Trang tiếng Anh

      Ðạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt

   

...... ... .  . .  .  .
DĨ KINH CHỨNG KINH
Vấn đề ăn chay
Về lời giới thiệu của sư Giác Chánh trong quyển Vấn Đề Ẩm Thực trong Đạo Phật
Nhóm Phật tử Phù Sa

 

            "Ce qui nous rend impurs, ce n'est pas manger de viande,mais c'est la haine l'intempe'rance, l'entêtement, la bigoterie, la fourberie, l'envie, l'orgueil, la complaisance pour les hommes injustes"

                                                                    PIERRE SALET

                                                             (L.S.P.P, tr. 52)

 

Phi lộ

    G

 

ần đây thấy trên trang Thư Viện Hoa Sen (1) có những bài phê bình TT Giác Chánh về bài viết "Lời giới thiệu" quyển "Vấn đề ẩm thực trong Phật giáo", chúng tôi Phật tử nhóm Phù Sa phân vân xin tra lại kinh sách để tham khảo vấn đề nói trên một cách thực tiễn như tục ngữ có câu : "Nói có sách mách có chứng" và để tránh cái lỗi : "Ly kinh nhứt tự tiện đồng ma thuyết".

            Mong rằng việc làm nầy sẽ đem  lại lợi ích cho Phật tử trong và ngoài nước hiện tại cũng như tương lai, mà các bậc tiền bối đã bỏ không biết bao công sức để làm cho Phật pháp  tồn tại đến thế hệ chúng ta.

                                                                                   

                                                                                    MONG THAY

                                                                             Nhóm Phật tử Phù Sa. 

 


TRA LẠI KINH SÁCH

TRAI VÀ CHAY

L

Lương Khải Siêu có nói : "Ta có mắt để thấy, có tai để nghe, có trí để suy nghĩ, đối với cổ nhân, có lúc ta kính như thầy, có lúc ta trọng như bạn, có lúc ta cũng coi thường, ta quyết vì chơn lý chớ không làm nô lệ cho cổ nhơn".

            Cổ Đức cũng có nhắc nhở chúng ta : "Kim nhơn khán cổ giáo, vị miển tâm trung náo, dục miển tâm trung náo, ưng tu khán cổ giáo (Người đời nay xem sách giáo lý đời xưa, không khỏi tâm bị rúng động, nhưng muốn tâm khỏi rúng động, thì nên xem lại sách giáo lý đời xưa)".

            Vậy chúng ta thử phối kiểm các kinh sách Phật giáo đã được ghi chép, dịch giải, biên soạn trong và ngoài nước coi ra sao ?

            Quyển "Lịch sử Phật pháp" của Hòa thượng Hộ Tông trích dịch, ấn hành 1954, trang 52 - 54 ghi rằng :

            Trích trong "Phật học tự điển"

            - Trai hựu tác thời : Chữ trai lại là thời.

            - Trai thực, thời thực giã : Ăn trai là ăn đúng giờ vậy.

            - Trai giã vị bất quá trung thực : Trai ấy, nói là sự ăn không quá ngọ.

            - Chánh ngọ dĩ tiền sở tác chi thực sự giả : Đúng ngọ về trước là thời điểm việc ăn vậy.

            - Giới luật thượng : Trên giới luật.

            - Ư thực phân thời, phi thời : Nơi sự ăn, chia giờ và chẳng phải giờ.

            - Chánh ngọ dĩ tiền vi chánh thời : Đúng ngọ về trước là đúng thời.

            - Dĩ hậu vi phi thời : Về sau là chẳng phải thời.

            - Thời giã nghi thực : Đúng thời nên ăn.

            - Phi thời giã bất nghi thực : Sái giờ chẳng nên ăn.

            - Nhơn di thời trung chi thực vi trai thực : Nhơn đó sự ăn trong giờ là ăn trai.

            - Từ điển viết : Từ điển nói.

            - Trai : Giới giả, kĩnh giã : Trai là giới vậy, kính vậy.

            - Thị thông ư nhất thiết : nghĩa suốt tất cả nơi.

            - Phạn danh Ô-Bô-Sa-Tha : Tiếng Phạn là Uposatha.

            - Hựu viết bố tác : Lại gọi là Bố Tác.

            - Thuyết thức giả : Nói cho biết.

            - Thanh tịnh chi nghĩa : Nghĩa là trong sạch.

            - Hậu chuyển viết trai viết thời : Sau đổi, nói trai là thời.

            - Chánh chỉ bất quá trung thực chi pháp : Ý chính là nói phép ăn không quá ngọ.

            - Thủ chi viết trì trai : Vâng giữ như vậy gọi là trì trai.

            - Thị vi trai chi bãn nghĩa : Thật là nghĩa gốc chữ trai.

            - Nhiên hậu hựu nhứt chuyển nhi vi bất vi nhục thực : Về sau đổi lại tất cả là không ăn thịt.

            - Thử nhơn Đại thừa giáo chi bản ý : Đó là do bản ý của Đại thừa giáo.

            - Chí trọng cấm nhục thực : Rất nặng về sự cấm ăn thịt.

            - Toại viết trì trai giã, cấm nhục thực giã : Bèn gọi là người trì trai vậy, là cấm ăn thịt vậy.

            - Tinh tấn vân giã, duy bất nhục thực chi sự giã : Nói rằng tinh tấn chỉ là việc không ăn thịt vậy.

 

1.  PHẬT GIÁO VÀ SỰ ĂN CHAY

 

            Quyển "Đức Phật lịch sử" nguyên tác : H.W. SCHUMANN, việt dịch : Trần Phương Lan, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam  ấn hành 1997, trang 243 - 245 ghi rằng :

Vị y sĩ hỏi Đức Phật về thái độ của Ngài đối với việc sát sinh và cách dùng thực phẩm toàn rau quả (trường trai) :

            - "Bạch Thế tôn ! Con nghe nói rằng nhiều súc vật bị giết vì Ngài, và Ngài dùng món thịt đặc biệt dành để cúng dường Ngài, có đúng vậy chăng ?

            - Nầy Jìvaka ! Bất cứ ai nói như vậy là không nói sự thật. Đúng ra, Ta nói rằng thịt không được nhận làm món khất thực trong 3 trường hợp nếu ta thấy, nghe và nghi ( con vật ấy bị giết vì vị Tỳ kheo nầy) song nếu không phải các trường hợp trên thì vị Tỳ kheo có thể thọ dụng món thịt.

            Nếu một vị Tỳ kheo đi khất thực trong thôn xóm hay thị trấn với tâm từ (Mettà) biến mãn khắp mọi chúng sanh và một gia chủ mời vị ấy thọ thực ngày mai, vị ấy có thể nhận lời. Nhưng trong lúc vị ấy đang thọ thực ngày hôm sau tại nhà kia, vị ấy không nên nghĩ là vẫn ước mong được mời một bữa cao lương mỹ vị như vậy thêm lần nữa. Vị ấy nên thọ dụng món khất thực mà không tham đắm lạc thú ẩm thực. Nầy Jìvaka ! Ông có nghĩ rằng một Tỳ kheo làm như vậy là tự hại mình và hại người khác không ?

            - Thưa không, bạch Thế tôn !

            - Nầy Jìvaka ! Nếu ông nói đến sự cố ý tận diệt của Ta thì điều đó chỉ đúng theo ý nghĩa duy nhất nầy : "Ta đã đoạn diệt tham, sân, si ở trong Ta khiến cho chúng không thể sanh khởi được nữa trong tương lai. Bất cứ kẻ nào sát sanh vì Ta hay một đệ tử của Ta sẽ phạm một ác nghiệp gồm có 5 phần, đó là dẫn con vật đi. hành hạ nó (lúc lôi kéo), giết chết nó và do vậy hành hạ nó thêm lần nữa và cuối cùng là cúng dường Ta và đệ tử Ta không đúng chánh pháp". (MN. 55 lượt thuật)(1).

 

2.  LỤC TỔ HUỆ NĂNG VÀ SỰ ĂN CHAY

 

            Quyển "Pháp bảo đàn kinh" do Ngài Linh Thao (Pháp Hải) ghi lại bằng hán văn, Hòa thượng Thích Nhật Long dịch nghĩa và phụ chú ấn hành 1970, trang 38 - 39 ghi rằng :

Chánh văn "Hậu huệ năng chí Tào khê, hựu bị ác nhơn tầm trục nãi ư Tứ hội tị nạn lạp nhơn đội trung, phàm kinh thập tải, thời giữ lạp nhơn tùy nghi thuyết pháp. Lạp nhơn thường linh thủ võng, mỗi kiến sanh nạng tận phóng chi, mỗi chí phạn thời dĩ thể ký chữ nhục oa, hoặc vấn đối viết : Đản khiết nhục biến thể".

Dịch nghĩa :

Huệ Năng sau đến Tào Khê lại bị bọn người ác tầm theo, bèn đến Tứ hội lánh nạn trong đội thợ săn, trải qua 15 năm, có khi tùy phương tiện nói Pháp cho bọn thợ săn nghe. Thọ săn thường sai tổ giữ lưới, mỗi khi thấy thú mắc lưới tìm cách thả, khi đến bữa ăn thời hái rau luộc chung trong nồi thịt có ai hỏi thì nói : "Tôi ưa ăn thịt thấm trong rau".

Phụ chú :

15 năm ẩn trong bọn thợ săn Tổ tùy phương tiện thuyết pháp dạy cho người cải một ít ác theo một ít thiện, chớ chưa đủ cơ duyên lập Tông. Lén mở thả thú là lòng từ nặng hơn chữ tín. Sợ người biết truy tầm nên phương tiện luộc rau trong nồi thịt ăn, thế mà có người hỏi lại nói khéo, vì ưa ăn thịt thấm trong rau, chớ không nói ăn chay theo đạo Phật. Đời sau có người không hiểu lại nói Tổ không cần ăn chay.

Học theo Tổ đến đoạn nầy chúng ta mới thấy vấn đề ăn chay : Nhiều người lầm ăn chay theo tư tưởng của thuyết nào đó dạy ăn chay để luyện tâm cho nhẹ biết bay biết biến hóa chi đó ! Cho nên họ ăn chay rất kỷ, kỷ là sao ? - Họ sợ hôi tanh thịt cá. Vì thế bắt đầu ăn chay một ít ngày gì đó, họ kỹ lưỡng và khó khăn làm sao ! Rầy con mắn cháu : Không lo sắm nồi sạch chén mới, đủa tinh cho họ ăn mau thành ? Ăn chay mà lầm như vậy cho nên có nhiều người ăn chay rất nhiều ngày, ăn chay trường nữa, nhưng họ dám hà lạm, gian manh, sát hại cho có lợi lấy tiền sắm đồ ăn chay. Ăn chay mà việc làm cũng vẫn vô nhân, vô nghĩa, chửi rủa, mắng nhiếc, sát hại thì bảo sao người ta chẳng mĩa mai :

"Si mê nghiệp chướng không chừa,

Bo bo mà giữ tương dưa ích gì "

Theo ý Tổ ăn chay là vì lòng từ bi : Thương người, thương vật, không nở vì miếng ăn  mà lường gạt gian manh, tham lam, lường gạt của người; không nở nhẫn tâm sát hại sanh mạng hay ẩn ý xúi giục người sát hại cho mình ăn. Tổ ăn chay không phải sợ hay chê hôi tanh thịt cá, cũng không để luyện xác thân, mà ăn chay vì lòng từ bi bao la cao cả thương người thương vật.

Đấy là Tổ sư giòng thiền Tào Khê Trung Quốc cũng không quá cố chấp tập quán ăn chay.

 

3.  TUỆ TRUNG THƯỢNG SĨ VÀ SỰ ĂN CHAY

 

Quyển "Lịch sử Phật giáo Việt Nam" do Minh Chi - Lý kim Hoa - Hà thúc Minh - Hà văn Tân - Nguyễn tài Thư biên soạn. Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam Viện Triết Học ấn hành. Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà nội - 1991, trang 256 - 258 ghi rằng :

"Hãy sống hòa vào đời, không làm trái quy luật tự nhiên đó là nguyên tắc sống của Tuệ trung thượng sĩ. Trần Nhân Tông đã từng viết về Tuệ trung : "Hổn tục hòa quang, dữ vật vị thường xúc ngổ" (1) (Sống chung cùng đời tục, hòa ánh trong bụi bặm, đối với mọi vật chưa từng xúc phạm hay làm trái ngược). Lời nhận xét của người học trò về người thầy của mình thật chính xác.

Thật dễ hiểu, khi từ nguyên tắc sống theo quy luật tự nhiên, Tuệ trung bác bỏ việc ăn chay, trì giới. Các bài kệ sau nói lên rất rõ quan điểm nầy :

            Khiết thảo dữ khiết nhục

Chúng sinh các sở thuộc

Xuân lai bách thảo sinh

Hà xứ kiến tội phúc

Trì giới kiêm nhẫn nhục

Chiêu tội bất chiêu phúc

Dục tri vô tội phúc

Phi trì giới nhẫn nhục

Như nhân thượng thụ thì

An trung tự cầu nguy

Như nhân bất thượng thụ

Phong nguyệt hà sở vi.

Ý bài kệ thật rõ ràng : Ăn cỏ hay ăn thịt là các loài khác nhau của sinh vật. Điều đó cũng tự nhiên như mùa xuân đến thì cây cỏ mọc lên. Như vậy, sao lại coi là tội hay phúc trong việc ăn cỏ hay ăn thịt được. Trì giới (giữ điều răn) và nhẫn nhục chỉ đem lại tội chứ không đem lại phúc. Phải biết rằng tội và phúc đâu ở chỗ trì giới và nhẫn nhục. Giữ gìn, chịu đựng như vậy cũng giống như người trèo lên cây, đang ở dưới đất yên ổn lại đi tìm cái nguy hiểm, nếu không trèo lên cây thì dù có gió lay nữa cũng chẳng việc gì !

Trì giới (Sìla) và nhẫn nhục (Ksànti) là 2 điểm quan trọng trong hạnh lục độ của Phật giáo, thế mà Tuệ trung đã gạt bỏ một cách táo bạo.

Sống theo qui luật nên không sợ quy luật và tìm được tự do"

Đấy là Tổ sư giòng thiền Trúc lâm Việt Nam cũng không quá cố chấp tập quán ăn chay.

 

4. TAM TẠNG PÀLI VÀ SỰ ĂN CHAY

 

Quyển "Kinh tiểu bộ" tập I (số thứ tự 28) việt dịch : Hòa thượng Thích Minh Châu. Nhà xuất bản TPHCM ấn hành 1999, trang 542 - 547 ghi rằng :

(II) KINH HÔI THỐI (Amagandha) (Sn. 42)

Bà la môn :

239.  "Các bậc thiện chơn chánh

Ăn hạt giống cây thuốc

Ăn đậu đũa, đậu rừng

Ăn lá, ăn rễ cây

Ăn trái các dây leo

Nhận được thật đúng Pháp

Vị ấy không nói láo

Vì các dục thúc đẩy.

240.  Ôi Ngài Kassapa

Ai ăn các món ăn

Do người khác bố thí

Khéo làm khéo chưng dọn

Trong sạch và thù thắng

Ăn lúa gạo thơm ngon

Ai ăn uống như vậy

Là ăn thịt hôi thối.

                        241.  Nầy Bà con Phạm thiên

Chính Ngài tuyên bố rằng :

Ta không ăn đồ thối

Để nuôi sống thân ta

Nhưng Ngài ăn món ăn

Bằng lúa gạo thơm ngon

Ăn thịt các loài chim

Nấu ăn thật khéo léo

Ta hỏi Kassapa :

Ý nghĩa sự kiện nầy

Ngài định nghĩa thế nào

Là ăn đồ hôi thối !

Đức Phật Kassapa :

242.  Sát sanh và hành hình

Đã thương và bắt trói

Trộm cắp và nói láo

Man trá và lừa đảo

Giả bộ kẻ học thức

Đi lại với vợ người

Đây là đồ ăn thối

Ăn thịt không phải thối.

     243.  Ở đời các hạng người

     Không chế ngự lòng dục

Đam mê các vị ngon

Liên hệ đến bất tịnh

Theo chủ nghĩa hư vô

Bất chánh khó hướng dẫn

Đây là đồ ăn thối

Ăn thịt không phải thối.

244.  Ai thô bạo dã man

Sau lưng nói dèm pha

Phản bạn không từ bi

Lại cống cao ngạo mạn

Tánh không có bố thí

Không cho ai vật gì

Đây là ăn đồ thối

Ăn thịt không phải thối.

245.  Phẫn nộ và kiêu mạn

Cứng đầu và chống đối

Man trá và tật đố

Nói vô ích, huênh hoang

Ngã mạn và quá mạn

Thân mật với kẻ ác

Đây là ăn đồ thối

Ăn thịt không phải thối.

246.  Ác giới, nợ không trả

Làm người điểm chỉ viên

Làm những nghề dối trá

Ở đây, kẻ giả vờ

Ở đây, người bần tiện

Những người làm ác nghiệp

Đây là ăn đồ thối

Ăn thịt không phải thối.

247.  Ở đời, đối hữu tình

Người không biết kiềm chế

Lấy cướp sở hữu ngưới

Chú tâm làm hại người

Ác giới và tàn nhẫn

Ác ngữ, thiếu lễ độ

Đây là ăn đồ thối

Ăn thịt không phải thối.

                        248.  Hạng tham ô, thù nghịch

Tìm cách để sát hại

Luôn luôn hướng về ác

Sau chết, sanh tối tăm

Chúng sanh ấy rơi vào

Địa ngục đầu xuống trước

Đây là ăn đồ thối

Ăn thịt không phải thối.

                        249.                         Không phải do cá thịt

Cùng các loại nhịn ăn

Không phải do lõa thể

Đầu trọc và bện tóc

Không do tro trét mình

Mặc da thú khô cứng

Không phải do săn sóc

Nuôi dưỡng và tế tự

Không do nhiều khổ hạnh

Để được chứng bất tử

Không bùa chú cúng tế

Các tế đàn thời tiết

Làm con người trong sạch

Nếu nghi hoặc chưa đoạn.

                        250.  Do sống hộ trì căn

Với các căn nhiếp phục

Vững trú trên chánh pháp

Thích chân trực, hiền hòa

Vượt khỏi các tham ái

Đoạn tận mọi khổ đau

Bậc trí không nhiễm dính

Điều được thấy, được nghe.

                        251.  Nhiều lần, Thế tôn thuyết

Ý nghĩa lời dạy nầy

Bậc bác học kệ chú

Thâm hiểu ý nghĩ ấy

Bậc ẩn sĩ nói lên

Với những kệ tuyệt diệu

Bậc không ăn đồ thối

Độc lập khó hướng dẫn.

                        252.  Nghe xong những lời dạy

Lời Thế tôn khéo nói

Chấm dứt ăn đồ thối

Đoạn tận mọi khổ đau

Vị ấy đảnh lễ Phật

Với tâm ý nhún nhường

Thỉnh cầu được cho phép

Xuất gia tại nơi đây".

Đấy là vấn đề ăn chay không phải là một trong tám muôn bốn ngàn pháp môn của Đức Phật Gotama mà chỉ là "Giáo ngoại biệt truyền" thôi !

(Thuật ngữ pháp môn dịch từ chữ Dhammakhandha, nếu dịch sát văn là Pháp uẩn nghĩa là nhóm pháp, đoạn văn, căn cứ vào kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ 3 : Tạng kinh có hai muôn một ngàn Dhammakhandha; Tạng Luật có hai muôn một ngàn Dhammakhandha; và Tạng Adhidhamma có bốn muôn hai ngàn Dhammakhandha, cộng chung Tam Tạng (Tipiỉaka) có đến 84.000 Dhammakhandha hay pháp môn).

 

5.  CƯ SĨ TRÙNG QUANG VÀ SỰ ĂN CHAY

 

          Quyển "Chọn đường tu Phật" của cư sĩ Trùng Quang ấn hành 1955. tập II, trang 21 - 29 ghi rằng :

          "Tân Tiến trọng chay khinh giới, Bảo Thủ trọng giới khinh chay. Phật tử trong 2 phái nên tạm gác các thành kiến một bên, dùng óc sáng suốt, lặng xét phải quấy trong 2 phương hướng đối chọi, để cải thiện thể thức tu hành cho hợp lý".

          VỀ PHẦN ĂN CHAY

          - Sự ăn chay phát xuất từ Ấn Độ, do 2 nguồn gốc :

          1.  Tập quán dùng lê hoát của người Ấn Độ thuộc dòng Bà la môn, chiếm độc quyền làm trung gian giữa thần Ba la ma và 3 giai cấp dưới (võ sĩ, thương gia, nô lệ) trong việc cầu đảo cùng tế.

          2.  Lời thỉnh cầu của Devadatta (Đề bà đạt đa) đệ lên xin Phật Gotama bắt buộc các thầy Tỳ khưu trong Phật giáo ăn toàn đồ lê hoát trọn đời (1). Phật Gotama không phê chuẩn, nhưng để cho tín đồ tùy thích dâng cúng bố thí (2).

          Sự ăn chay của dòng Bà la môn là một qui luật lưu truyền từ thượng cổ, nên họ coi như là một thói thường, không có tính cách quan trọng. Đề nghị của Đề bà đạt đa dựa theo tục lệ trên để chứng tỏ rằng người tu trong Phật giáo cũng thuộc dòng cao thượng như Bà la môn (3).

          Một số đông đệ tử của Phật là người thuộc dòng Bà la môn. Ngoại trừ những bậc đắc đạo quả và những người xin nhập môn với chí nguyện giải thoát, có nhiều hạng giả dạng tu hành để tìm cách tái lập uy tín của đạo Bà la môn, hoặc để nuôi mạng, trong khi đạo giáo của họ bị dân chúng phế bỏ. Các hạng Tỳ khưu không có mục đích chơn chánh ấy, tạm thời buộc lòng ở nơi hệ thống Tăng già, nhưng lòng họ vẫn không khâm phục Phật Gotama, hằng chờ cơ hội gieo mầm móng của đạo họ trong tư tưởng tứ chúng, hầu ngày kia lật đổ Phật giáo, như đã giải nơi chương Lịch Sử (quyển I). Chính các thầy Bà la môn trá hình nói trên đã làm hậu thuẩn cho Đề bà đạt đa khuấy nhiễu Phật nhiều khi, và cũng chính họ đem thuyết ăn chay thay thế cho giới luật Tân tiến sau nầy, khi Phật Gotama tịch diệt.

          Một thói quen muôn phần dễ dàng hơn giới luật nghiêm khắc, ai lại không hoan nghinh. Với cái khẩu hiệu "Ăn chay để cử sát sanh và nuôi lòng từ bi đối với muôn loài vạn vật" ai lại không mê thích. Nhưng có mấy ai biết rằng, mỗi khi cúng tế thần, các thầy Bà la môn giết bao nhiêu sanh vật như trừu, dê, trâu, bò và đồng nam, đồng nữ, mà không gớm tay. Thầy Huyền trang, khi qua Ấn Độ thỉnh kinh, cũng suýt bị họ làm thịt cúng thần Durgà, tại Prayàga (hiện giờ là Allahabad) trên sông Găng.

          Người Bà la môn từ già đến trẻ cả vợ lẫn chồng, đều ăn chay, mà lòng họ mấy chay ? Ta nên biết rằng lòng từ bi cũng như tinh thần siêu việt, không phải ở trong chỗ "ăn". Nói cho rõ hơn, cái ăn chẳng phải phương pháp rửa tâm.

          Tâm tối mê ví như nước đục, dùng lê hoát lóng cho nước trong, nước không bao giờ trong được. Tâm là vật vô hình, thân khẩu là chỗ của tâm biểu hiện. Không dùng giới luật để câu thúc thân khẩu, biết tâm đâu mà chế ngự ? Vì đó mà Phật Gotama đặt ra những điều răn cấm để cho chúng ta kềm chế thân khẩu, hầu sửa trị tâm, không cho tâm tự do hành động, nhất là duyên theo điều ác.

          Như ta đã thấy , trong phương diện nào các thấy tu Tân tiến cũng muốn tỏ ra rằng họ giỏi hơn Phật. Thử hỏi người tu Phật chơn chánh, muốn tìm đường giải thoát, nghĩ thế nào ? Đại thừa Phật giáo mà chúng ta hấp thụ từ Ấn Độ, Trung Hoa, Cao ly, Nhật Bổn hiện giờ ở trong tình trạng nào ? Chúng ta có nên đeo đuổi theo tập quán "bỏ giới chấp chay" không ?

          Theo tục lệ xưa nay, cư sĩ chúng ta có 4 cách ăn chay : 2 ngày, 6 ngày, 10 ngày và trường chay. Bậc xuất gia, lẽ thì trường chay, nhưng có nhiều thầy cũng giữ 2 ngày, 6 ngày, 10 ngày như cư sĩ.

          Không có thói quen như người Bà la môn nên chúng ta xem sự ăn chay như một việc quan trọng đặc biệt. Gặp nhau, muốn biết ai tu cao, tu thấp người ta thường gợi chuyện ông hay bà ăn chay mấy ngày trong tháng ? Đây là cái hãnh diện mà người Phật tử Việt Nam hay bộc lộ trong câu chuyện hàn huyên, làm cho mất vẽ lịch sự và thương tổn đức tánh khiêm tốn của con nhà Phật.

          Ngoại trừ những người có khấn vái để cầu xin một ân huệ chi, hoặc những người bị bệnh phải kiêng cữ đồ mặn, hàng Phật tử lấy sự ăn chay làm thước đo lường trình độ tiến hóa trong việc tu hành. Ngày ăn chay một ngày là một ngày lành, bởi trong ngày ấy ai ai cũng cố gắng kiêng cữ điều ác. Kiêng cữ là tạm ngưng, chớ không phải dứt bỏ, để ngày mai tiếp tục lại đường lối cũ.

          Người có tâm đạo, nhất là các cụ ông, cụ bà, hết sức kỹ lưỡng trong món ăn. Bếp núc, nồi nêu, chén bác đều để riêng biệt, không ai được phép trộn lộn với đồ dùng mặn. Cách kiêng cữ tinh nghiêm như thế ấy thật là hoàn toàn. Nhưng đôi khi, vì quá tin lời truyền dạy của thầy tổ, các cụ phải chứng minh cho người cắt cổ gà, vịt hoặc thọc huyết heo trong ngày đơm quẩy. Để chi ? Để tụng bảy biến vãng sanh cầu siêu cho những con vật bị giết. Thầy tổ đã có nói rằng hạ trâu ngã bò để báo hiếu, hoặc cúng thần linh thì không có tội lỗi chi cả. Chính đây là phong tục của Bà la môn giáo (1). Tin rằng giết thú để cúng thần, đã không tội lại còn có phước, các thầy Tân tiến đã sửa luật nhân quả của Phật dạy, theo tín ngưỡng của Bà la môn.

          Chơn lý chỗ nào ? Từ cái mâu thuẩn nầy, chúng ta bị dẫn dắt đến cái mâu thuẩn khác, mà chúng ta vẫn thản nhiên không quan tâm suy xét.

          Đấy là "Không chê đồ chay, nhưng không chấp nhận thành kiến ăn chay" nếu quả có sự kiện ấy thật ? !

          VỀ PHẦN GIỚI LUẬT

          *  Bây giờ xin hỏi người giữ ngũ giới có nên ăn chay không ?

          -  Ăn thì quý lắm, nhưng chớ nên cố chấp đó là đồ chay, mà không ăn cũng không sao.

          *  Vậy thì chỗ nào gọi là cử sát sanh ?

          -  Tự mình không giết, không xúi biểu kẻ khác giết, không nghe, không thấy người ta giết cho mình ăn.

          *  Chớ người ta giết cho mình ăn, mặc dầu không xúi biểu, cũng phải mang tội đồng lõa, bởi có mình ăn mới có người giết ?

          -  Tâm không gây nhân, quả không chỗ sanh, nghiệp không tạo, tội do đâu mà báo ứng.

          *  Tâm ưa thích thịt cá, thân đi mua về ăn, sao gọi là không gây nhân ?

          -  Tâm vẫn bình đẳng, không chấp chay, cũng không thiên mặn; đây chỉ là thói quen của vật chất đòi hỏi.

          *  Có tâm dung túng chấp thuận, nên sự đòi hỏi của vật chất mới được thỏa mãn chớ !

          -  Đúng vậy, nhưng tâm đâu có chủ trương giết, hoặc xúi giục kẻ khác giết, tai không nghe, mắt cũng không thấy. Cả thân lẫn tâm không vi phạm một điều kiện khinh trọng nào trong giới sát sanh kia mà.

          *  Không phạm, nhưng đã thấy biết thịt cá, mà còn nhẫn tâm ăn vào, thì lòng từ bi của Phật tử ở chỗ nào ?

          -  Tín đồ đã bị đầu độc nhiều rồi, giờ nầy còn đem cái từ bi giả dối ấy ra quảng cáo không ai tin đâu. Từ bi đối với chúng sanh đương bay đương chạy, không nở giết nó để nuôi mạng. Đó là từ bi thực sự, còn từ bi đối với miếng thịt, khứa cá, là từ bi dối trá, từ bi ngoài lỗ miệng của người bị nhồi sọ. Tu hành, trong giới sát sanh, chưa biết Phật dạy những gì, mà muốn tỏ ra mình hơn Phật.

          *  Phi lý : Phật dạy kiêng cữ thịt cá, người ăn thịt cá là người cải lời Phật. Cải lời Phật, tức là muốn hơn Phật đó vậy.

          -  Phật dạy cử giết, chúng ta cử ăn ấy mới phi lý, Phật dạy giữ 5 giới, chúng ta không giữ một giới nào, ấy mới là hơn Phật.

          *  Ăn chay không phải giữ giới hay sao ?

          -  Đã nói rằng "ăn" không phải giới. Không thấy đem "giới" ra nói chuyện, cứ đem cái ăn ra bàn hoài không rồi.

          *  Vậy chớ sao, nó là vấn đề căn bản mà (Có thực mới giật được đạo, dĩ thực vi tiên).

          -  Phải, nó là vấn đề sanh tử của dạ dầy; nào phải vấn đề cần thiết của giải thoát. Chỉ có cái nghệ thuật "ăn" quanh năm quẩn tháng giải quyết không xong.

          *  Đề mục "thịt, cá" tham khảo chưa dứt khoát, nên muốn bàn cải cho ra lý đó thôi.

          -  Nên tìm những hành giả đã tu chứng được cái quả "từ bi" mà hỏi thì ra ánh sáng.

          -  Nghe nói họ lấy thịt và cá làm đề mục để trước mắt rồi quán tưởng cho thấy con thú bị cột trói khiên đến lò thịt bị hành quyết kêu la thảm khốc, rồi bị phân thây xẻ thịt đem đi bán; hoặc thấy con cá đương bơi lội tự do dưới nước, kế bị mắc câu, kéo lên bờ, ngộp thở giảy giụa rồi chết. Thấy cảnh tượng đau khổ như vậy, lòng từ bi vô lượng phát sanh lên, từ đó đến sau họ không nở ăn thịt cá nữa. Mình cũng muốn kinh nghiệm như họ; ngồi trước mâm cơm cũng ra sức quán tưởng, không thấy từ bi ứng hiện chút nào, trái lại mùi vị thịt cá xông lên thơm mũi, bắt trớn ních đầy bụng rồi lại thấy thỏa mãn là khác … Cho nên dù trường chay mà lòng còn tham lam, sân hận, tà kiến vẫn sa địa ngục, không còn tham lam, sân hận, tà kiến trong lòng dù không ăn chay cũng sanh lên Thiên đàng.

          *  Trường chay còn sa địa ngục, mà người giữ giới còn ăn thịt cá mà cũng đi thiên đàng được sao ?

          -  Người trước không thể sánh với người sau, bởi họ sợ giới mà không sợ 4 đường ác đạo. Người sau hơn người trước bởi họ nhờ giới để ngăn ngừa tội lỗi. Người trước chay trong lý thuyết, người sau chay theo thực tế.