực chùa nầy. Cũng trong năm nầy,vào mùa thu, lại cho người xây dựng thêm ba ngọn tháp ở chùa LãmSơn (tức chùa Dạm, thuộc Hà Bắc). Năm 1108, tháp Vạn Phong ThànhThiện được tạo dựng trên núi Chương Sơn (nay là núi Ngô Xá, xãYên Lợi, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Hà) và mãi cho đến năm 1117 mớihoàn thành.

Năm 1114, xây chùa Thắng Nghiêm (hoàn tất vào năm 1118) và lầuThiên Phật, để đặt 1,000 pho tượng chư Phật lớn nhỏ. Năm 1115,chùa Sùng Phúc tại làng Siêu Loại (huyện Thuận Thành, Hà Bắc)được khánh thành trọng thể. Năm 1118, tháp Sùng Thiên Diên Linh ởĐội Sơn (tức núi Dọi, huyện Duy Tiên, tỉnh Nam Hà) khởi công xâydựng và hoàn tất vào năm 1121.

Năm 1119, xây dựng xong chùa TịnhLự. Năm 1121, khánh thành chùa Báo Thiên và bắt đầu xây chùaQuảng Giáo ỏ núi Tiên Du, mãi đến năm 1123 mới hoàn thành. Năm1123, khánh thành chùa Phụng Từ và năm 1127 khánh thành chùaTrùng Hưng Diên Thọ. Năm 1134, dưới thời vua Lý Thần Tông, haingôi chùa đồ sộ khác là Thiên Ninh và Thiên Thọ cũng được xâydựng. Dưới các triều vua Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, không thấy ghichép những ngôi chùa mới được tạo dựng. Chỉ cho việc trùng tuchùa Pháp Vân (tức chùa Dâu, Hà Bắc).

Năm 1127 cũng trùng tu chùqChân Giáo, để mở rộng thêm phần chánh điện và nhà Tổ. Đây là ngôichùa mà vị vua cuối cùng của nhà Lý là Lý Huệ Tông đã đến tu hànhtrong những năm sau cùng của triều đại nầy.Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, sử gia Lê Văn Hưu viết: "Vua Lý Thái Tổlên ngôi mới được hai năm, nhà tông miếu chưa dựng lên, xã tắcchưa lập, mà trước đã cho xây dựng lên 8 ngôi chùa ở phủ ThiênĐức; lại sửa chữa các chùa quán ở các lộ. Nhà vua cấp độ điệpcho hơn 1,000 người ở kinh sư làm tăng... Bậc vua chúa sángnghiệp cần kiệm còn lo con cháu sau nầy xa xỉ, mà vua Lý Thái Tổđể phép cho con như thế, cho nên, đời sau mới xây tường cao ngấttrời, tạc cột chùa bằng đá, làm chùa Phật lộng lẫy hơn cả cungđiện nhà vua".

Theo quan niệm của nhiều vua đời Lý thì chùa vẫn là "chỗ ởlâu dài" sau một thời gian làm vua tại triều. Thành thử, những ditích loại kiến trúc vào thời Lý ngày nay còn thấy được làkiến trúc tôn giáo và qua những cuộc chiến loại công trình nầykhông là mục tiêu phá hoại của giặc ngoại xâm hay phong kiếntrong nước.

 Đạo Phật dưới đời nhà Lý phát triển rất mạnh chiếmnhiều ưu thế.  Nhiều vị sư tham gia triều chính và được phong làm quốc sư. Nhà vuavà hoàng thân quốc thích cũng như các quan đại thần đều hâm mộ đạoPhật.

 Đời Trần

Kế thừa  vốn liếng to lớn  của nhà Lý trước  đây, chẳng những cáccông trình  kiến trúc đời Trần  đã có sẵn đà  phát triển để vươncao lên, lại còn tiếp thu được một nền kỹ thuật tinh xảo, một khotàng kinh nghiệm phong phú và truyền thống dân tộc vẽ vang. Trongbuổi đầu, kiến trúc đời Trần có  những đường nét gần gủi với kiếntrúc đời Lý. Nhưng về sau, do ba lần xâm lược phá hoại của NguyênMông, nhiều năm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, đồng thời cũng táchại lớn với nền kiến trúc nước ta trong giai đoạn đó.

Về tình hình Phật Giáo đời Trần,  nhất là trong giai đoạn đầu, cơbản vẫn phát triển mạnh như dưới đời Lý, mặc dù trong phương thứctrị nước, các vua Trần đã chịu  ảnh hưởng của đạo Nho. Thành thử,các nhà  sư đã lánh  dần cung đình  trở về với  chùa tháp, nhườngviệc cai quản chính quyền cho các nho sĩ.Trong tín ngưỡng quần chúng của  dân chúng đời Trần, đạo Phật vẫnchiếm địa vị khá quan trọng.

Hàng ngũ tăng ni vẫn đông đúc. Khôngnhững vương hầu, khanh tướng, mà nhiều nhà vua vẫn tình nguyệnquy  y. Triều  đình vẫn  cấp đất  ruộng cho  các chùa.  Kinh Phậttiếp tục  in với số lượng  càng ngày càng nhiều.  Người ta còn đisang Trung Quốc  (1295) để thỉnh kinh Đại Tạng  về in lại, truyềnbá trong Phật giáo đồ khắp nơi, Nhiều tác phẩm về Phật học có giátrị được ra đời như "Thiền Tông Chỉ Nam", "Khóa Hư Lục"...

Phật Giáo  thời nầy có  nhiều hệ phái,  nhưng  đáng chú ý  hơn cả là"Trúc Lâm Tam Tổ". Phái nầy do  vua Trần Nhân Tông mở đầu, và sauđó có 2 vị  tổ khác là thiền sư Pháp Loa  và thiền sư Huyền Quangkế tục. Địa bàn hoạt động của  phái nầy là vùng đông bắc rộng lớncủa Bắc Phần, từ Uông Bí, Đông Triều cho đến Thăng Long. Phái nầyđã đào tạo một số đông tăng ni  lên đến hàng vạn người. Họ còn tổchức nhiều  hội lớn có tiếng  như hội "Thiên Phật"  7 ngày, 7 đêmtại chùa Quỳnh Lâm...

Tuy về  sau có bị  các nhà nho  công kích bài  bác, Phật Giáo đờiTrần vẫn  lớn mạnh. Chùa tháp  vẫn là nơi thu  hút cuộc sống tinhthần của quảng đại quần chúng.Trên văn bia chùa Thiệu Phúc, một  danh nho  đời Trần là  Lê Quát dù đã nhiều  lần lên tiếng  bài xích đạoPhật, nhưng  sau cùng cũng đã  thừa nhận: "NhàPhật lấy  họa phúc đẻ cảm  động lòng người hay  sao mà được ngườiđời tin  theo sâu bền đến  như thế. Trên từ  vương công, dưới đếndân thường,  hễ bố thí  vào việc  nhà  Phật, dù đến  hết tiền thìkhông sẻn tiếc. Ví ngày nay gửi  gắm vào tháp chùa thì trong lòngvui sướng như nắm được khoán ước để được báo ứng về sau.

Cho nên,trong tự  kinh thành, ngoài đến  châu phủ, cho đến  thôn cùng ngõhẻm, không phải  ra lệnh mà tuân theo, không  phải bắt thề mà giữđứng, chỗ nào có người tất có  chùa Phật, bỏ đi rồi lại dựng lên,mất đi rồi  lại sửa lại, lâu đài chuông  trống chiếm đến nửa phầnso  với  dân  cư.  Đạo  Phật  thịnh  rất  dễ  mà được rất mực tônsùng...".Những tài liệu  cũ còn ghi lại nhiều cuộc  trùng tu, sửa chữa chùatháp được tiến  hành, như các chùa Một Cột  (1249), tháp Báo Thiên(1258), chùa Khai Nghiêm, Yên Phong  (Hà Bắc, 1333 - 1335)...

Đặcbiệt có những công trình như tháp  Linh Tế ở núi Dục Thúy (Hà NamNinh) phải xây lại hoàn toàn trên nền nhà cũ và công việc nầy kéodài trong 7 năm trời mới xong (1337 - 1342).Nhưng đáng chú  ý hơn vẫn là những công  trình mới xây dựng thêm.Căn cứ  theo những tài  liệu mà chúng  ta biết được  thì các chùatháp đời  Trần đã được  phân bố  rộng  rãi khắp mọi  miền của đấtnước, có phần rộng  lớn hơn cả đời Lý.

Có những  công trình ở tậncực Nam như chùa Hương Tích ở núi Hồng Lĩnh (Can Lộc, Nghệ Tĩnh),chùa Hoa Long và chùa Thông  (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa). Có những côngtrình ở tận cực Tây như chùa  Hang ở núi Úc (Hoàng Liên Sơn), thápBình Sơn (Lập Thạch, Vĩnh Phú). Và nhiều hơn cả vẫn là những côngtrình được dựng lên ven các triền sông của vùng đồng bằng trù phúmiền Bắc. Đó là chùa Bối Khê (Thanh Oai, Hà Sơn Bình) chùa Hào Xá(Thanh Hà, Hải Hưng), chùa Thái Lạc (Văn Lâm, Hải Hưng), chùa PhổMinh (ngoại thành Nam Định), chùa  Dương Liễu (Đan Phượng, Hà SơnBình), các chùa ở núi Yên Tử (Đông Hưng, Quảng Ninh)...Có  những khu  vực vào  đời Lý  vớn được  coi là  trung tâm  pháttriển Phật Giáo,  sang đời Trần vẫn được tiếp  tục duy trì và mởmang thêm như  khu chùa và tháp vùng núi  Phật Tích (Hà Bắc)...

Ởđây chẳng những  vẫn được chọn làm nơi thi  Tam giáo, đào tạo chưtăng, lại còn là nơi in kinh Phật. Hay như khu vực chùa Quỳnh Lâmở Đông Triều cũng đã được tu bổ và sửa sang thêm nhiều hơn trước.Ngôi chùa nầy đã được nhiều danh  tăng đến thăm viếng và trụ trì.Thiền sư Pháp Loa,  vị tổ thứ hai của "Trúc Lâm  Tam Tổ" đã cùngđệ tử  của mình bỏ nhiều  công sức trong việc  trùng tu lại nhiềuchùa chiền  khắp miền Bắc.  Họ cũng đã  cho đúc thêm  nhiều tượngđồng, chuông đồng, xây bảo tháp, tổ chức những đàn tràng. Nhà thơTrần Quang  Triều, cháu nội  Trần Hưng Đạo  đã cùng chị  ruột củamình là Thuận  Thánh Bảo Từ Hoàng thái hậu  trước sau đã cúng vàochùa ngót hai ngàn mẫu ruộng và gần 100,000 quan tiền để giúp vàoviệc tu tạo  chùa chiền. Hoa Lưu cư sĩ,  Nguyễn Trưởng... đã đónggóp cho  chùa nhiều đất ruộng,  nhiều tiền.

Vua Trần  Anh Tông cólúc cúng cho chùa hàng trăm lạng vàng để xây tháp Bảo Thắng và đúcnhiều tượng Phật.

 Đời Lê Sơ   

Đời  Lê, từ thế kỷ XV trở đi, trong khi Khổng Giáo được trọngvọng dùng làm hệ tư tưởng chính, thì ngược lại, Phật Giáo bị chínhquyền hạn chế sức phát triển. Những chùa chiền trên toàn quốc đãkhông có điều kiện để tạo lập thêm, ít nhất là trong giai đoạnđầu. Những hạn chế phát triển từ trong triều đình đưa ra cũng đã gây nhữngảnh hưởng không ít.Những công trình kiến trúc và điêu khắc Phật Giáo đã bị khựnglại, cho nên, mỹ thuật trong thời nầy chủ yếu biểu hiện ở cáclăng vua ở đất Lam Sơn (Tây Kinh ở Thanh Hoá) và vài tấm bia haybệ gỗ rải rác trên miền bắc Việt Nam.Trên bia Lê Thánh Tôn, những hình tượng lại càng thanh nhã hơn, nhỏhơn và cân đối hơn. Óc sáng tạo đã gây được nhiều hình thể, nội dungmới lạ hoàn toàn.

Tại điện Lam Kinh, thì cách trang trí hoa lá lạiđược lồng vào bằng những hình sóng nước, có khi là ngọn lửa, cókhi là đám mây. Những hình cong, tròn, bán nguyệt, đa dạng được sửdụng đến tối đa. Hoa sen vẫn dùng trong các chùa chiền trong khi hoacú và hướng dương lại dùng trong cung điện.

Nói tóm lại, trang trí đờiHậu Lê đã khai thác triệt để những kỹ thuật Lý, Trần, cộng thêm nhiềusáng tạo mới. Trang trí cũng đã được phổ cập trong trang hoàng nhà cửangười thường dân.  Nghệ thuật trang trí cũng như điêu khắc, kiến trúc đềumàu sắc giữa hai giai đoạn khác nhau: thời Lê sơ và thời Lê mạt.Trong những năm quân Minh sang xâm chiếm nướcta, những công trình văn hoá của cha ông chúng ta trong nhữngthời kỳ trước đều bị chúng  đốt phá, phần khác thì mang về Tàutrong mục đích đồng hoá người dân Việt.

 Những truyền thốngrực rỡ trong thời đại Lý, Trần đã không còn nữa. Cũng trong thờigian nầy đã không đủ thời gian để phát triển về lãnh vực trangtrí và đồ họa. Trong những công trình buổi đầu, như bia Vĩnh Lăngở Lam Sơn, những nghệ nhân trong thời Lê sơ chỉ có thể chép lạinhững hoa văn theo kiểu "lá đề có hình rồng" như thời nhà Lýtrước đó.

Những tượng rồng đẹp ở Lam Kinh (Thanh Hoá) và đền KínhThiên (Hà Nội) được sáng tạo trong thời kỳ nầy là hình tròn, chứkhông phải là những hình hoa văn trang trí. Tuy nhiên, qua đếnthời Lê Trung hưng về sau, khi Phật Giáo trở lại thời thịnh hành,thì nhiều chùa đã được trùng tu hay xây dựng mới. Kiến trúcthường đòi hỏi nghệ thuật trang trí phải phát triển để có thểđóng góp vào trong việc trang hoàng những công trình kiến thiết.Hơn thế nữa, trong mấy trăm năm giữ vững nền độc lập quốc gia,thì những nghệ nhân Việt Nam đã có thì giờ sáng tạo để có thể đápứng vào những yêu cầu nầy.

Hoa văn đặc sắc nhất trong thời Lê mạtlà những "hoa văn hình ngọn lửa" thường được thực hiện trên nhữngcông trình chạm nổi hay bất cứ hình thức nào, trong giai đoạnnầy. đây là điểm chính yếu nổi bật của giai đoạn nầy.Những hình thức hoa văn trong thời kỳ Lê mạt khá phong phú, đadạng, tuy nhiên đã không độc đáo như trong giai đoạn nói trên.

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục có viết: "Năm 1734,Trịnh Giang đã cấm những thường dân trong nước không được trwngtrí hoa mỹ trong nhà cửa, đồ dùng; người thợ cũng không được đuanhau chế tạo "những đồ mới lạ" trong quần chúng".

Thành thử, ngoài những công trình xây dựng các cung điện của vuachúa, thì người thợ không có quyền sáng tạo thứ gì hết; họ khôngthể mạo hiểm để tìm kiếm những điều gì khác hơn; một số đã vì sựgò bó vô lý nầy cho nên đã giải nghệ để kiếm nghề khác sinh nhai.

Điều nầy thấy rõ nhất trong những bia tiến sĩ ở Văn Miếu Hà Nộiđược dựng lên trong thời kỳ nầy.  Nếu muốn hiểu được quá trình tiến triển của nghệ thuật trang tríViệt Nam trong các thời kỳ đó, tốt hơn hết là đem so sánh nhữngbi ký của từng triều đại.

  Đời Mạc

Nhà Mạc (1527 - 1667) tuy chỉ trị vì hơn 100 năm lại gặp nhiềucuộc chiến triền miên, tuy nhiên Phật Giáo cũng đã qua một ngã rẽmới. Trong chiến tranh, giềng mối của Nho Giáo, chỗ dựa của chokỹ cương xã hội phong kiến triều Hậu Lê đã trở nên suy thoái,lỏng lẻo dần, lay chuyển đến tận gốc rễ, cho nên dân chúng lầmthan đã tìm sự an ủi trong Phật Giáo.

 Thành thử Phật Giáo trngdân gian nhân cơ hội cũng đã phát triển thêm. Thậm chí, nhà cầmquyền tuy không nghĩ rằng có thể tìm được ở Phật Giáo phương sáchđiều khiển dân chúng, nhưng vẫn phải tìm một chỗ dựa tinh thầncần thiết; họ coi sự ủng hộ Phật Giáo, xây dựng chùa tháp trongbát cứ khuôn khổ nào đó là tạo ra công đức, để có thể củng cố thếlực cai trị của mình. Thành thử, trong xu thế nầy, Phật Giáo bắtđầu phát triển trở lại.

Trong hoàn cảnh nầy, dĩ nhiên không thểtrở lại thời vàng son Lý, Trần.Trong kiến trúc Mạc, đầu tiên phải nói đến kiến trúc đình làng, sauđó mới đến chùa chiền. những đình làng nổi tiếng kiến lập trongthời kỳ nầy thì phải nói đến đình làng Lỗ Hạnh, đình Tây Đằng,đình Sùng Phúc, đình Tức Mạc, đình Bối Khê. Mặt khác, những ngôi chùa được xây dựng haytrùng tu trong thời kỳ nầy đa số đều do sự đóng góp của thiện nam,tín nữ do những cao tăng đề xướng ra. Nhìn chung, những mô thứckiến trúc, điêu khắc, đồ họa, trang trí đời nhà Mạc mang phongcách Lý Trần, nhưng ý thức mỹ thuật dân gian thì dần dà chen lầnvào, tùy sự tiếp thu của từng địa phương khác nhau. Thành thử, nhữngkiểu chùa thường đa dạng.Những ngôi chùa được tu bổ lại hay làm mới trong thời kỳ nầy thìphải kể đến: chùa Cói, chùa Thượng Trưng, chùa Hạ (tỉnh VĩnhPhú), chùa Ninh Hiệp, chùa Đa Tốn (Hà Nội), chùa Mễ Sở (HảiPhòng), chùa Trà Phương (Hải Phòng), chùa Phổ Minh (tỉnh NamHà)... 

 Gần đây, nhiều cuộc khai quật di tích những ngôi chùa hay đềntháp đã mất dấu vết đã tìm thấy được những đường nét kỳ thú:chẳng hạn như khi khai quật di tích quanh chùa Lạng (tức chùaHương Lãng hay chùa Viên Giác ở huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng),những chuyên gia trong ngành khảo cổ nhận thấy: có một lớp kiếntrúc đời nhà Mạc nằm ngay trên các lớp kiến trúc đời Lý và đờiTrần.

Phân tách lớp kiến trúc nầy, có thấy được nhiều viên gạchxây có chạm khắc hình rồng, hình phượng, hình ngựa bay; một sốviên gạch khác thì khắc hình hoa lá, hình sóng nước... Theo nhữngnhà phân tách di vật cho biết: Khi thực hiện lớp kiến trúc Mạc đãxác nhận những điều ghi trong văn bia ở đây là chùa Lạng đã đượcxây dựng khoảng năm 1581 - 1582 trên địa điểm cũ của ngôi chùa cótừ đời nhà Lý.Hầu hết những kiến trúc chùa thời Mạc còn lại đều mang nhữngđường nét và phong cách, họa tiết gần gủi với đời Trần, thậm chícòn mang dáng dấp của đời Lý nữa.

Thượng điện của chùa Cói (tứcThần Tiên Tự, toạ lạc tại xã Hội Hợp, huyện Tam Dương, tỉnh VĩnhPhú) tuy là công trình kiến lập của thế kỷ thứ XVI, nhưng lại rấtgiống các thượng điện chùa chiền của đời nhà Trần; đặc biệt làcấu trúc hai vì kèo có trụ giá chiêng cùng với bốn cột cái. Bốnthanh xà lớn nối từ bốn cột các vươn ra các góc chéo liên kết 12cột con và 20 cột hiên.   Mặt khác, các ván nong ghép với cột con làm thành vách điện,Khoảng thềm dư phiá bên ngoài có những cột hiên, làm thành hànhlang chung quanh. Cốn ghép ô trống giữa các trụ giá chiêng và cácván ghép tuyến ngang đầu cột đều có những kiểu chạm khắc dày đặcnhững loại hình rồng, hình phượng và hình tiên nữ, chim thần.

Theo cách cấu trúc nầy thì bẩy đỡ kẻ góc, đầu dư cũng có nhữnghình chạm khắc rồng phượng. Vết tích nầy đến nay đã không còn bảolưu được nữa, trải qua bao nhiêu biến động trong vùng nầy (TheoHà Văn Tấn).Những nhà nghiên cứu mỹ thuật chỉ có thể tìm thấy được những vếttích được ghi chép trên những văn bia thời nhà Mạc, để có thểphác họa được phần nào kiến trúc của chùa.

Chẳng hạn, trong vănbia của chùa Phúc Lâm Hoằng Thệ (trong địa phận huyện Ba Vì, tỉnhHà Tây) được dựng lên vào năm Hưng Trị thứ hai (1589) có một đoạnghi lại:" Cũng may, gặp lúc Hoàng Triều chấn hưng đạo Phật, cóngười giữ chức sắc huyện Cẩm Giàng (...) trùng tu lại một phầnlầu của thượng điện của chùa (Phúc Lâm). Con trai của vị xãtrưởng xã Thanh Long được phân phối cho việc xây dựng lên thêm 4gian nhà thiêu hương ở chính giữa. Các sãi lão của các khu đãhưng công dựng lên một nửa nhà tiền đường; về sau thêm phần hànhlang phía đông nam. Khu vực Chung Chàng thì kiến tạo một nửa tiềnđường, liền với hành lang Tây bắc. Dân của xã Vĩnh Phệ thì đượcphân phối tạo lập nhà hậu đường". (Khảo cổ học- 1974)

Như thế, từ đời nhà Mạc đã thấy xuất hiện kiểu bố cục chùa chiềntheo mô hình "nội công, ngoại quốc". Những thành phần chính củachùa bao gồm: tiền đường, chánh điện, thiêu hương, hậu đường, nhàTổ. Hành lang thì chạy dọc theo hai bên chùa. Về sau, theo chiềuhướng đó, mô hình nầy đã được biến đổi thêm.

Ngoài ra, cũng trong  giai đoạn nầy, còn xây dựng thêm nhiều kiểu tháp khác. Tiêu biểucho kiểu tháp nầy là tháp mộ bà chúa Mạc, phía hậu viện của chùaPhổ Minh (Nam Hà). Thân tháp cao ngất, đế tháp rộng, mặt chínhtháp quay về hướng Nam. Tháp thường được xem như là ngôi mộ, mà trong đó việc thờ phụngthường chỉ hướng về một vị cao tăng, thiền sư đã viên tịch. Thápđồng thời cũng được xem là một điện thờ một vị Phật hay vị BồTát.

Những tháp được xây dựng lên qua những thời đại đã mangnhững dạng thức khác hẳn nhau.Dạng tháp thứ nhất thể loại tháp Long Đội trùng tu lại, có 13 tầng, là môt tháp thờ Phật;trong lòng tháp chính đặt tượng của ngài Như Lai Đa Bảo, mà trongnhững kinh điển liên hệ chép rằng: "Tên của vị nầy là hình ảnh củathiện nam, tín nữ đã khởi thiện niệm trong việc tu trì và ứng xử.Ngôi tháp nầy có nền hình vuông, trên cơ sở đó liên tưởng đếnnhững tháp ở Trung Hoa".

Dạng tháp thứ hai tiêu biểu là ngôi tháp "Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp" tại chùa BáoThiên, Hà Nội. Tháp nầy gồm 12 tầng (kể từ khi mới xây cất).Tháp nầy xây trước tháp Long Đội khoảng 70 năm.  Với tên tháp, nội dung mang ý nghĩa "báo đáp ơn đức của Trời" chonên mang tính chất thần linh của Đạo Giáo hơn là Phật Giáo.Dạng tháp thứ ba tiêu biểu là tháp Chương Sơn, tháp Tường Long và tháp Phật Tích.

Những tháp nầy đến nay chỉ còn dấu vết là những nền móng, có cạnhhình vuông. Những tháp nầy xây lên để thờ phượng những vị khaisáng dòng Thiền hay khai sáng ngôi chùa.  Căn cứ theo những vết tích còn lại thì tháp Chương Sơn được xâytrên đỉnh cao của một quả đồi thoai thoải của huyện Ý Yên. Thápcao khoảng 100 mét, lại nằm trên ngọn đồi cao khoảng 75 mét sovới mặt ruộng trong vùng.  Đa số tháp có chiều cao lên không trung, gây nên một ấn tượng vềsự vươn toả, độc lập, "tránh khỏi tính chất áp chế" như nhiều nhànghiên cứu so sánh.

Về phương diện cấu trúc, những ngôi tháp đá to lớn, được dựng lêntrên những đỉnh núi bằng đất dễ lở sụt với thời gian và lủ lụt,cho nên phải được gia cố nền móng của tháp thật vững chắc, lantoả ra, mới tránh được sự suy thoái.  Tuy nhiên tháp Chương Sơn chỉ đứng vững 235 năm cho đến khi bịngoại xâm tàn phá. Tháp đã không còn lưu lại một dấu ấn sâu sắcdưới mất các thiền gia. Tháp nầy chỉ ở cách một trung tâm mỹthuật đời nhà Trần tức là Trung Tâm Thiên Trường, tỉnh Nam Định.

Kiến trúc các chi tiết chùa chiền cũng đa dạng. Nhiều kiểu bệ thờđược sáng tạo. Chẳng hạn bệ thờ chùa Hưng Khánh (Hải Phòng), bệthờ chùa Mễ Sở (Hải Hưng). Chùa Trà Phương (Côn Sơn) thì lại dùngbệ thờ bằng gỗ, nhưng chắc chắn, chạm khắc tỉ mỉ.

 PG Đàng Trong

Từ năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng vào  cát cứ ở xứ Thuận Hoá - QuảngNam, chăm lo phát  triển kinh tế - xã hội, mở  rộng thêm đất đai,giúp cho vùng  nầy trở nên trù phú. Các  chúa Nguyẽn kế tiếp, vừatiếp nối công trình trên, đồng thời phải lo chống lại chúa trịnh.

Mgoài việc bảo vệ và mở mang vùng Đàng Trong, các chúa Nguyễn hầuhết là những  Phật tử mộ đạo, hộ  trì cho Phật Giáo phát  triển ởĐàng Trong: chăm lo xây dựng,  trùng tu chùa chiền, trọng đãi chưtăng, nhờ đó phái thiền Trúc Lâm  được phục hưng với các cao tăngViên Cảnh  - Lục Hồ,  Viên Khoan  -  Đại Thâm, Minh  Châu - HươngHải... 

Ngoài ra  vác chúa  Nguyễn còn  cho người  sang Trung Hoathỉnh các danh tăng, kinh điển, pháp tượng, pháp khí... Trong khiđó, vào  giữa thế kỷ  XVII, nhà Thanh  đánh bại nhà  Minh ở TrungQuốc, một  số quân dân  nhà Minh, trong  đó có cả  những tăng sĩ,không chịu thần phục nhà Thanh nên  đã bỏ xứ đến vùng Đàng Trong;các  danh tăng  của phái  thiền Lâm  Tế như:  Nguyên Thiều - SiêuBạch, Minh Hoằng - Tử Dung, Minh  Hải - Pháp Bảo... và phái thiềnTào  Động như  Hoà thượng  Thạch Liêm,  thiền sư  Hưng Liên - QuảHoằng... đã góp  phần phục hưng Phật Giáo ở  Đàng Trong, giúp choPhật Giáo phát triển mạnh và tồn tại cho đến ngày nay.

 Nhiều ngôichùa được kiến tạo tại vùng nầy  như chùa Thiêm Mụ, chùa Hà Tung,chùa Tam  Thai, chùa Vĩnh  Hoà, chùa Di  Đà (Hội An)  chùa TrườngThọ, chùa Thiền Lâm, chuà Quốc  Ân, chùa hàm Long (Bảo Quốc( chùaẤn Tông (Từ Đàm), chùa Thuyền Tôn, chùa Từ Hiếu... 

 Chi phái  thiền Chúc Thánh phát  triển trong vùan Nam  - Ngãi vớinhững ngôi chùa  Chúc Thánh ở núi Thiên Ấn  (Quảng Ngãi) chùa TamThai và  chùa Linh Ứng (trên núi  Non Nước  - Thủy  Sơn), chùa  Hội Khánh (Thủ DầuMột), chùa Phước Lâm (Hội An), các  thiền sư hoằng hoá ở phủ QuiNhơn đã  kiến lập chùa Thập  Tháp Di Đà (xã  Nhơn Thành, huyện AnNhơn, tỉnh Bình Định), thiền sư Minh  Giác - Kỳ Hương, đời 34 củathiền phái Trúc Lâm đã xây cất các ngôi chùa: Thiên Đức (xã PhướcHưng, Bình  Định) chùa Phổ  Quang (xã Phước  Thuận, Tuy  Phước),chùa Thắng Quang (xã Hoài Nhơn,  Bình Định), chùa Thanh Sơn (quậnHoàn Ân, Bình Định).

Hoà thượng Chơn  Luân - Phước Huệ đời thứ 40của phái thiền  Lâm Tế đã có công  xây cất hay trùng tu  các ngôichùa Tịnh Lâm (Phú Cát, Bình Định), chùa Từ Quang (Đá Trắng, SôngCầu), chùa  Long Khánh (Bình Định)  chùa Thập Tháp - Di  Đà (xã VạnXuân,  Bình Định),  chùa Phổ  Quang (Tuy  Phước, Bình Định), chùaPhước Long  (xã Bình Phú, Bình  Định). Hoà thượng cũng  thành lậpcác trường "Gia  Giáo" (trường Phật Học), để  kiến lập những ngôichùa Tiên Linh (Bến Tre) chùa Phi Lai (Châu Đốc) chùa Kim Huê (SaĐéc) chùa Long An (Cần Thơ),  chùa Giác Hoa (Bạc Liêu), chùa LongHòa (Bà Rịa). Thiền sư Tịnh Giác  - Thiện Trì xây chùa Linh Phong(thôn Phương Phi, Bình Định). Thiền sư Hải Khiển - Đức Sơn đời 36của phái thiền  Lâm tế xây chùa Long Khánh  (thôn Vĩnh Khánh, QuiNhơn).

Tại  vùng Khánh Hoà,  các thiền sư  theo lớp người  di dân(thế kỷ XVI) đã xây cất những ngôi chùa khắp nơi trong vùng: chùaMinh Thiện,  chùa vạn Thiên, chùa  núi Phụng Thủy (Hoà  Én), chùaBảo Phong,  chùa Bảo Long,  chùa Linh Sơn,  chùa Thiền Lộc,  chùaThiền Tôn, chùa Kim Sơn, chùa  Hội Phước. Những ngôi chùa nầy tuyquy mô không  lớn, nhưng đã nhiều lần trùng  tu, mở rộng thêm, đãtrở nên hoành tráng.

 Chúa Sải Nguyễn Phúc Nguyên đã nhiều lần đénviếng những cảnh chùa nầy, ban đất  công để cúng tế hàng năm. Hộichùa trong vùng khá độc đáo với lễ lượt, diễn xướng nổi tiếng. Trong lịch sử di dân về đất Nam Phần của những cộng đồng khácnhau, người Hoa cũng đã phát triển Phật Giáo khá mạnh.

Nguồn pháttriển nầy khỏi đầu từ Trung Quốc sang. Bên cạnh đó, ảnh hưởngKhổng Giáo và Lão Giáo cũng được củng cố, thậm chí có những phatrộn giữa những tư tưởng nầy trong dân gian.Tinh thần tam giáo đồng nguyên cũng là một trong những khả năngtinh thần để bảo vệ giá trị tinh thần và tín ngưỡng.

Với những pha trộn nầy, ngay tại chùa chiền người Hoa, việc thờphượng "Tiền Phật, hậu Thần" hay "Tiền Thần, hậu Phật" phản ảnhrất rõ nét. Trong chùa chiền, vẫn thờ Quan Công, Ngọc HoàngThượng đế, Nam Tào, Bắc Đẩu, bà Thiên Hậu... Thậm chí có tác giảgiải thích: Chính sự pha phách nầy đã giúp cho chùa chiền thườngđược khách thập phương vãn lai.

Trong quá trình hội nhập, người Hoa từ Trung Quốc đến định cưvùng đất miền Nam vào những thời điểm khác nhau, do những biến cốdồn dập xẩy ra cho họ. Cũng như những cuộc di dân khác, trong sốnhững hội nhập, bao giờ cũng có giới tăng lữ. Họ lãnh đạo tinhthần lớp di dân.

Ngay từ thế kỷ thứ XVIII, khi những đoàn người Hoa chuyên nghềbuôn bán, hay chống đối nhà Mãn Thanh, họ nhanh chóng tập trungtừng vùng. Những ngôi chùa người Hoa có các vị tổ gốc người MinhHương; một số chuyển dần sang cách thờ cúng và tu trì người Việt.Chẳng hạn như chùa Giác Lâm ở đường Lạc Long Quân, quận Tân Bình(Sàigòn). Một số chùa người Hoa khác, do những bang Quảng Đông,Triều Châu, Phúc Kiến Hệ (Hạ Phương), Hải Nam thì vẫn giữ xu thếphát triển riêng biệt. Hiện tượng thờ Mẫu cũng thường thấy ở cácchùa, nhất là việc thờ bà Thiên Hậu.

Những nơi có đông đảo người Hoa tại miền Nam, như: Sàigòn (quận1, 5, 6, 11); tỉnh Tiền Giang, tỉnh Đồng Tháp, tỉnh Vĩnh Long,tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Minh Hải đều có chùa chiền. Có điểm tậptrung tu sĩ người Hoa đến tạm cư như trường hợp chùa Ông Bổn tạiSàigòn.Về phương diện tín ngưỡng, trước khi những chùa người Hoa chưa cóhệ thống tổ chức tu trì truyền thống, thì hình thức tổ chức vẫntheo tín ngưỡng dân gian.

Tại thành phố Sàigòn - Chợ Lớn, nhiều ngôi chùa người Hoa đượckiếp lập trong mấy thế kỷ nay như: Chùa Thiên Hậu (Quảng Đông)chùa Bà (Hải Nam), chùa Tịnh Phúc (Phúc Kiến), chùa Ông hay TamĐỉnh (Phúc Châu, Phúc Kiến), chùa Quang Vân ( Phúc Kiến Chợ Lớn), chùaThánh Mẫu Hộ Phòng (Quảng Đông Sàigòn), miếu Thiên Hậu Chợ Quán(Quảng Đông Sàigòn) chùa Bà Sàigòn (Quảng Đông Sàigòn), VũMiếu Thất Bang (tất cả người Hoa), chùa Bảo Sơn (Phúc Kiến SàiGòn, Chợ Lớn), chùa Nhập Chính (Phúc Kiến Sàigòn, Chợ Lớn), chùaHoà Chính (Triều Châu), chùa Đạt Thịnh (Phúc Kiến Sàigòn, ChợLớn), chùa Quan Âm Tống Tử (Phúc Kiến Chợ Lớn), đền Ngọc Hoàng ĐaKao (tất cả người Hoa), chùa Phượng Sơn (Hội thợ sắt), chùa TrúcLâm (Việt gốc Hoa), chùa Báo Ân (Lão giáo gốc Hoa)... chùa Nam PhổĐà (chùa Tổ).  (theo Tsai Maw Kuey- Les Chinois au Sud Viet Nam).

Căn cứ theo di chỉ chùa Hoa, những chùa miếu được xem là cổ xưanhất của người Hoa trong vùng Sàigòn - Chợ Lớn phải kể đến: chùaGiác Lâm (do Lý Thoại Long, người Minh Hương xây năm 1744 tại PhúThọ); chùa Gia Thạnh (do người Minh Hương xây năm 1789 tại ChợLớn), chùa Giác Viên (năm 1820), Quan Võ Miếu thờ Quan Công (dongười Minh Hương dựng năm 1820 tại Sàigòn), chùa bà Thiên Hậu(do người Phúc Kiến xây năm 1830 tại Chợ Lớn), Tam Hội Miếu thờbà Chúa Thai Sinh (lập năm 1839), Quỳnh Phủ Hội Quán (do ngườiHải Nam xây năm 1875 tại Chợ Lớn...  Ngoài ra, còn một sốchùa miếu khác kiến tạo nhưng lại mang tên Hội quán các bang hayhội đoàn như Nhị Phủ Hội Quán (1835), Bửu Sơn Hội Quán (1871),Nghĩa Nhuận Hội Quán (1872), chùa Giác Hải (1887) Phước An HộiQuán (1900), Ôn Lăng Hội Quán (1901).

Những ngôi chùa người Hoa kiến lập tại vùng Gia Định Sàigòn rấtnhiều và đa dạng. Theo tài liệu của J. Ch. Balencie (trongMonographie de la province de Gia Dinh- 1899) thì có đến 43 chùangười Hoa trong vùng nầy.Một trong những ngôi chùa danh tiếng của người Hoa tại Sàigòn làchùa Nam Phổ Đà, tọa lạc tại số 117 đường Hùng Vương, quận 6. Ngôi chùa nầy kiến lập năm 1945, do Hoà thượng Thống Lương và HoàThượng Thanh Thuyền đứng ra xây dựng. Đây là ngôi chùa Phật Giáocủa người Hoa được tổ chức quy củ nhất, đặt nền tảng cho tổ chứcPhật Giáo người Hoa ở thành phố. Giáo Hội Phật Giáo của người Hoađược Hoà thượng Siêu Trần và Hoà thượng Thanh Thuyền vận độngthành lập vào năm 1968, và chính thức ra đời vào ngày 20/5/1972.Giáo Hội nầy mang tên là "Phật Giáo Hoa Tông". Hoà Thượng SiêuTrần là vị hội chủ đầu tiên (1972).Việc du nhập Phật Giáo của người Hoa gắn liền với cộng đồng ngườiHoa đến định cư.

Với những đợt di dân lớn của Mạc Cửu (Hà Tiên),của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch vào thế kỷ XVII ở nhữngtỉnh Mỹ Tho, Đồng Tháp, Cửu Long, Sóc Trăng, Bạc Liêu... nhữngngưởi Hoa đến định cư tại những vùng đất nầy theo đường biển.Trong nhiều thế kỷ trước đây, cảng Đại Ngã (Sóc Trăng) đã là mộtcảng lớn, đón nhiều đợt người Hoa đến; vùng nầy cũng là nơi pháttriển Phật Giáo người Hoa rất mạnh.Từ khi người Hoa đến định cư, phát triển ở vùng đất Nam Phần chođến nay, về tín ngưỡng, những ngôi chùa thờ Phật thường bị đồnghoá với những miếu thờ thần linh từ nguồn tín ngưỡng dân gian.Thành thử nhiều chùa được gọi là miếu thờ bà Thiên Hậu, thờ ngàiQuan Thánh là chùa Ông, chùa Bà. Về việc kiến lâp chùa chiền, do nhu cầu của nền tín ngưỡng dângian, nên đa số chùa người Hoa thường được kiến tạo ở những vịtrí thích hợp của vùng đông dân cư.Kiến trúc, điêu khắc của chùa người Hoa có một số nét khác chùaViệt:- Màu sắc: chùa người Hoa thường dùng nhiều màu đỏ hay màu hồngtrong mọi thể hình trang trí; đây là màu của sức sống vươn lên,niềm tin, may mắn.- Cấu trúc: Bố cục quần thể chùa người Hoa thường theo dạng chữ"Tam" hay "Nội công, ngoại quốc". Dạng thức nầy thuận tiện choviệc bài trí nhiều bàn thờ, cúng vái, xin xăm, bói quẻ.- Mái, cổng: Mái và cổng tam quan của chùa người Hoa thường códạng cao vút lên, nét cong ở các đầu đao. Mái cổng dựng hai lớptrở lên, một dạng "trùng thiềm điệp ốc" để nới rộng diện tích.- Trang trí: Những mẫu hình trang trí chùa người Hoa khá phứctạp: Hình rồng, phượng, lưỡng long triều nguyệt, tứ linh, tứ vậtlà mô hình phổ biến nhất. Hai bên sân chùa đều có xây la thành, điểm thêm cặp lân, trong tưthế chầu chực.Tháp chùa người Hoa chia làm hai loại: Một loại để đựng dicốt của  các sư sãi viên  tịch, có nhiều công  đức trong xây dựngchùa; loại thứ 2: thờ Phật.  Thờ phượng:  Cách thiết trí thờ phượng trong một ngôi chùa người Hoa ở NamViệt Nam cũng có những điểm đặc biệt, khác với chùa người Việt.Chẳng hạn như cách thiết trí trong chùa Ngọc Hoàng (Phước Hải)tại phường Đa Kao (Sàigòn) như sau:Ngay khi vào chùa, sẽ thấy trước tiên hai bàn thờ "Môn Quan Thần"và "Thổ Địa Thần" là nơi thờ những vị thần trấn áp tà ma quấy pháchùa.  Sau đó là bàn thờ Phật, có bày những tượng Dược Sư LưuLy Quang Vương Phật, Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni, Đại ThếChí Bồ Tát và Quan Thế Âm Bồ Tát. Nhìn vào, khắp nơi khói hươnglên nghi ngút, nhìn bên phải, có tượng đồ sộ vị Thanh Long ĐạiTướng, bên trái có tượng đồ sộ Phục Hổ Đại Tướng.Sau bàn thờ Phật là chánh điện: cung giữa thờ Ngọc Hoàng; cungbên phải thờ Chuẩn Đề Quan Âm; cung bên trái thờ Bắc Đế, tứcHuyền Võ. Ở giữa gian thờ Ngọc Hoàng có sáu phi tượng chính: bênphải có ba vị, giữa là Quan Phu Tử, hai bên có Thiên Tướng vàThiên Thần; bên trái có ba vị: giữa là Văn Xương, hai bên cũng cóThiên Tướng và Thiên Thần. Trước bàn thờ Ngọc Hoàng có tấm đáquý, trên mặt có khắc bốn chữ Hán "Hoa Khai Phú Quý". Ở chínhgiữa trên bàn thờ có bức hoành phi ghi bốn chữ "Tiên Phật GiángLâm".  Gian thứ nhì có treo sáu bức chạm bằng gỗ, trình bày các cảnh:Hoạt Vô Thường, Đông Nhạc Viện, Quan Âm Đường, Địa Tạng Vương, TìMệnh Quân và Dẫn Hồn Tiên. Gian thứ ba là Thập Điện Diêm Vương; ởhai bên tường có treo hình chạm nổi những hình phạt ở âm ty đểtrừng giới những kẻ từng làm nhiều điều gian ác trên trần gian. Ởcuối gian phòng có ba khám thờ: khám ở giữa thờ Thành Hoàng Đế;khám bên phải thờ Thái Thế Thần và khám bên trái thờ Bảo ThọThần. Phía ngoài sân có bàn thờ của hai vị Thần Thanh Long và thần BạchHổ.Sau đây là mô hình chùa người Hoa tiêu biểu:Chùa Bà rất phổ biến khắp các vùng tụ cư người Hoa. Chùa Bà ở ChợLớn nằm trên đường Nguyễn Trãi, quận V. Chùa bà có tên là ThiênHậu Miếu hay là Phò Miếu. Chùa được kiến lập từ năm 1760, nhưngsau đó đã được trùng tu nhiều lần và nới rộng diện tích thêm.Chùa do Bang Quảng Đông điều hành.Theo người Hoa thì bà Thiên Hậu là một nữ thần, người Quảng Đônggọi là "A Phò" (Đức Bà). Theo tước phong của Trung Hoa thì gọi bàlà "Thiên Hậu Thánh Mẫu". Người Phúc Kiến và Hải Nam thì thườnggọi là "Đại Mẫu". Người Hoa thường xem bà Thiên Hậu là biểu tượngcủa lòng nhân ái, xả thân vì mọi người. Trên bước đường di dânlập nghiệp, nguy nan luôn luôn đe doạ bởi sóng gió, bão tố, họ sợhãi và luôn luôn cầu nguyện đến Bà Thiên Mẫu; bây giờ đến quêhương thứ hai, họ lập đền thờ để nhớ ơn.Chùa Bà giữ một vai quan trọng, không những đối với người QuảngĐông, mà ngay cả người Quảng Châu, Phúc Kiến, Hẹ... và cả ngườiViệt nữa. Thành thử việc cúng bái ngày đêm không ngớt của thậpphương ở Chùa Bà là đương nhiên.Chùa bà được xây theo kiểu "hình cái ấn" là kiểu kiến trúc đặctrưng của người Hoa. Đây là một tổ hợp gồm bốn căn nhà liên hếtvới nhau, tạo thành một mặt bằng trông giống hình chữ "Khẩu" haychữ "Quốc". Hai cơ sở phụ là trường học và hội quán. Phần dànhcho việc thờ phụng là rộng nhất, gồm có ba điện thờ: tiền điện,trung điện và chính điện.  Phần chính điện thờ tượng bà Thiên Hậu đặt ngay tại chính điện, với trang thờ và điệnthờ lớn. Bên trong trang thờ đặt ba pho tượng của Bà, theo thứ tựtừ lớn đến nhỏ và đặt từ sau ra trước thẳng hàng nhau. Trên trangthờ có bức trướng ghi hàng chữ "Thiên Hậu Thánh Mẫu". Phía trênđiện thờ lại có khắc hành chữ "Thiên Hậu Cung". Trước điện thờ cóđặt lư hương và ba dãy bàn thờ dùng làm nơi đặt lễ vật cúng bà.Gần đây, người Hoa chính quốc lại mang sang tặng thêm tượng đức  QuanThế Âm Bồ tát cũng được đặt tại bàn thờ nầy.  Bên phải chính điện là trang và điện thờ Bà Kim Huê (Mẹ Sinh, MẹĐậu), bên trái đặt tượng Long Mẫu Nương Nương. Bà Kim Huê là vịNữ Thần được phong vào thời Khương Tử Nha đời nhà Chu đã đánh vuaTrụ. Long Mẫu Nương Nương là vị Nữ Thần, con vua Thủy Tề. Treotruyền thuyết ghi chép lại thì nhân một hôm đi ngao du trên biển,có một ông lão đánh cá vô tình bắt được, thấy hình "con cá kỳlạ" nên không nỡ giết, mà mang về nuôi. Một buổi tối nọ, tình cờông lão thấy vị thần hiện ra nửa người, nửa cá. ông liền đem rathả xuống biển. Trước khi cá ra khơi, lão đánh cá nghe văng vẳngtiếng "cám ơn" và dặn: nếu khi ra biển đánh cá, gặp những cơnhoạn nạn, kêu cứu đến tên Long Mẫu Nương Nương, thì sẽ được cứuvớt. Từ đó những dân chài trên biển thường cầu khẩu và cúng tế,lập nhiều miếu thờ.Phần trung điện không đặt trang thờ, mà đặt "lư pháp lam"; đâylà đồ vật bằng sành, phía trên mặt có khắc những ô nhỏ, hình hoa,lá, chung quanh có viền bằng kim khí (vàng, bạc hay đồng). Lápháp lam nầy có ghi niên hiệu Quang Tự thứ 12, đặt trên bàn đácao. Dưới bộ lư, hai bên đặt chiếc kiệu lớn, sơn son, thếp vàng,dành để rước tượng bà trong những ngày đại lễ. tại trung điện cótreo tấm hoành phi, ghi lại năm trùng tu xưa nhất, với hàng chữ"Hàm Hoằng Quang Đại". Phần tiền điện có đặt hai trang thờ nhỏ hai bên cửa ra vào; bênphải thờ "Phúc Đức Chánh Thần"; bên trái thờ "Môn Quan Vương Tả".Phía sau cửa chính có hai tấm bia đá, ghi lại truyền thuyết về bàThiên Hậu. Trên cửa, gần nóc là bức tranh lớn về ảnh "Bà HiểnLinh Trên Biển Cả". 

Cảnh quan & Kiến trúc chùa

  Cảnh quan chùaHầu hết các chùa tháp khắp các miền đất nước đều được phân bố rảirác khắp  các địa phương,  cho nên có  điều kiện cho  những ngườikiến tạo  tìm tòi, lựa chọn  địa hình thật vừa  ý. Thành thử, đếnngôi chùa  nào, tháp nào,  chúng ta dễ  thấy được tạo  dựng trongnhững khung cảnh thật nên thơ, đẹp đẽ, oai nghiêm.Một trong những đặc điểm dễ nhận  thấy là các kiến trúc Phật Giáođời Lý, Trần và về sau, hầu  hết đều được xây dựng trên các triềnnúi, lấy núi đồi làm điểm tựa. Chúng ta có thể kể hàng loạt kiểuchùa chiền  như thế: Chùa Phật  Tích trên núi Lạn  Kha, chùa Giạmtrên núi  Giạm, chùa Quỳnh  Lâm trên núi  Tiên Du, chùa  và thápSùng Thiện Diên Linh trên núi  Đọi (Nam Hà), tháp Chương Sơn trênnúi Ngô  Xá (Nam Hà),  chùa Báo Ân  trên núi An  Hoạch, chùa LinhXứng  trên núi  Ngưỡng Sơn,  chùa Hướng  Nghiêm trên  núi Càn  Di(Thanh Hoá)... Thậm chí có những ngôi chùa được xây dựng ngay giữa đồng bằng nhưchùa Hương Lãng (Hải Hưng), chùa  Bà Tấm (Gia Lâm), chùa Báo Thiên(Hà Nội)... thì  vẫn được chọn những địa thế  có phần cao hơn mặtđất chung quanh.Có nên dựa vào những huyền thoại về "Phật Tiên thường ở trên núi"hay không, nhưng  ý nghĩa thực tiễn trong việc  chọn thế đất, thếchùa trong địa bàn đồi núi, cao  nguyên có đủ điều kiện thích hợpcho việc  sùng bái, cầu khẩn ở những chùa tháp. Chung  quanh núi đồihun hút, những cây cổ thụ um  tùm bao quanh chùa gây nên cảnh tríoai linh, tịch mịch. Nằm trong vị  thế nầy, chùa tháp như lánh xađược cảnh  náo nhiệt, phàm tục,  gợi lên bầu không  khí tĩnh mặc,bình an cho tâm hồn.Trên một bình  diện khác, ngọn núi cao đã  làm cho kiến trúc chùatháp vốn đã cao  lớn, như được nhân lên mấy độ  cao, tác dụng lạigia tăng  gấp bội. Du khách  mỗi khi đứng dưới  cửa cổng của chùaPhật Tích hay  chùa Giạm mà nhìn lên, thì  tưởng như các tầng nềnlùi dần vào núi của chúng cứ nối nhau mà vươn lên cao mãi.Những núi có  chùa đời Lý thường mọc lên  giữa đồng bằng, cho nênquanh cảnh  nầy đã giúp  cho công trình  kiến trúc chùa  chiền đãchinh phục được  quần chúng sinh sống chung  quanh trong một vùngrộng lớn. Đây là một điểm sáng giá nhất để dựng chùa mà những nhàkiến trúc  ngày trước rất  quan tâm đến.  Sang đến đời  Trần, vẫntrong nhận thức nầy, chúng ta lại  gặp một số chùa chiền trên núinhư các chùa  Giải Oan, chùa Hoa Long ở  núi Yên Tử (Quảng Ninh),chùa Hương  Tích ở núi  Hồng Lĩnh (Hà  Tĩnh). Địa thế  những ngôichùa nầy  ở vào bên  trong sâu thẳm,  nhưng không vì  thế mà vắngkhách vãn cảnh chùa hay cúng bái.Những nhà kiến  trúc đời Lý đã chọn những  ngọn núi gần đồng bằngđể xây chùa, vừa đạt được vị trí oai nghiêm, lại vừa tiện lợi chokhách hành hương. Có những ngọn núi không cao, mặt lại bằng phẳngthì xây  chùa trên đỉnh núi.  Đó là trường hợp  chùa và tháp SùngThiện Diên  Linh trên núi Đọi,  chùa và tháp Chương  Sơn trên núiNgô Xá. Có những  nơi có núi cao hơn, đường đi  khó khăn hơn, thìlại dựng chùa ở lưng chừng sườn  núi.Nếu gặp những  núi đá chênh vênh, trắc trở, thì phải xây chùa  ởdưới chân núi, lưng chùa chỉ dựa vào núi mà thôi như chùa Tháp ởnúi Sài Sơn (Hà Tây).Ngoài yếu tố  "non cao", địa hình các loại  chùa tháp lại còn gắnbó với "nước biếc", ao hồ.  Nhiều chùa  tháp xây tại ven  sông: hoặc sông lớn  như sông Hồng,sông Đuống, sông  Hương, hoặc sông nhỏ như  sông Lạng (Hải Hưng),sông Châu (Nam Hà).  Cả những ngôi chùa có vị trí  ở xa sông, thìcũng được  đào kênh, dẫn  nước đến. Điều  nầy chẳng những  tươngquan đến thuật  phong thủy, còn tạo cảnh đẹp  cho chùa, đi lại dễdàng, tổ chức lễ  hội có ý nghĩa thêm. Sông có  giá trị thực tế ởchỗ ven bờ của nó là nơi dân chúng sinh sống đông đúc, chuyển vậndễ dàng, là trục nối các vùng.  Nếu điạ thế chùa vừa gần núi, vừagần sông là điều kiện thích hợp nhất.Các nhà  kiến trúc chùa  chiền trong thời  Lý Trần rất  có ý thứctrong việc chọn lựa địa thế  chùa chiền cho thích hợp. Chẳng hạnnhư việc  xây chùa Sùng Thiện  Diên Linh ở núi  Đọi, được Hình bộthượng thư Nguyễn  Công Bật mô tả: "Mặt chùa  trông ra sông Kinh,gió lặng,  mặt sóng như  lụa biếc dải  ra, lưng chùa  quay về núiĐiệp, mưa tan dáng núi như gấm  xanh thêm sáng. Bên hữu khống chếbình nguyên  trông tới lũy  xưa Càn Hưng.  Bên tả men  theo sông,quanh hán thủy để ra khơi".Thiền sư Pháp Bảo khi đề cập đến vị thế của ngôi chùa Sùng NghiêmDiên Thánh cũng  có viết: "Phong cảnh vẫn  nguyên, hai cửa khuyếtkhống chế phía  trước, ba dòng sông ủng hộ  phía sau. Thanh tĩnh,tĩnh mịch, thực là  nơi trụ trì của nhà Phật, nơi  gửi gắm tâm tưcủa Bồ tát".  Về vị  thế của chùa Thiên  Mụ (Huế), thiền sư  Thích Đại Sán nhấnmạnh: "Chùa xây  trên đồi Hà Khê, trước mặt  là dòng Hương Giang,đường huyện lộ quanh co phía trước,  lên xa hơn là Văn Thánh, quảlà nơi tu tịnh hiếm có. Khách thập phương đến vãn cảnh, cúng bái,lại vừa hoà  với thiên nhiên, cái ý vị  thoát tục, thanh tao hiếmcó..."Thiên nhiên, cảnh vật, cây cối, sơn  thủy hữu tình đã tôn giá trịchùa già lam lên cao một bậc. Cho đến những thế kỷ sau, khi trùngtu lại  chùa, vẫn thấy rõ  ý nghĩa nầy. Năm  1629, chùa Quỳnh Lâmđược trùng  tu, Nguyễn Thực Phác  nhận thấy: "Mặt trước  về phươngchu tước (nam)  là con đường cái xe ngựa  đi thông; mé ngoài phíahuyền vũ  (bắc) là bến  sông to, thuyền  bè tụ tập;  phía bạch hổ(tây) là  dòng sông Tô  lượn quanh; Phía  thanh long (đông)  chùaTiêu Sơn đối cảnh".Quần thể  chùa Yên Tử là  một công trình kiến  trúc hiếm có. Ngàynay trải qua nhiều thế kỷ, những công trình xưa ở đây bị hủy hoạigần hết. Tuy nhiên, nếu lần theo  những vết tích xưa còn lưu lại,chúng ta cũng đã nhận ra được phần nào sự khang trang, bề thế củacác công  trình xưa. Nhiều chùa  được dựng trên một  địa thế rộngrãi, đẹp đẽ như chùa Lân ở  phía chân núi. Chùa được dựa lưng vàonúi, cổng chùa hướng ra một dòng  suới lớn. Cả một vườn chùa rộngrãi với cả một con đường ghép, chạy dài từ cổng vào, hai bên dựngđầy những tháp lớn, nhỏ, cũng đã  nói lên được vẻ đẹp thiên nhiêncủa ngôi chùa xưa như thế nào!Hoặc như chùa Hoa Yên chẳng hạn. Chùa được dựng trên một sưòn núirộng, thoai thoải.  Các nhà kiến trúc xưa đã  dựa vào địa thế củanúi để bạt thành hai lớp nền  lớn, như đã từng thấy cách kiến tạomặt bằng  của chùa Giạm, nền  chùa Phật Tích, chùa  Bảo Quốc, chùaTây Thiên.Có những công  trình không lớn, nhưng được dựng  trên một địa thếrất đẹp như am  Vân Tiên. Am nằm trên một gò  núi cao, từ dưới đilên có cảm tưởng như nổi hẳn  ra giữa trời mây. Vua Trần Anh Tôngkhi đến đây, đã không ngớt khen ngợi: "Đình đình bảo các cao phanvân, Kim tiên cung khuyết vô  phàm trần..." (Một toà nhà sừng sữngnhư chiếc lọng cao chạm mây,  Cung điện thần tiên không chút trầntục...)

III-  Bố cục ngôi chùa tiêu biểuMuốn hiểu ảnh hưởng kiến trúc Phật Giáo Trung Hoa sang Việt Nam,có thể nhận định chùa Long Hương (Hà Bắc) làm điển hình:(a) Bước vào sơn môn đến sân hình chữ nhật, với lầu trống và gácchuông hai bên tả hữu.  (b) Kiến trúc thứ nhất: Điện Đại Giác Lục Sư. (c) Sân thứ hai:điện đông phối, điện tây phối. (d) Kiến trúc thứ 2: Ma Ni Điệnvới các tượng Phật. Kiến trúc hình  tứ giác có bốn cửa mở ra bốnhướng. (e) Sân thứ ba: hai hàng bia đông, tây.  (f) Kiến trúcthứ 3: Giữa có Bi Các, bên trái có Chuyển Luân Tạng  Điện; bênphải có Từ Thị Các. (g) Sân thứ 4: Tổ Sư Điện và Già Lam Điện.(h) Kiến trúc thứ 4: Phật Hương Các. (i) Sân thứ 5: Con đường đếnDi Đà Điện. (k) Di Đà Diện.Hầu hết những ngôi chùa Việt Nam còn được biết nhiều cho đến hômnay được kiến tạo hay được trùng tu vào thế kỷ XIX. Có một sốchùa được xem là chùa đời Lý hay đời Trần như chùa Thái Lạc, chùaPhổ Minh, tuy nhiên, nghiên cứu một số chi tiết của các ngôi chùanầy, không chắc đã giữ được bình đồ và trắc đồ của ngôi chùanguyên thủy. Có thể căn cứ vào một số chùa tiêu biểu để hiểuvề bình đồ, trắc  đồ, vì kèo (bộ khung chùa).   Về bình đồ: Nhìn chung, thông thường người ta chia các chùa thành ba loạibình đồ cơ bản: bình đồ chữ "Quốc", bình đồ chữ "Công", bình đồchữ "Tam". Đó là cách nhìn chung theo dạng tự Hán văn để miêu tảbình đồ.- Bình đồ chữ "Quốc": đây là bình đồ tứ giác, tức là có tường vây baokín như nét bên ngoài của chữ "Quốc". Thông thường được gọi là"Nội Công, Ngoại Quốc" (Bên trong hình chữ "Công" bên ngoài hìnhchữ "Quốc".- Bình đồ chữ "Công": là hai kiến trúc song song nối liền nhau ởgiữa. Thành thử không có bình đồ chữ "Công" độc lập. Thật ra hầuhết ngôi chùa nào cũng có tường vây quanh như kiểu chùa chữ "Quốc".- Bình đồ chữ "Tam":Những ngôi chùa theo bình đồ nầy tiêu biểu là chùa Tây Phương,chùa Thầy ở tỉnh Hà Tây. Kiểu ba kiến trúc song song với nhauphân cách bằng những mảng sân nhỏ, phân ra chùa thượng, chùatrung và chùa hạ; không giống như cấu trúc tiền đường, thiêuhương quen thuộc của những ngôi chùa theo hình chữ "Công". Dù bênngoài chùa Tây Phương có xây lên la thành bao bọc, nhưng ba phầncũng riêng rẽ với nhau. Cả ba kiến trúc đều thờ Phật, không cókhu vực giành để chư tăng thuyết pháp mà ta thường gặp ở tiềnđường của chữ Công.  Chùa có 3 dãy song song với nhau, như ba néttrong chữ "Tam". Thường gọi là chùa Thượng, chùa Trung, chùa Hạ.Như vậy, tựa hồ như không có tường vây quanh.- Bình đồ vì kèo: Ngoài hai loại kể trên, còn có bình đồ theo nền tảng của vì kèo(tức là bộ khung chùa). Có 2 loại vì kèo : vì kèo  suốt và vì kèochồng rường.  Trong hai loại nầy thì vì kèo suốt là phổ biến nhất trong cácngôi chùa Việt Nam. Vì kèo chồng rường vẫn còn ảnh hưởng ít nhiềucủa cấu trúc Trung Hoa.Chùa Bút Tháp là cấu trúc điển hình cho kiểu vì kèo  chồng rường.Tại chùa nầy, tất cả kiến trúc điều được chồng rường, các đòn tayđều được đặt trên các đầu rường, thay vì đặt trên cây kèo suốtnhư ở gác chuông.  Gác chuông chùa Bút Tháp cũng tương tự như gác chuông chùa Keo(Thái Bình) về kiến trúc lối chồng rường. Nhưng cách dùng vì kèochồng rường tại Việt Nam như ngôi chùa nầy thì đã được đơn giảnhoá kiểu chồng rường của Trung Quốc, hay ít ra, đã biến đổi đinhiều. Số rường ở chùa Bút Tháp cũng giảm thiểu đi nhiều. Ở chùaBút Tháp chỉ còn thấy 3 lớp chồng rường, trong khi đó chùa TrungQuốc có đến 8 lớp chồng rường. Bù lại, chùa Bút Tháp lại sử dụngnhững "câu đầu" và "trích" uốn lượn nhiều hơn là những kết cấu chồngchất lên nhau từng khung nhỏ để có thể phân tán trọng lượng nhưkiểu chùa Trung Hoa. Cách làm tản lực tại chùa Bút Tháp đặt trọngtâm vào "đấu củng" và vào "chồng rường".- Bình đồ  "Nội Công, Ngoại Quốc" (thế kỷ XVI về sau) thông thường là loại mô hình liênkết thành tường vây bên trong, có cụm kiến trúc như hình chữ"Công". Tiêu biểu cho loại bình đồ kiến trúc nầy là chùa Dâu tạiHà Bắc (Thuận Thành). Qua thời gian, ngôi chùa đã bị phá hủy đinhiều. Kiến trúc chùa nầy như sau: Trước là cửa tam quan, kiếntrúc trái phải là hành lang vốn mang tính chất tăng phòng, cónhững pho tượng Thập Bát La Hán. Kiến trúc sau là nhà Tổ, cũng tổchức như tăng phòng. Kiến trúc chính là ngôi tháp với một kiếntrúc bình đồ chữ "Công". Qua nhận định chung, ngôi chùa kết cấuchữ "Công" và thượng điện có bốn cửa mở ra theo bốn hướng đã chịukiểu thức Trung Hoa rất đậm nét. Kiến trúc chữ "Công" ở những  ngôi chùa là kiến trúc song song được nối liền ở giữa. Kiểu kiếntrúc nầy khác hẳn với chùa "chuôi vồ" (tức kiến trúc bình đồ chữ"đinh") thuần túy Việt Nam. Kiến trúc chuôi vồ chỉ gồm có một kiếntrúc nằm ngang và một kiến trúc chạy dọc, nhỏ hơn, gắn vào chínhgiữa kiến trúc thứ nhất, đúng như kiểu chuôi vồ. Qua so sánh chothấy, kiểu dáng nầy là hình ảnh gần gủi với kiến trúc Ấn Độ. Kiếntrúc kiểu "chuôi vồ" là sản phẩm Phật Giáo Việt Nam, khi đưa kiểu"chùa hang" Ấn Độ vào nước ta, thích hợp với cách kiến trúc vậtliệu nhẹ. Chuôi vồ là nơi đặt biểu tượng Phật, tức là phần thượngđiện. Những ngôi chùa bố cục theo kiểu "chuôi vồ" điển hình là:chùa Diên Hựu (Hà Nội) chùa Linh Quang (Bà Đá, Hà Nội) chùa LinhQuang (Hà Bắc).Còn loại chùa kiến trúc theo chữ "Công" như: chùa Trấn Quốc (HàNội) chùa Viên Minh (Hà Nội) chùa Vĩnh Nghiêm (Hà Bắc) chùa CảmỨng (Hà Bắc), chùa Cói (Vĩnh Phú) chùa Phổ Minh (Nam Hà) chùa TâyPhương (Hà Tây), chùa Thần Quang (Thái Bình)...Nhìn chung lại, các chùa quy mô lớn thường kiến trúc theo bình đồchữ "Công"; một số theo hình chữ "Quốc" như chùa Dâu. Thôngthường thì hai hành lang nối liền tiền đường, với ngôi nhà Tổphía sau lưng thượng điện, để có thể cấu tạo theo hình "Nội Công,Ngoại Quốc". Tiêu biểu rõ nét nhất kiểu dáng nầy là chùa TrấnQuốc (Hà Nội).Bình đồ chùa Keo (Thái Bình) có gác chuông, gợi lên hình ảnh kiếntrúc tự của Trung Quốc. Nhưng thông thường, gác chuông tự thườngđặt phía trước chùa trong kiểu dáng nầy. Nhưng ở chùa Keo, về lầnsửa sang lại sau nầy thì gác chuông lại ở phía sau chùa, điềuhiếm thấy hầu hết chùa chiền.Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: lối dựng gác chuông (trước hay sauchùa) chịu ảnh hưởng của Trung Quốc; một số thì cho rằng: đây lànét đặc trưng thuần túy Việt Nam.Nghiên cứu bình đồ chùa theo kiểu dáng nầy thường lấy chùa BútTháp (Hà Bắc) làm mô hình nghiên cứu. Trước hết, la thành (hànhlang) chung quanh chùa là hình ảnh khung hình chữ "Quốc". Nhữngvết tích còn lại cho thấy: khi mới dựng chùa nầy, thì hành langđược xây rộng thêm nhiều, vây quanh làm khung thành chạy dài từcửa tam quan cho đến tháp Chuyết Công và điện thờ. Nhưng hiệnnay thì hành lang thu hẹp; tam quan, một số tháp, điện thờ đã rangoài hệ thống hành lang.Thứ tự: Nếu tính từ tam quan vào bên trong, theo thứ tự như sau đây:(a) Tam quan. (b) Sân thứ nhất. (c) Gác chuông. (d) Kiến trúc hìnhchữ "Công": Phật điện  (e) Sân sau. Cầu đá nối liền Phật điện vớikiến trúc toà Cửu Phẩm. (f) Kiến trúc toà Cửu Phẩm Liên Hoa. (g)Sân trong. (h) Nhà trung: dùng làm nơi nhóm gọp thuyết pháp. (i) Sân.(k) Phủ thờ các Vương công. (l) Sân. (m) Hậu đường: phần sau của hệthống hành lang.Theo bố cục trên, mỗi quần thể kiến trúc theo các tầng lớp ngăncách nhau bởi những không gian trống tức là các sân chùa. Tuyrằng bố cục khác với các kiến trúc khác, nhưng đây là nét độc đáocủa kiến trúc "viện lạc" trong nghệ thuật kiến trúc Trung Hoa.Ảnh hưởng đó sang Việt Nam trong những ngôi chùa lớn. Khi chuyểnhoá kiểu kiến trúc nầy thì có một số giản lược, đồng thời nhữngkiến tố kiến trúc thuần túy Việt Nam cũng đan xen vào. Chẳng hạn:việc đưa vị trí gác chuông vào chính trục kiến trúc là điều khônghề thấy trong mô thức "bình đồ tự" Trung Hoa. Ngoài ra, tất cảnhững kiến trúc bên trong chùa Việt Nam đều dựa theo cách thờphượng chư Phật khác nhau. Ví dụ: kiến trúc chùa Bút Tháp thìkiểu kiến trúc theo bình đồ chữ "Công" dùng để thể hiện rõ chứcnăng nầy. Còn những phần kiến trúc khác thì dùng làm nơi tiếpkhách như phương trượng của tự hay làm nơi thờ Tổ.Trên đây là những nét căn bản của loại bình đồ "Ngoại Quốc, NộiCông" thường thấy tại Việt Nam. Trong bình đồ nầy, yếu tố tiếpcận kiến trúc Trung Hoa được thể hiện trong loại thượng điện bốncửa và tháp chuông mà thôi. Thành thử mô hình "lạc viện" đã đượcđơn giản hoá đi nhiều, đến nổi những ngôi chùa khác nhau đã khôngtrở thành một phong cách thuần nhất của chùa chiền Việt Nam. Chùachuôi vò vẫn là phong cách chủ thể của Việt Nam từ trước đến nay.

III- Kiến trúc  Nước ta  là một nước vùng  nhiệt đới, diện tích  rừng chiếm phầnlớn. Những công trình kiến trúc  thời trước toàn bằng gỗ. Với khíhậu nhiều  mưa, lắm nắng, gió  bão thường xuyên, khí  hậu ẩm, chonên những công trình bằng gỗ chẳng  còn lưu lại là bao nhiêu. Nềnkiến trúc Phật  Giáo đời Lý đồ sộ  như thế, nhưng đến nay  thì bịhủy hoại gần  hết. Đó là chưa kể những  cuộc chiến tranh hủy hoạido phương Bắc  gây hấn thường xuyên. Thậm chí  những kiến trúc vềsau nầy, chẳng hạn thời Lê Mạc nhưng chẳng lưu lại là bao. Kiến trúc  Phật Giáo nguyên  thủy vốn là  một loại bảo  tháp, bêntrong thờ tượng  Phật. Cùng với sự phát triển  của Phật Giáo ViệtNam, kiến  trúc chùa ngoài chức  năng ban đầu là  khu tưởng niệm,khấn vái, rồi về sau trở thành nơi  tiến hành lễ hội, diễn xướng. Nếuở chùa chiền  ở Kampuchia, ở  Indonésia, chùa tháp  trở thành mộtquần thể đền  đài, cung điện, thì chùa Việt  Nam thường tách khỏimộ tháp trong việc thờ phụng. Với  kết cấu nầy, ngôi chùa chỉ cònlà nơi lễ  bái của Phật Giáo đồ,  nơi hành đạo và truyền  đạo củatăng chúng.  Chùa cũng là nơi  biểu hiện các phạm  trù Phật Giáo,bằng một hệ thống các pho tượng Phật với những quy phạm tương đốichặt chẽ. Những di tích kiến trúc còn sót  lại một vài phần thì phải kể đến: vìkèo chùa Thái Lạc (Lạc Hồng,  Văn Lâm, Hải Hưng), chùa Dâu (ThanhKhương, Thuận Thành, Hà Bắc), chùa  Bối Khê (Tam Hưng, Thanh Oai,Hà Sơn Bình).Ngoài ra còn  tìm thấy được một số lượng  điêu khắc hình gỗ tronghố chôn ở cánh đồng làng Bối  (Mỹ Thịnh, Mỹ Lộc, Hà Nam Ninh), bộcánh cửa  chùa Phổ Minh. Vì kèo: Những thành  phần kiến trúc Phật  Giáo còn lưu lại  chủ yếu là ởnhững bộ khung  giá chiêng tại chùa Thái Lạc  làm tiêu biểu. Niênđại được xác định là cuối thế kỷ XIV. Khác với những thời sau, bộ phận nầy có dáng thấp hơn. Ở giữa không đểrỗng mà được lắp ghép một mảng  gỗ có tạo hình quần lửa nhọn đầu.Ngoài ra, ở chùa Thái Lạc còn có một số mảng cốn và cột trốn đượclấp trên các  xà nách. Một số ván  nong to lớn có những  nét chạmkhắc đẹp được ghép  ở giữa các xà dọc thượng và  xà dọc hạ. Nhữngchi tiết nầy có  tác dụng che kín các lớp kiến  trúc và trang tríthêm phần thẩm mỹ. Phân tách cấu trúc vì kèo nầy  cho thấy: Bộ vì kèo giá chiêng củachùa  dựa trên  kết cấu  của 4  hàng chân  cột. Trên  đỉnh là mộtthượng lương (nóc).  Xà nầy tỳ lực trên một  đấu hình thuyền. Đấunầy tỳ vào một rường ngắn mập.  Hai đầu rường thì lại được tỳ lựclên cột trốn  qua hai đầu qua đấu vuông  thót đáy. Phần không giangiới hạn  giữa hai cột  trốn bao giờ  cũng được lồng  một tấm vánhình lá đề, có chạm khắc trang  trí tỉ mỉ. Phía ngoài cột trốn làhai phần hình tam giác dưới dạng văn bưng dày, để có thể chịu lựcđược để đỡ phần hoành mái.Toàn bộ hệ thống kể trên được  tỳ trên một câu đầu vững chắc. Câuđầu nầy  được bào xoi  vỏ măng ở  hai bên, phần  lưng và bụng thìbằng phẳng. Câu đầu thì được tỳ lực vào trên hai đầu cột cái, quahai đấu vương thót đáy lớn.Với những thành phần cấu trúc trên, chùa Thái Lạc thường được xemlà mẫu kiến trúc chùa điển hình thời Lý Trần. Tại chùa  Bối Khê, hiện nay  còn giữa lại được  nhiều đầu đao củatòa thượng  điện. Những chi tiết  kiến trúc nầy dùng  để chống đỡcác mái  chùa, cốt là giữ  cho toàn bộ khung  chùa được vững chắchơn. Ở chỗ các  đầu đao nầy cũng được các nghệ  nhân thời đó chạmkhắc công phu. Những nét chạm những đầu rồng to lớn đang há miệngngậm ngọc  và phía ngoài là  một hình chim, loại  Garuda của điêukhắc Chàm.  Đầu đao là  mảng điêu khắc  quan trọng nhất  của nghệthuật xây chùa.  Các  vì kèo gỗ  của chùa chiền  đời Trần cũngđược khắc chạm phong phú hơn hẳn các đời sau. Ở phần ván lưng, cóhình quần lửa nhọn đầu; cả hai  mặt thường được chạm đôi rồng uốnkhúc từ  trên xuống, uốn vào  giữa rồi ngẩng đầu  lên. Đề tài nầythông thường là mẫu kiến  trúc, điêu khắc rất  quen thuộc hầu hết  các chùa chiềnđời Lý Trần. Cũng trên mảng ván bưng nầy, người ta thay rồng bằnghai tiên  nữ "đầu người mình  chim" (chùa Thái Lạc)  hay bằng haihình chim phượng  chầu mặt nguyệt (chùa Bối  Khê). Ảnh hưởng Chàmkhá rõ nét.Còn ở các trụ chống, có lẽ  vì diện tích quá hẹp (rộng 30cm), chonên được chạm mỗi mặt một tiên  nữ đang uốn người, giơ tay đỡ lấybệ sen  phía trên; còn phía  dưới là hình sóng  nước nhấp nhô. Cónhiều chỗ vì chiều cao hẹp, cho  nên nghệ nhân đã chạm hình ngườithượng giới; chẳng hạn như hình  ông phỗng (chùa Thái Lạc) có nơichạm hình hoa  mẫu đơn (chùa Bối Khê), những  bệ tam cấp của chùaDiên Hựu...Ở các ván nong  chùa Thái Lạc, có chạm khắc  nhiều cảnh về đề tàicác tiên  nữ. Có nơi thì  hai tiên nữ đang  cưỡi lên chim phượng,một người thổi tiêu, người kia kéo  đàn nhị (chùa Dâu). Nơi khác thì có hìnhcác tiên nữ đang thổi sáo, đánh đàn, dáng điệu linh hoạt. Cũng cócảnh tiên nữ đầu người, mình chim, giơ hai tay lên dâng hoa. Sinhđộng hơn cả là hình chạm ba nhạc công đang sử dụng những nhạc khídân  tộc thuộc  bộ gõ  (trống) và  bộ giây  (đàn nhị).Những công trình trên đây  chẳng những là thể loại tác phẩm  nghệ thuật, mà lạicòn là vốn tài liệu quý, giúp chúng ta hiểu được nền ca nhạc nghệthuật Lý Trần. Đem so sánh,  các nét chạm trang trí  trên gỗ đời Trần tỏ  ra tinhxảo nhưng  không bay bướm như  đời Lý, trông thật  hơn và mạnh mẽhơn. Kiểu thức nầy đã tạo được  cảnh trí dung dị, gần gủi khi vàochùa. Tuy  những đề tài trình  bày có tính cách  quyền quý, chínhthống, nhưng vẫn tìm ra được tính chất nghệ thuật dân gian.Nhìn chung, những di tích kiến  trúc Phật Giáo đời Trần được phânbố rộng hơn đời  Lý, phát triển thêm ở vùng trung  du và vùng đồinúi, lên cả vùng biên giới sát Trung Hoa. Thời Lê Sơ,  những di tích Phật Giáo lưu  lại không còn lại là bao. Phầnbảo lưu lại được tìm thấy tập  trung tại kinh thành Thăng Long vàLam Sơn, quê hương  vua Lê. Vài vết tích khác là  những bi ký tạivùng  Hoà Bình,  vùng đồng  bằng Bắc  Phần, bắc  Trung Phần.  Tuynhiên, vẫn chưa được xác định  niên đại của những chứng tích nầy,so với triều đại trước đó.Nhưng qua đời Mạc  đã có dấu hiệu mới. Có tác  giả gọi đó là thời"bùng nổ"  của các di tích.  Những di tích Phật  Giáo đời Mạc tậptrung vùng  đồng bằng Bắc Phần,  nhất là vùng Kiến  An, Hải Hưng,vùng Thăng Long, vùng duyên hải Bắc Phần rồi chạy dài vào tận Thanh Nghệ. Mộttrong những  nét chính yếu của  mỹ thuật chùa chiền  ở giai đoạnnầy là thể loại "kiến trúc - mỹ thuật", mà trong đó, mọi chi tiếtkiến trúc,  điêu khắc đều  được thể hiện  các đường nét  mỹ thuậtcao. Đời Hậu Lê,  chiến tranh triền miên, kinh đô  đắm chìm trong tangtóc, tranh  chấp; tuy nhiên, tại  vùng nông thôn, nhờ  tránh đượcnhững áp  lực của chính quyền  thiên về Nho giáo,  nên chùa chiềnđược phát  triển mạnh. Chùa  dựng lên tuy  cơ cấu nhỏ,  nhưng lạiđược trang trải về bề rộng. Trong  khuôn khổ sinh hoạt nầy, đã cósự đan xen giữa thờ Phật và thờ Thần.Trong khi đó, Phật Giáo Đàng  Trong lại được phát triển dưới thờicác chúa Nguyễn  kéo dài qua triều vua Nguyễn  (1802 - 1945). Huếtrở thành kinh đô, cho nên chùa  chiền được xây dựng nhiều ở vùngđất Phú Xuân  trở vào đến vùng Đồng Nai,  theo dấu chân của nhữngđoàn người di cư. Sự phát triển  Phật Giáo miền Trung và miền Namvừa truyền  thừa những tông  phái từ trước,  mặt khác phải  thíchnghi với hoàn cảnh, tính bản địa,  hoà hợp tín ngưỡng dân gian đểphổ biến, trường tồn.  Tại miền Bắc Việt Nam, nhiều ngôi chùa cổ mang nhiều di tích lịchsử, bên cạnh đó là những mô thức kiến trúc, điêu khắc, trang trí,hội họa nổi tiếng. Được những nhà nghiên cứu đề cập đến nhiều là:Tại tỉnh Hà Bắc, phải nhắc đến Chùa Dâu (Pháp vân Tự) ở thôn Khương Tự,huyện Thuận thành, chùa Phật Tích ởnúi Lạn Kha, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, chùa Bút Tháp ở  làngÁi Lữ, xã Nhạn Tháp, huyện Siêu Loại. Tại Hà Nội và vùng Phụ cậncó chùa Một Cột (Diên Hựu) chùa Trấn Quốc, chùa Láng (ChiêuThiền) chùa Quán Sứ, chùa Kim Liên (Đại Bi Tự). Tại Hà tây phảikể đến chuà Thầy (Thiên Phúc Tự) ở làng Hoàng Xá, chùa Trăm Gian(Quảng Nghiêm Tự) ở thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Hoài Đức;chùa Mía (Sùng Nghiêm Tự) ở xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây; chùaHương ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức; chùa Tây Phương (Sùng PhúcTự) ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch thất...  Trong việc xây dựng chùa ngày trước và qua những lần tu bổ, chùađược nới rộng mặt bằng, xây thêm chi tiết, tạo đủ điều kiện chothập phương lễ lượt, chiêm bái.Chẳng hạn như chùa Yên Tử (Hoa Yên) là cả một hệ thống chùa chiềngồm có những chùa Cấm Thực, chùa Lân, chùa Giải Oan, chùa Hoayên, chùa Thiền Định, chùa Một Mái, chùa Bảo Đài, chùa Bảo Sái,chùa Văn Tiêu, chùa Đồng.Chùa Hương cũng là một mô thức tương tự gồm nhiều dạng kiến trúc:Bến Đục, Suối Yến Vĩ, núi Voi, núi Rồng, đền Trình, núi Oản, GàXôi, Bến Trò, chùa Thiên Trù, Nam Thiên Môn, Viên công Bảo tháp,Thiên thủy Tháp, chùa Tiên Sơn, chùa Giải Oan, giếng Long Tuyền,động Tuyết Kinh, am Phật Tích.  Một số chùa lại được bố trí theo thuật phong thủy khá chặt chẻ;chẳng hạn như chùa Thầy ở làng Hoàng Xá: chùa được xây trên thếđất hình con rồng; trước chùa có ngọn núi Long Đầu; sau lưng phíaphải có ngọn Sài Sơn, trước chùa có hồ Long Trì, giữa sân có hàmrồng, hai cầu gỗ như thế hai răng nanh rồng.Những vị khai sơn chùa thường cố tìm cho được những thế đất cóđầy đủ những yếu tố sơn triều, thủy tụ, tiền án, hậu chẩm, tả long, hữu hổ, huyền thủy, minh đườngđể dựng chùa, hầu mong đem lại những an lành cho dân chúng trongvùng.Nhìn đại cương, hệ thống kiến trúc thông thường bao gồm những phần cơ bản nhưsau: cổng chùa, bảo tháp, nội la thành, ngọai la thành, tiềnđường, tòa thiêu hương, thượng điện, nhà tổ, nhà trai, giảngđường, cửu phẩm liên hoa.Vào thế kỷ thứ X, nhà Đinh rồi nhà Lê đã đóng đô tại kinh thànhHoa Lư (Ninh Bình). Thành Hoa Lư được xây dựng trong một thunglũng của dãy núi đá vôi. Cùng với thành nầy, còn có nhiều ngôichùa. Theo Thiền Uyển Tập Anh có nhắc đến những ngôi chùa nổitiếng trong thời kỳ nầy như chùa Đại Vân, chùa Vạn Tuế. Chùa Tháplà ngôi chùa mà ngày nay chỉ còn thấy dấu vết nền chùa ở ven sôngHoàng Long. Trong một số đá tảng chân cột có viên hình vuông cócạnh dài đến 1,06m, chứng tỏ quy mô kiến trúc chùa rất lớn. ChùaBà Ngô ở Hoa Lư tương truyền cũng được xây dựng vào đời nhà Đinh.Tại kinh thành Hoa Lư có tìm thấy vết tích của chùa Nhất Trụ.Thành thử, ngôi chùa hiện tại không phải là kiểu kiến trúc cổ.Sở dĩ chùa có tên là Nhất Trụ vì trước chùa có một cột đá cao,khắc bài chú trong kinh Thủ Lăng Nghiêm và một số bài kệ khác.Những công trình khai quật trong khoảng thời gian từ năm 1963 đến1965 đã tìm thấy được ở Hoa Lư gần 20 cột đá khắc các minh văntương quan đến Phật Giáo, cách đền vua Đinh Tiên Hoàng chừng 2km.Đó là những cột đá có 8 mặt, dài khoảng từ 0,5m cho đến 0,7m.Trên cột đá tìm thấy năm 1963 cho dòng chữ ghi rõ: Nam Việt VươngĐinh Liễn (con trai của vua Đinh Tiên Hoàng) đã cho dựng trên 100cột kinh như thế vào năm Quý Dậu (973). Trên những cột đá nầy đềucó khắc bài thần chú "Phật Đỉnh Tôn Thắng Đà La Ni (Usnisavijaya- Dharani) bằng chữ Hán ghi âm tiếng Phạn.Dựa theo những điều ghi chép trên một số cột kinh được khai quậttrong khoảng thời gian 1987 - 1988, có đoạn nói: Nam Việt VươngĐinh Khuông Liễn đã cho xây dựng khoảng 100 bảo tràng(Ratnadhyvaja) để cầu nguyện cho linh hồn của người em là ĐinhNoa Tăng Noa bị ông giết được siêu thoát.-  Vào đời Lý, Phật Giáo phát triển mạnh mẽ, bành trướng trên nhiều địahạt khác nhau, trong đó kiến trúc, nghệ thuật tạo hình, hội họa,điêu khắc chùa chiền, bửu tháp, điện Phật cũng chịu ảnh hưởng theo. Theo xu thế nầy,  vấn đề hoằng dương Phật Pháp trong đời nhà Lý đượctriều đình ra sức nâng đỡ, coi trọng và được củng cố bằng những sắcchỉ quan trọng. Văn hóa Phật Giáo đi vào đại chúng bắt đầu triều đại nầy.Sự lớn mạnh của Phật Giáo đời Lý đã đem lại nhiều ưu thế về lịch sử bànhtrướng, hành đạo, truyền đạo, cả đến các lãnh vực thuộc văn hóa, nghệthuật mang tính chất bác học lẫn tính chất đại chúng. Năm 1031, nhà vuađã ban nhiều sắc chiếu cho chính quyền địa phương cũng như tín đồ xâydựng đến 950 chùa khắp nhiều địa phương trong một thời gian ngắn; nhiềucao tăng từ Trung Hoa cũng sang truyền bá Phật Giáo trong thời gian nầy.Giới quý tộc trong thời gian đó cũng đã tham gia những công trình xâydựng.  Những công trình  xây tháp và đúc chuông được tiến hành ở nhiều nơitrong nước. Từ kinh đô đến nông thôn, đâu đâu cũng dấy lên một phongtrào học đạo, hành đạo và truyền đạo sôi nổi.Lên ngôi mới được hai năm, tông miếu chưa dựng lên, xã tắcchưa lập, mà nhà vua cho xây dựng lên 8 ngôi chùa ở phủ ThiênĐức; lại sửa chữa các chùa quán ở các lộ. Nhà vua cấp độ điệpcho hơn 1,000 người ở kinh sư làm tăng... Bậc vua chúa sángnghiệp cần kiệm còn lo con cháu sau nầy xa xỉ, mà vua Lý Thái Tổđể phép cho con như thế, cho nên, đời sau mới xây tường cao ngấttrời, tạc cột chùa bằng đá, làm chùa Phật lộng lẫy hơn cả cungđiện nhà vua. Theo quan niệm của nhiều vua đời Lý thì chùa vẫn là "chỗ ởlâu dài" sau một thời gian làm vua tại triều. Thành thử, những ditích loại kiến trúc vào thời Lý ngày nay còn thấy được làkiến trúc tôn giáo và qua những cuộc chiến loại công trình nầykhông là mục tiêu phá hoại của giặc ngoại xâm hay phong kiếntrong nước. Đạo Phật dưới đời nhà Lý phát triển rất mạnh chiếmnhiều ưu thế.  Nhiều vị sư tham gia triều chính và được phong làm Quốc sư. Nhà vuavà hoàng thân quốc thích cũng như các quan đại thần đều hâm mộ đạoPhật. Những thế hệ sau lại thường trùng tu chùa chiền thường xuyên, đồng thờicũng được tín đồ bảo vệ. Những luật lệ trong thời nầy đã cấm người thường dân không được xây những ngôinhà lớn, khang trang hơn nhà quan hay trong cung đình. Thành thử,họ lại tập trung vào việc xây dựng đình chùa thêm đồ sộ, trang hoànglộng lẫy, tổ chức hội lễ lớn lao, nghiễm nhiên đã trở thành hìnhthức giáo dục thẩm mỹ trong dân gian.  Những nét điển hình trong việc xây cất chùa chiền dưới đời nhàLý là: (1)  Những ngôi chùa đời nhà Lý được xây dựng quy mô, vữngchắc. Việc xây bửu tháp, tượng Phật thường xuyên được tổ chức khắpnơi. Nhiều vị danh sư từ Trung Hoa được mời sang giảng kinh vàchứng minh giới đàn.  (2) Những ngôi chùa đời Lý thường chiếm những vị trí tốt đẹp. Chùađược xây trên những ngọn đồi, có sơn, có thủy. Chùa Phật Tích trênnúi Lạn Kha, chùa Giạm trên núi Giạm, chùa Quỳnh Lâm trên núi TiênDu, chùa Sùng Thiện Diên Linh trên núi Đọi, chùa Chính Sơn trên núiNgô Xá, chùa Báo Ân trên núi An Hoạch, chùa Linh Xứng trên núi LĩnhSơn...  (3) Kỹ thuật xây cất, điêu khắc, trang trítrong ngoài ngôi chùa có những đường nét chịu ảnh hưởng Chiêm Thành.Vua Lý Thái Tông và vua Lý Thánh Tôn khi đem quân sang đánh  ChiêmThành, đến tận kinh thành Đồ Bàn đã bắt được nhiều tù binh, trongđó chọn những tên thợ khéo sung vào những đội quân xây dựng. Ảnhhưởng  Chiêm Thành bắt đầu từ đó.Chùa Phật Tích xây trên núi Lạn Kha một điển hình về các thắng cảnh;thậm chí dân chúng còn tương truyền có thần tiên hiện lên trong vùng nầy.Tục truyền có 1 tiều phu tên Vương Chi đốn củi thấy tiên xuất hiện chỉdẫn những cho dân chúng nhiều phép lạ để chống lại thiên tai thủy họathường xẩy ra. Nơi gặp tiên chính là vùng xây chùa sau đó.Chùa Giạm được xây trên triền phía Tây Nam của vùng đồi núi Giạm,cũng là một thắng cảnh nổi tiếng khác về lãnh vực kiến trúc, điêu kh