- 慧超問佛
- Viên Ngộ thuỳ thị
hỉ một câu đi
trước lời nói ấy thôi – nghìn thánh chẳng ai truyền cho các ngươi. Nếu
chưa từng thân kiến thì nó có vẻ như cách xa hàng nghìn thế giới.
Thiết sử ai đó đạt được
một nhận thức về những gì đi trước tiếng nói, có khả năng tiệt đoạn
lưỡi thiên hạ – hắn vẫn chưa phải là một kẻ tháo vát đích thật.
Vì thế mới bảo: Trời chẳng
thể che, đất chẳng thể chở, hư không chẳng thể dung chứa, mặt trăng
mặt trời không thể chiếu rọi. Ở nơi không Phật mà có thể tự vỗ ngực
xưng tôn, lúc ấy mới có thể chấp nhận đôi chút.
Như thế có thể vẫn chưa phải.
Nhưng, nếu các ngươi thấu hiểu điểm sáng ở đầu cọng tóc ấy, thấy
nó phóng ánh sáng chói loà thì lúc ấy có thể đi bảy bước dọc, tám bước
ngang, có thể tự do tự tại chính trong vạn pháp, nắm bắt tất cả những
gì lọt vào tay, và lúc này không còn gì là không phải cả.
Các ngươi thử nói xem: Đạt
được gì mà có thể thực hiện những điểm kì đặc như thế? Và ta đây
lại nói nữa: Đại chúng các ngươi có thấu hiểu hay không?
Ngựa xưa đẫm mồ hôi, giờ
đây còn ai biết?
Những công trình xưa vang bóng
một thời – người ta không bao giờ khen đủ.
Những gì ta vừa nói tạm
gác qua một bên! Nhưng công án Tuyết Đậu vừa đề ra thì sao? Hãy xem những
gì được ghi lại dưới đây!
ăng vấn Pháp Nhãn: Huệ
Siêu có việc muốn hỏi Hoà thượng: Thế nào là Phật?
Pháp Nhãn bảo: Ngươi là Huệ
Siêu.
»Tăng vấn Pháp Nhãn:« – Muốn
gì đây? – Hắn đã mang tờ kết án trên vòng cổ. [Chỉ hành động đến
hỏi thôi cũng cho thấy hắn chưa an ổn trong lòng. Ai thâm tâm bình an chẳng
cần hỏi nữa làm gì.]
»Huệ Siêu có việc muốn hỏi
Hoà thượng: Thế nào là Phật?« – Nói gì vậy? – Tròng mắt lọt ra
ngoài.
»Pháp Nhãn bảo: Ngươi là Huệ
Siêu.« – Cứ được tuôn ra từ khuôn đúc của ông ta. – Một cái bánh
sắt! – Ngươi chiếm một con cờ, ta cũng đoạt của ngươi một con.
[Ngươi đến đây hỏi Phật, ta đáp ngươi Huệ Siêu.]
Thiền sư Pháp Nhãn am hiểu đặc
điểm đồng thời của hiện tượng con gọi mẹ giúp cũng như việc ứng
dụng kĩ xảo này. Chính vì vậy nên Sư mới có khả năng đưa ra một lời
đáp như trên, một lời đáp – như người ta thường nói – siêu việt
âm thanh sắc tướng. Nó là biểu hiện của một tâm thức tự do tự tại
đế vương, có thể đưa đoạt tuỳ thời, giết chết hoặc làm sống lại
tuỳ ý. Quả thật là kì đặc.
Nhưng trước sau vẫn có nhiều
người lấy công án này làm đối tượng thương lượng, không ít người
lấy tình thức mà suy đoán nó. Họ không biết là cổ nhân phàm đưa ra một
câu nửa câu tương tự như một người ban đêm lấy đá cọ xoẹt lửa,
như một làn điện chớp chiếu sáng, chỉ cốt rọi sáng, mở toang con đường
chân chính cho người khác thấy. Người sau chỉ biết suy ra từ ngôn cú rồi
giải thích: Huệ Siêu chính là Phật rồi, đó chính là ý nghĩa trong câu
trả lời của Pháp Nhãn. Kẻ khác lại bảo: Huệ Siêu này giống như một
người cưỡi trâu đi tìm trâu. Lại có người bảo rằng: Chính câu hỏi
đã đúng rồi [trong câu hỏi đã có Phật]! Nào có tương can gì đến sự
việc? Nếu suy ngẫm như thế thì họ không những cô phụ chính mình, mà
còn chôn vùi cả cổ nhân.
Nếu các ngươi muốn thấy được
toàn cơ của vị thầy này thì trừ phi là một người đánh một gậy chẳng
quay đầu lại, răng như rừng kiếm, miệng như chậu máu; một người chạy
thẳng đến ngay mục đích nằm ngoài ngôn ngữ. Chỉ như vậy mới có được
chút phần tương ưng. Nếu chỉ cắm đầu vào tình thức tìm cách giải đáp
thì các ngươi hệ thuộc vào những người đang tiệt đoạn chủng tộc của
lão Hồ [tăng-già của đức Phật] trên thế gian. Việc Thiền khách Huệ
Siêu nghe câu nói ấy liền ngộ rồi ra đi chỉ có thể được hiểu là
ông ta đã lấy việc tu tập cũng như tham vấn những bậc cao minh làm
trách nhiệm, hoạt động hằng ngày. Chỉ như vậy nên khi nghe câu trả lời
trên, ông ta mới có cảm giác như cái thùng lủng đáy vỡ toang.
Cũng tương tự như trường hợp
vị Giám viện tên Tắc trong pháp hội của Pháp Nhãn, chưa từng đến hỏi
hoặc nhập thất nơi thầy mình bao giờ. Ngày nọ, Pháp Nhãn hỏi ông ta:
Giám viện Tắc vì sao không đến ta nhập thất? Tắc đáp: Hoà thượng không
biết con đã đút đầu vào chỗ của Thanh Lâm rồi hay sao? Pháp Nhãn bảo:
Nói thử xem! Tắc thuật lại: Con hỏi thế nào là Phật. Thanh Lâm đáp:
Hai đồng tử Bính và Đinh đến xin lửa. Pháp Nhãn bảo: Lời
dạy hay; nhưng ta ngại là ngươi hiểu sai. Giải thích kĩ hơn xem! Tắc bèn
nói: Bính và Đinh có liên hệ với lửa; như vậy thì chúng đi xin lửa mặc
dù đã có lửa, giống như con đã là Phật mà còn đi tìm Phật! Pháp Nhãn
bảo: Thấy chưa, Giám viện Tắc! Ngươi quả nhiên hiểu sai! Tắc bực tức,
đứng lên từ giã rồi một mình sang sông đi mất. Pháp Nhãn bảo chúng: Nếu
ông ta quay trở lại thì có thể cứu được, bằng không thì vô phương cứu
chữa. Giữa đường, Giám viện tự nhủ: Ông ta là thiện tri thức đứng
đầu năm trăm chúng, không lí nào lại lừa gạt ta? Nghĩ như thế bèn quay
lại, một lần nữa yết kiến Pháp Nhãn. Pháp Nhãn nói: Ngươi cứ hỏi
đi, ta sẽ vì ngươi trả lời. Tắc bèn hỏi: Thế nào là Phật? Pháp Nhãn
đáp: Hai đồng tử Bính và Đinh đến xin lửa. Tắc nghe câu này liền đại
ngộ.
Thời nay có người chỉ biết mở
to mắt nhìn trừng rồi bảo: Giám viện Tắc có lí với câu nói của ông
ta và câu trả lời của Pháp Nhãn cũng chẳng phản đối chút nào!! Ai đã
từng tham học lâu dài thì chỉ nghe qua những loại công án như thế này
là thông suốt được ngay điểm tinh yếu được đề ra. Trong trường hợp
này thì môn đệ trong tông môn Pháp Nhãn thường nói: »Hai mũi tên đương
đầu nhau.« Họ chẳng sử dụng ›Ngũ vị quân thần‹ [của Thiền sư
Lương Giới tại Động sơn], hoặc ›Tứ liệu giản‹ [của sư Lâm Tế
Nghĩa Huyền], mà chỉ luận về trường hợp hai mũi tên trúng nhau. Đây
chính là gia phong của Pháp Nhãn. Hạ một cú là người ta thấy ngay được
then chốt. Vừa gặp được một điểm sáng thì đã thấu hiểu được tất
cả. Nếu nghe câu nói trên mà suy nghĩ lâu dài thì các ngươi sẽ mò mẫm
trong bóng tối không biết chừng nào mới thôi.
Từ khi công khai hoá độ, Pháp
Nhãn dẫn đầu năm trăm chúng với kết quả là Phật pháp thời bấy giờ
rất hưng thịnh. Lúc ấy có Quốc sư Đức Thiều [sau trụ tại núi Thiên
Thai], nương học nơi
Sơ Sơn [đệ tử Động Sơn Lương Giới] đã lâu. Sư ta tự cho mình đã đạt
được tông chỉ của thầy mình, viết lại những lời dạy của Sơ Sơn
cũng như sưu tầm hình tượng của vị này và giờ đây, lĩnh chúng hành cước
[xem như tự xưng là thầy của thiên hạ]. Đến hội của Pháp Nhãn, Sư
cũng không đoái hoài đến việc nhập thất tham thỉnh, chỉ lệnh đồ chúng
của mình theo vào thất tham vấn. Ngày nọ, sau khi Pháp Nhãn thăng toà, một
vị tăng bước ra hỏi: Thế nào là một giọt nước nguồn Tào? Pháp Nhãn đáp: Là
một giọt nước nguồn Tào. Vị tăng buồn bực, ra vẻ thất vọng và trở
về chỗ cũ. Nhưng ngược lại, Đức Thiều đứng trong đại chúng nghe đấy
bỗng nhiên đại ngộ. Sau đó xuất thế
kế thừa Pháp Nhãn. Sư có bài tụng
trình Pháp Nhãn như sau:
Thông Huyền, đỉnh núi đơn
độc này
Nó chẳng phải là chỗ của
nhân gian
Tâm là tất cả, chẳng có
gì bên ngoài
Con mắt chứa đầy núi xanh.
通 玄 峰 頂, 不 是
人 間
心 外 無 法, 滿 目
青 山
Thông Huyền phong đỉnh, bất
thị nhân gian
Tâm ngoại vô pháp, mãn mục
thanh sơn.
Pháp Nhãn nghe tụng liền đóng dấu
ấn của mình với những lời sau: Chỉ bài tụng này cũng đủ kế thừa
Ngũ tông. Ngươi sau này được vương hầu tôn kính, ta chẳng bằng.
Hãy xem! Cổ nhân giác ngộ như
thế đấy! Thế nào? Đạo lí gì ư? Các ngươi không thể giản đơn để
sơn tăng này giải thích. Mỗi người bọn ngươi phải tham cứu câu này
ngày ngày hai lần mười hai giờ, tập trung tinh thần chuyên cần tu tập.
Sau đó thì chẳng còn gì khó nữa khi một ngày nọ thõng tay vì người hoá
độ tại ngã tư đường.
Đó chính là nguyên do vì sao
Pháp Nhãn đáp câu hỏi Phật của vị tăng: Ngươi là Huệ Siêu. Nào có ai
cô phụ ai ở đây! Câu hỏi này đúng, không sai. Và câu trả lời của
Pháp Nhãn cũng tương tự như vậy. Các ngươi không nghe Vân Môn nói hay
sao: »Nếu ai nghe thầy dạy mà không hướng nội tìm hiểu thì câu hỏi
và câu trả lời lệch nhau. Còn suy nghĩ tư lượng mãi thì chừng nào mới
ngộ được đây?« Các ngươi sẽ tìm thấy bài tụng của Tuyết Đậu ở
trang sau, quả thật là hiển hách! Hãy xem thử!
Tuyết Đậu tụng
iang quốc gió xuân muốn thổi
– nhưng thổi chẳng xong
Chá Cô kêu ríu rít trong lùm
hoa rậm
Nơi tam cấp cá vọt nhảy
hoá rồng
Còn kẻ si thì giữa đêm còn
thấy tát nước nơi bờ đê.
江
國 春 風 吹 不 起
鷓
鴣 啼 在 深 花 裏
三
級 浪 高 魚 化 龍
癡
人 猶 戽 夜 塘 水
Giang quốc xuân phong xuy bất
khởi.
Chá Cô đề tại thâm hoa
lí
Tam cấp lãng cao ngư hoá
long
Si nhân do hỗ dạ đường
thuỷ
»Giang quốc gió xuân muốn thổi
nhưng thổi chẳng xong« – Từ đâu mà có tin tức này vậy? [Sự kiện
này chẳng tương can đến bản công án!] – Nhưng người ta cũng đã thấy
được chút ít vẻ xuân. [Huệ Siêu đã có phần ngộ nhập.]
»Chá Cô kêu ríu rít trong
lùm hoa rậm« – Ríu rít như thế làm chi? [Chá Gô kêu làm chi? Người ta
cũng biết là xuân đến rồi.] – Và gió lại thổi đến với chúng ta bằng
điệu khác rồi. [Ban đầu thì nói xuân chẳng muốn đến, bây giờ thì
bài tụng lại mang một nhịp điệu khác rồi!] – Nào có chuyện gì đâu!
[Các đệ tử không nên lưu tâm nơi những hình tượng này, chúng chẳng
có gì quan trọng.]
»Nơi tam cấp cá vọt nhảy hoá
rồng« – Ông ta không nên qua mặt đại chúng nghiêm túc! [Chúng ta cũng là
những người tương tự như Huệ Siêu. Quá bất lịch sự nếu cứ nói về
rồng ...] – Con rồng như thế thì người ta nên đạp vào đầu! Nếu không
thì nguy hiểm.
»Còn kẻ si thì giữa đêm còn
thấy tát nước nơi bờ đê.« – Họ đứng chặt trên mặt đất, tay thì
mò mẫm nơi bờ tường. – Họ đứng bên cổng [để rình ông chủ đã vắng
nhà từ lâu]. – Những trò này chẳng phải là việc của nạp tăng. –
Như thế là: Ôm gốc cây đợi thỏ.
Tuyết Đậu là một tác gia. Từ
những lời lãi nhãi khó cắn, khó nhai, khó thấu, khó thấy, đầy khúc mắc
quanh co của cổ nhân mà Sư làm thành một lời tụng để người khác thấy
được thì quả thật kì đặc. Sư biết rõ then chốt của Pháp Nhãn; và cũng
biết Huệ Siêu ngứa ngáy ở chỗ nào; thêm vào đó thì Sư cũng lo âu việc
hậu nhân chỉ hướng theo ngôn cú của Pháp Nhãn mà suy ngẫm sai lệch. Đây
chính là những điều kiện tiên quyết của bài tụng Sư trình bày bên
trên.
Vị tăng đưa ra câu hỏi như bản
công án trình bày, và Pháp Nhãn đưa ra câu trả lời của mình. Đây chính
là điểm mà Tuyết Đậu muốn nói đến trong hai câu: »Giang quốc gió
xuân muốn thổi nhưng thổi chẳng xong. Chá Cô kêu ríu rít trong lùm hoa rậm.«
Hai câu này [nên nhớ!] chỉ là một [nó thành lập một đơn vị tương tự
như gà con trong trứng lấy mỏ cạ vào vỏ trứng, khiến gà mẹ biết được,
dùng mỏ cứng mạnh của mình tháo gỡ vỏ giúp con]. Các ngươi thử nói
xem: Tuyết Đậu nghĩ gì với hai dòng kệ này? Phần lớn mọi người, dù
bên Giang nam hay Giang tây, họ đều hiểu việc này hai mặt và quả quyết
rằng: Câu đầu »Giang quốc gió xuân muốn thổi nhưng thổi chẳng xong« hướng
về lời đáp của Pháp Nhãn »Ngươi là Huệ Siêu«. Ngoài ra họ chẳng
còn gì để nói. Như vậy thì gió xuân cũng chẳng có can đảm dấy lên [cự
lại câu trả lời oai phong khiến tất cả câm nín của Pháp Nhãn]. Câu kệ
thứ hai »Chá Cô kêu ríu rít trong lùm hoa rậm« được hiểu như những cuộc
tranh luận sôi nổi về câu nói của Pháp Nhãn, tương tự như tiếng kêu
ríu rít của bầy Chá Cô trong lùm cỏ rậm. Nào có tương can gì đến sự
việc! Họ chẳng hề biết là hai câu của Tuyết Đậu chỉ là một. Nơi
đây phải lành lặn không được có một chỗ vá, chỗ nứt nào. Ta nói với
các ngươi rõ ràng ràng nơi đây: Ngôn trình bày đúng và ngữ cũng trình
bày đúng. [Tuyết đậu cũng nói tương tự như vậy trong bài kệ tụng của
công án thứ hai.] Nó che đậy cả trời lẫn đất. Kẻ kia hỏi: Thế nào
là Phật? Pháp Nhãn đáp: Ngươi là Huệ Siêu. Và Tuyết Đậu nói thêm
vào: »Giang quốc gió xuân muốn thổi nhưng thổi chẳng xong. Chá Cô kêu
ríu rít trong lùm hoa rậm.« Nếu các ngươi gom góp tất cả lại được
[như một người đánh bạc thắng gom tiền của mình] thì sẽ một mình
đi dưới vầng hồng. Còn nếu lấy tình thức mà suy ngẫm, giải thích
thì còn phải trải qua ít nhất ba cuộc sống nữa, nếu không muốn nói
là sáu mươi kiếp!
Trong câu thứ ba và tư thì Tuyết
Đậu quá ư từ bi, đã vì người thuyết phá [những gì Sư ám chỉ mập mờ
trong hai câu đầu]. Sư trình bày sự kiện Thiền sư Huệ Siêu nhân câu
nói của Pháp Nhãn mà đại ngộ và so sánh nó với hai câu »Nơi tam cấp cá
vọt nhảy hoá rồng. Còn kẻ si thì giữa đêm còn thấy tát nước nơi bờ
đê.« Tam cấp tại Vũ Môn – cũng được gọi là Long Môn – được hình
thành [theo truyền thuyết xưa] là nhờ vua Vũ cho khoan thủng dãy núi nơi
ấy và dựng ba đập nước [để giảm được phần nào sức nước mãnh
liệt cũng như dẫn nước tưới ruộng đồng]. Và khi hoa đào nở vào
ngày mồng ba tháng ba thì trời đất sở cảm, khiến từng con cá [cụ thể
là những con cá chép lớn mạnh] bơi ngược dòng, nhảy vọt qua những
thác nước, qua Long Môn này. Nếu con nào nhảy vượt Long Môn được thì
đầu mọc sừng, đuôi kéo dài ra như bờm ngựa, rồi vồ lấy mây mà bay
đi. Con nào không vượt qua được phải quay trở lại, đầu mang thương tích.
Nếu kẻ si nào cứ cắn nhai
ngôn cú [tức là câu hỏi của Huệ Siêu và lời đáp của Pháp Nhãn] thì
họ giống như những người »giữa đêm còn thấy tát nước nơi bờ đê«
để tìm cá. Họ hoàn toàn không biết là cá đã hoá rồng lâu rồi. Sư
ông Thủ Đoan có một bài tụng
như sau về sự việc này:
Ông ta rút một tờ tiền
sáng ngời
Và mua một cái bánh chiên
Nhâm nhi, nuốt vào bụng
Chẳng hề nghe ông ấy than
đói.
一 文 大 光 錢
買 得 箇 油 糍
喫 向 肚 裏 了
當 下 不 聞 饑
Nhất văn đại quang tiền
Mãi đắc cá du từ
Khiết hướng đỗ lí liễu
Đương hạ bất văn cơ.
Bài tụng này rất hay; chỉ có
điều quá thô vụng. Ngược lại, bài tụng của Tuyết Đậu thì quá
khéo; nó chẳng có góc cạnh sắt bén nào làm tay người bị thương. Xưa
kia có một vị Tạng chủ tên Khánh rất thích bài tụng
của Tuyết Đậu, thường hỏi đệ tử: Ngươi nghĩ thế nào về câu: »Nơi
tam cấp cá vọt nhảy hoá rồng«? Ta tự thấy câu hỏi này chẳng cần thiết.
Chỉ muốn hỏi các ngươi như sau: Nơi nào ngày nay mà cá còn hoá rồng bay
mất?
1. Theo truyền thuyết về
cuộc đời đức Phật tại Đông á thì hoàng hậu Ma-da, vợ của vua Tịnh
Phạn muốn về nhà cha mẹ tại Koli để sinh con. Nhưng dọc đường, bà
chuyển bụng bất ngờ, đành phải dừng chân tại Lam-tì-ni để rồi sinh
đứa con trai đầu tiên của mình tại đây. Ngay sau khi sinh thì có bốn vị
thiên thần xuất hiện, tán tụng đứa bé. Đứa bé sơ sinh này quay nhìn bốn
phương tám hướng, đứng dậy đi bảy bước. Sau đó, nó lấy tay phải chỉ
đất, tai trái chỉ thẳng lên trời vào bảo: Trên trời dưới đất chỉ
có ta là đáng tôn kính. Tam thế đều là khổ. Ta sẽ an tĩnh chúng.
Qua một cách rất mộc mạc,
đơn giản mà người ta đưa vào thế giới quan của chúng ta một quan điểm
hoàn toàn mới lạ, ngược đời. Một câu nói nhỏ được gán vào mồm của
một đứa bé sơ sinh – một câu mà chẳng ai có thể nói được, bởi vì
ngay lập tức sẽ bị thiên hạ cho là cuồng điên, là nhảm nhí. Nhưng mặc
dù vậy, những người mang tâm thức nhạy bén, cảm nhận được điều bí
ẩn huyền diệu nơi đức Phật, họ không thể trình bày điểm bí ẩn
này bằng một cách nào khác hơn là chính cái »câu nói nhỏ« ấy. Nó đứng
phía trên tất cả những người tu học đạt Phật quả như một ngôi sao
dẫn đường, như vậy đặc biệt là những người trong thiền lâm. Chỉ một
điều là mọi người trong giới thiền cũng đã biết đây là điều bí
ẩn sâu kín nhất mà đương đầu với nó, mỗi lời phát biểu đều phải
thất bại. Nó chẳng thể nào trở thành một câu nói đầu lưỡi. Nó
chính là »câu nói nhỏ« trung tâm, nhưng lại đi trước tiếng nói. Chính
vì vậy mà nó không để người truyền miệng và người nào chưa thân kiến
vẻ tôn nghiêm bao trùm của nó trong thâm tâm thì có lẽ thấy nó xa tít thăm
thẳm.
2. Nhưng mà – sẽ có những người
suy nghĩ ›khách quan‹ kháng biện –, câu ấy đứng rõ ràng trên giấy mực!
Nó được ghi lại trong Phật sở hạnh tán, trong Cāryanidāna cũng như những thánh
điển khác. Và không phải là những vị Tổ sư trong tăng-già đã dùng tri
thức sắc bén của mình để phân tích nó ra từng thành phần để người
khác, để hậu nhân tầm đạo có thể nghiên cứu, luận giải để rồi
thuyết giảng cho quần chúng hay sao? Những Cao tăng theo giáo môn thời Viên
Ngộ đã có những công thức rõ rệt để xác định thế nào là thể
tính của một vị Phật và một người nào đó có thể tu học thành Phật
như thế nào. Nhưng, chính qua đó mà những gì đi trước ngôn ngữ lại
bị lôi cuốn, sa lạc vào ngôn ngữ, và ›sự việc ấy‹ giờ đây –
nó bị thất lạc.
3. ›Sự việc‹ được nói đến,
chính nó lại siêu việt tất cả không gian, chỉ được trực chứng trong
thâm tâm. Và khi nó xuất hiện thì tất cả những bức tường ngăn cản
trước đây sụp đổ như cát bụi. Phật-đà, hình tượng gương mẫu, kẻ
cứu nhân độ thế, người mang niềm vui đến nhân loại bỗng dưng tan biến,
trở thành một kẻ vô danh. Bản ngã, và cùng với nó, những cái ngã xung
quanh chìm đắm. Từ chiều sâu thăm thẳm lại xuất hiện một tự tính
thanh tịnh, chẳng còn gì khác tồn tại hơn là một sự tôn nghiêm bất khả
xâm phạm. Và cá nhân trước đây – vừa kinh động vừa sung sướng – tự
nhận được chính mình trong chiều sâu thăm thẳm này: Nó đích thật
là ta.
4. Nhưng chính sự việc này –
như Viên Ngộ nói tiếp –, nó vẫn chưa phải là cứu kính. Ai chỉ an trú
trong cõi tịch tĩnh vừa đạt được sẽ nhận thấy là toàn thế giới
xung quanh biến chuyển. Những biến chuyển huyền diệu xuyên suốt tứ hướng
thập phương này chính là cái được đề cập, phát triển một cách triệt
để ngoạn mục trong bộ kinh Đại phương quảng phật hoa nghiêm.
Viên Ngộ nhắc đến những sự việc này với thâm ý; bởi vì Sư hiểu rõ
Lão sư Pháp Nhãn, biết là ông ta lúc nào cũng nhận thấy thế giới huyền
diệu này ngay trước mắt trong lúc tiếp độ bất cứ một học nhân nào.
Đó chính là thế giới của chân tự do, của chân hạnh phúc, nhưng lại
chẳng phải là một thế giới nào khác hơn thế giới mà chúng ta đang sống
trong ấy. Nó chính là thế giới Pháp Nhãn muốn chỉ học nhân thấu đáo
khi Sư gọi Huệ Siêu ngay chính tên của ông ta.
5. Viên Ngộ rất đau lòng khi chứng
kiến chúng đệ tử ngay trước mặt. Liệu họ thấy được những gì cổ
nhân đạt được sau những cuộc chiến đấu nhọc nhằn? Sư chẳng có thể
làm gì khác hơn ngoài việc nhắc lại ví dụ của tiên sư Ngũ Tổ Pháp Diễn
trong một câu kệ, so sánh cuộc đấu tranh nội tâm của đức Phật với
những thành tích, hành động của những vị anh hùng xa xưa.
Cũng tương tự như Vân Môn, Thiền
sư Pháp Nhãn hệ thuộc vào
dòng thiền của hai vị Đức Sơn và Tuyết Phong, mặc dù chỉ nhỏ hơn Vân
Môn 21 tuổi, nhưng tính theo hệ thống truyền thừa kể từ Sơ tổ Đạt-ma
thì lại sau vị này hai bậc, như vậy là ở thế hệ thứ mười lăm. Sư
xuất xứ từ tỉnh Chiết Giang, tại thành phố Dư Hàn gần Hàng Châu. Năm
lên sáu, Sư được gửi vào một ngôi chùa tu học và năm lên hai mươi,
Sư đến một ngôi chùa tại Thiệu Hưng, vịnh Hàng Châu thụ giới cụ
túc. Không bao lâu sau, Sư đến một ngôi chùa cổ kính tại thành phố cảng
Ninh Ba, vốn được một vị du tăng người Ấn là Pháp Hữu khai sáng trước
đó khoảng 450 năm để tưởng niệm đến vị vua hộ trì Phật pháp danh
tiếng người Ấn là A-dục. (Pháp Hữu đi khắp
nước Trung Hoa hoằng dương Phật pháp cũng như những kĩ thuật thiền định,
có thể được xem là tiền nhân của Bồ-đề Đạt-ma.) Nơi đây, trong
ngôi chùa A-dục vương này, người ta còn chú trọng đến việc giữ giới
luật truyền thống và đó cũng chính là nhiệm vụ mới của vị tăng trẻ
mới đến. Nhưng ngoài đó ra, Sư cũng có những nhu cầu khác như pháp danh
được ban khi thụ giới cụ túc của Sư cho thấy: Văn Ích, gọi theo Nhật
ngữ: Bun-eki, có nghĩa là ›Lợi ích của văn hoá‹ hoặc ›Ngày càng học
biết nhiều hơn‹, tuỳ trường hợp. Thư viện to lớn của ngôi chùa này
có vẻ rất thích hợp sở thích của Sư, không những cho phép Sư nghiên cứu
kinh điển song song với việc chuyên trì giới luật, mà còn tạo điều kiện
để Sư học hỏi, trau dồi văn học cổ điển cũng như thi pháp. Với thời
gian, Sư đạt một trình độ rất cao trên những lĩnh vực này. Sau nhiều
năm tìm hiểu Phật pháp qua kinh điển, Sư tự phát nguyện tham vấn các vị
Thiền sư đương thời, từ biệt chùa A-dục vương và đi về phía miền
Nam tỉnh Phúc Kiến, nơi vị Thiền sư trứ danh là Tuyết Phong Nghĩa Tồn từng
hoằng hoá và giờ đây, không ít người thừa kế vị này đang hoá độ
ngay nơi ấy hoặc những vùng lân cận. Môn đệ đầu tiên của Tuyết
Phong Sư yết kiến là Thiền sư Trường Khánh, người mà Viên Ngộ đã nhắc
lại trong lời bình giải qua bài kệ ›Băng trong lò‹ trong bản công án vừa
qua, lúc này đang trú tại một ngôi chùa với vài trăm chúng đệ tử dưới
trướng, cách cửa Tây thành phố Phúc Châu khoảng hai giờ đường bộ. Vẻ
tôn nghiêm của vị Đại nhân hiếm có này khiến Sư rất kính phục. Sư
nhiều lần thỉnh vấn nhưng không tìm được ánh sáng mong chờ. Và như vậy,
Sư trở về thành phố Phúc Châu, đi từ cửa Tây sang Tây hồ, giữa đường
gặp một cơn mưa như trút nên đành phải tạm dừng ở Thiền viện Địa
Tạng. Vị trụ trì ở
đây là môn đệ của Huyền Sa, cũng là một đại đệ tử của Tuyết
Phong như Vân Môn và Trường Khánh. Vị cháu của Tuyết Phong này đã kiến
lập Thiền viện đây với sự giúp đỡ của Mân vương, mang hiệu của
thiền viện là Địa Tạng. Ông ta chỉ hơn Văn Ích mười sáu tuổi, nhưng
đó chính là điểm thuận lợi cho việc thông hiểu nhau giữa khách và chủ.
Họ luận đàm nhiều với nhau, bởi vì vị thiền khách từ chùa A-dục vương
tại Ninh Ba đã đi quá giới hạn của Phật giáo thuần tuý, rất chuộng
bàn luận về những vấn đề triết học.
Một ngày nọ, hai người đang nói
về những bài luận của một vị Cao tăng với pháp danh Tăng Triệu
(384-414), được gọi chung là Triệu luận, với nội dung là những vấn
đề như tồn tại, phi tồn tại, nhất thể, đa dạng và những điểm
tương tự. Luận bàn đến chỗ: »Ta có cùng gốc với trời đất; ta cùng
tất cả vạn vật là Một«, Địa Tạng hỏi đệ tử mình: Thế thì ngươi
cùng sơn hà đại địa là một, hay khác biệt? Khác biệt, Văn Ích trả lời.
Địa Tạng chỉ đưa hai ngón tay lên mà chẳng nói lấy một câu. Văn Ích
vội chỉnh lại: Là đồng. Địa Tạng lại đưa hai ngón tay ra, không nói
thêm một câu nào rồi đi mất. Văn Ích thâm tâm rối loạn, chỉ biết ngồi
lặng yên.
Sau một thời gian, Văn Ích đã
trở thành Thủ toạ tại thiền viện Địa Tạng. Nhưng Sư vẫn còn muốn
hành cước, vẫn còn ôm ấp nguyện vọng tham vấn các vị Thiền sư khác.
Một hôm, Địa Tạng hỏi Sư: Thủ toạ Văn Ích, ông muốn đi đâu khi trời
quang mây tạnh, đường đi rộng mở? Văn Ích đáp: Con chẳng có một mục
đích cố định nào, chỉ muốn là một du tăng hành cước mọi nơi. Địa
Tạng hỏi: Sự việc mà vì nó, nạp tăng khắp nơi hành cước – nó về
phía ngươi ra sao? Văn Ích thưa: Con chẳng biết thế nào. Ngươi bảo con chẳng
biết, Địa Tạng nói tiếp; cái ›chẳng biết‹ này mới thật là đúng
vậy. Ngay lúc này Văn Ích có chút ít ngộ nhập. (Cuộc đàm thoại này
được đưa ra làm một công án trong Thong Dong lục, ra đời không bao
lâu sau quyển Bích Nham.)
Đến lúc li biệt, Địa Tạng tiễn
vị Thủ toạ của mình đến cổng. Đi ngang qua một phiến đá trang trí vườn
cảnh, Địa Tạng bỗng nhiên chỉ phiến đá hỏi: Ngươi thường bảo:
»Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức«. Như vậy thì phiến đá kia thật
trong tâm ngươi, hay ở bên ngoài? Văn Ích, nương vào câu chân ngôn kia bèn
nói: Tất cả đều do tâm tạo; con thiết nghĩ phiến đá kia cũng chẳng
ở ngoài tâm. Địa Tạng thở dài bảo: Một gã hành cước quá tốt đẹp!
Không biết hắn có lí do gì mà lại đặt phiến đá vào tâm của mình! Văn
Ích muốn thưa trình, nhưng chẳng biết mở miệng ra sao; Sư nhận biết thâm
tâm chưa ổn, xin phép Địa Tạng được ở lại thêm để hầu cận.
Địa Tạng cho phép Sư lưu lại,
nhưng từ đấy lúc nào cũng giữ một khoảng cách nhất định. Văn Ích phải
tự tham cứu, càng lúc càng hành hạ mình với những vấn đề triết học,
lấy những gì được trình bày trong kinh Đại phương quảng phật hoa
nghiêm làm chủ đề nghiên cứu, đặc biệt là phẩm Hoa nghiêm với những giáo
lí »Sự sự vô ngại«, »Lí sự vô ngại« v.v… Nhưng mỗi lần Sư trình
bày những mối suy nghĩ của mình trước vị thầy, ông ta chỉ cười to chế
nhạo và nói: Ngươi vẫn chưa biết thế nào là Phật pháp; nó hoàn toàn
khác những lí thuyết này. Văn Ích cùng quẫn, không biết làm gì khác hơn
là quì vập đầu lễ bái cầu khẩn: Hoà thượng từ bi. Lời con đã hết,
lí con đã cùng. Địa Tạng đầy đủ uy nghiêm, đứng thẳng lên và bảo:
Cứ chỉ luận về Phật pháp một cách chân chính thôi thì tất cả sẽ hiện
thành. Văn Ích nghe những câu này có cảm giác như màng nhĩ bị thủng. Mồ
hôi toát ra ướt đẫm. Thùng nước đã vỡ đáy, nước chảy tràn lan, chẳng
còn mặt trăng nào có thể phản chiếu trong ấy. Sư tự nhận được cõi
trống không mênh mông, tất cả đều mang một gương mặt mới. Địa Tạng
giờ đây không còn một chút nghi ngờ nào, truyền tâm ấn của thầy mình
là Huyền Sa cho Văn Ích và vị này giờ đây có thể an tâm đi con đường
riêng của mình. Theo một thông tin thì sự kiện trên xảy ra vào năm 935; nếu
quả thật như vậy thì Văn Ích đạt trình độ hoằng hoá đúng lúc năm
mươi tuổi! Người xưa quả thật nghiêm túc trong việc tu học đến nơi
đến chốn, chờ đợi cho đến khi cơ duyên thật đầy đủ.
Từ Phúc Châu tỉnh Phúc Kiến, Văn
Ích đi đến Giang Tây, đến thành phố Phú Châu. Nơi đây, Sư nhận lời mời
của một vị quan trụ trì một ngôi chùa, bắt đầu thâu nhận đệ tử công
khai hoằng hoá. Học chúng đến rất đông. Không bao lâu sau, vương triều
tại Nam Kinh cũng nghe danh, thỉnh Sư trụ trì một ngôi chùa lớn tại đây.
Vua thường mời Sư vào cung thưa hỏi. Sau đó, Sư đến ngọn núi đẹp nhất
của thủ đô trụ trì, Thanh Lương sơn ở hướng Tây thành phố, vẫn còn
nằm trong phạm vi của bờ thành vĩ đại này. Từ đây người ta có thể
chiêm ngưỡng con sông Dương Tử to lớn, có một tầm nhìn xuống thành phố
rất ngoạn mục. Từ lúc này, Sư lấy ngọn Thanh Lương này làm trụ điểm
của tông Pháp Nhãn, một tông phái có những nét rất đặc biệt trong phạm
vi Ngũ gia thất tông tại Trung Hoa. Theo gương của vị Khai tổ Pháp Nhãn,
môn đệ của tông này lúc nào cũng lưu tâm đến những vấn đề triết học,
đặc biệt là việc nghiên cứu bộ kinh Hoa nghiêm và giáo lí xuất
phát từ kinh này. Một thời gian ngắn trước khi tịch, trong lúc vương triều
Hậu (Nam) đường dần dần bị nhà Hậu chu lấn áp từ miền Bắc, rồi
hoàn toàn rơi vào tay của vương triều mới (tiền thân nhà Tống sau này)
vào năm 956, Sư còn được Chu Thế Tông (921-959) kính trọng, thường đến
tham thỉnh. Mùa hè năm 958, trong một buổi lễ long trọng, Sư được Thế
Tông thuỵ hiệu là Đại Pháp Nhãn và dưới danh hiệu này, Sư đi vào lịch
sử nhà Thiền.
Trong quyển thứ ba của bộ Thiền
luận của mình, nhà
văn Phật học rất được mến chuộng là D. T. Suzuki giảng thuật mối
liên hệ giữa Thiền tông và giáo lí Tứ pháp giới của kinh Đại
phương quảng phật hoa nghiêm, đặc biệt là phẩm Hoa nghiêm trong
bốn bài luận rất đặc sắc. Ông diễn giảng rằng, sự phản bác mạnh
mẽ của những tông phái khắt khe trong thiền lâm cuối cùng là nguyên do
chính vì sao bộ kinh Hoa nghiêm cũng như các công trình nghiên cứu
kinh này hoàn toàn bị quên lãng. Ông rất tiếc khuynh hướng phát triển
này, bởi vì, nếu xem xét kĩ thì Thiền chẳng gì khác hơn là việc thực
hiện giáo lí Hoa nghiêm, áp dụng nó trong cuộc sống hằng ngày; hai
chiều hướng gắn bó rất chặt chẽ với nhau đối với những người biết
tư duy. Và mối liên hệ mật thiết nêu trên hiển hiện rất rõ qua cuộc
đời hoằng hoá của sư Pháp Nhãn. Sau cuộc đàm thoại quan trọng với Địa
Tạng, Sư vẫn thường lấy kinh Hoa nghiêm ra nghiên cứu, khuyên chúng
đệ tử nên chú tâm vào bộ kinh với những hệ thống triết học siêu việt
này. Mặc dù vậy, sau cuộc diễn biến nội tâm nơi Địa Tạng thì Sư đã
trở thành một người khác, hoàn toàn khác một học giả Hoa nghiêm đơn
thuần. Sư đã đi đến nơi mà những con đường quanh co được miêu hoạ
trong kinh này hội tụ, đã đến một biển ánh sáng, đã sống trong nguồn
ánh sáng rực rỡ này và tìm cách mở mắt thế nhân để họ cũng có thể
chứng kiến được. Trong bản công án kế theo sau thì những vinh hoa của
Phật-đà được miêu tả trong kinh mặc dù là bối cảnh quan trọng, nhưng
lại hoàn toàn không được nhắc đến chút nào. Điểm quan trọng được
trình bày nơi đây chỉ là việc thân kiến, trực chứng nội tâm, và nó
lúc nào cũng bắt đầu bằng một cách rất âm thầm kín đáo. Như ví dụ
sau đây chỉ rõ, tài năng kì đặc của Thiền sư Pháp Nhãn nằm ở chỗ Sư
nhìn thấu được những hoạt động nội tâm mặc dù cặp mắt thế nhân
không thể thấy, tai không thể nghe, và qua đó biết được tâm thức của
đệ tử có chín mùi chưa, có sẵn sàng tiếp nhận ánh sáng chưa để rồi
hạ một cú hỗ trợ quyết định. Thiền sư Kính Thanh mà chúng ta sẽ gặp
trong bản công án 16 có lẽ là người đầu tiên so sánh hiện tượng tâm
tâm thấu hội mật thiết giữa thầy và trò với hiện tượng gà con kêu
gà mẹ mổ. Ngay lúc đạt đủ năng lực thoát khỏi vỏ trứng thì trên đầu
mỏ gà con mọc lên một cái mỏ phụ bằng chất sừng, và với dụng cụ
này, nó bắt đầu mài cọ vỏ trứng từ bên trong. Đồng thời, gà mẹ cũng
nghe tiếng động này, giúp con mình bằng cách mổ từ bên ngoài, tháo gỡ
vỏ trứng. Trong nghệ thuật độc đáo này, Pháp Nhãn là một bậc Đại tông
sư.
Một ví dụ điển hình chính là
bản công án được trình bày. Nó nhắc đến một vị Thiền sư Huệ Siêu
và thời điểm Pháp Nhãn làm vị này sáng mắt. Ngoài sự kiện trên thì
người ta cũng không biết nhiều thêm, chỉ biết Sư rất được kính trọng
và tịch vào năm 979.
Lời phát biểu của Pháp Nhãn
trong bản công án cực kì ngắn gọn, đúng theo phong cách của Sư. Viên Ngộ
vì thế lại càng muốn xoay hướng tầm nhìn của khán thính giả về những
hoạt động, những diễn biến nội tâm giữa hai thầy trò; Chính vì thế
cho nên lời thuỳ thị của Sư kì này rất rõ, lời bình rất sáng sủa
và đầy đủ.
Câu hỏi về nội dung và ý nghĩa
của danh hiệu Phật-đà là câu hỏi trung tâm mà mỗi người phải tự đặt
ra trong trường hợp muốn tìm hiểu đến nơi đến chốn nguồn tâm lực
siêu việt này. Nó là câu hỏi đầu tiên, và cũng là câu hỏi cuối cùng
của một cuộc chuyển hoá, phát triển nội tâm, tương tự như câu hỏi
trong Cơ-đốc giáo: Các ngươi nghĩ thế nào về đức Chúa! (Matth. 22, 42).
Trong những Thiền viện thì nó cũng là câu hỏi được đưa ra nhiều nhất,
và những câu trả lời của những vị thầy cũng đạt đến hàng trăm.
Điểm khác biệt giữa câu hỏi về Phật và Chúa chỉ nằm ở chỗ là
trong câu hỏi sau, nhiều hiện tượng ›lịch sử‹ được đưa ra như những
điều kiện tiên quyết phải được chấp nhận: Thượng đế dẫn dắt dân
Do-thái, điềm lành báo tin xuất hiện của một đấng cứu độ, cuộc đời,
cái chết và hiện tượng phục sinh của đức Chúa Nazareth, những hiện tượng
mà mỗi người sùng tín phải đương đầu đối diện. Cách nhìn đối chiếu
khắt khe giữa chủ quan thế nhân một bên và khách quan siêu nhân một bên
như vậy hoàn toàn xa lạ đối với những hệ thống triết học như Vedānta và Phật giáo. Dĩ nhiên
là Phật tử tưởng niệm một cách tôn sùng ngày thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm
đản sinh, việc ngài rời cung điện tìm đạo giải thoát, đặc biệt là
đêm ngài giác ngộ, cuộc sống cao thượng cứu độ nhân thế, thời điểm
nhập niết-bàn. Nhưng ngay từ đầu thì những hành động trên đã vạch
cho người đời thấy rõ là con đường giác ngộ của đức Phật là đường
đi dành cho mỗi người. Phật-đà là khởi điểm, và cũng là điểm cuối
cùng của tất cả những thành tựu, mỗi bức tường ngăn cách giữa đức
Phật và một thế nhân nào đó có thể sụp đổ vào bất cứ thời điểm
nào cho nên người ta không thể nào quả quyết được là: Phật nơi đó,
ta nơi này. Nhìn phía Cơ-đốc giáo thì quan điểm của Johannes-Evangelium có
lẽ gần quan điểm nhà Phật nhất. Thánh kinh này cũng thuật lại câu chuyện
của đức chúa Jesus, chẳng bao giờ xa lìa nhân thế, nhưng lại có liên hệ
mật thiết với một sự luân chuyển vĩnh hằng, bắt đầu bằng câu
tuyên bố: tất cả ngay từ đầu đã nằm trong tay Thượng đế, đã là
Thượng đế và chấm dứt với tâm thức, với Thánh linh. Nhưng chính ngay
đây, người ta cũng không hề bỏ qua sự phân biệt khắt khe giữa Thượng
đế và thế nhân, giữa đức Chúa và tín đồ. Trường hợp lại hoàn
toàn khác biệt trong Phật giáo. Chẳng phải vì Phật tử không biết phân
biệt rõ ràng như vậy. Thiền sư Viên Ngộ đã tuyên bố trong lời thuỳ
thị »Nếu chưa từng thân kiến thì nó có vẻ như cách xa hàng nghìn thế
giới.« Nhưng, chỉ Phật giáo mới đưa ra một quả quyết khó có thể tin
được là, sự cách biệt này chỉ là một tấm màn che đậy tạm thời,
chúng ta có thể phá tan tấm màn hư huyễn này, có thể cảm nhận sự sụp
đổ của tất cả những bức tường ngăn cách trong thâm tâm; thậm chí
ngay trong lúc bị tấm màn u mê vây phủ thì chúng ta cũng chỉ có thể sống
trong sự đồng nhất này. Hướng về câu hỏi Phật như vậy là, ý nghĩa
của hiện tượng thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm trở thành một vị Phật
không phải là điểm quan trọng bậc nhất. Người ta thường nhắc lại một
câu nói của ngài: Ta một vị Phật đã thành, các ngươi là những vị Phật
sẽ thành. Tu học để thành Phật là điểm quan trọng hàng đầu, chẳng
phải việc hiểu biết rõ Phật đã là nhân vật nào. Đề tài này
được Huệ Siêu lưu tâm đến trước khi tham vấn Pháp Nhãn. Và nếu
chúng ta lưu ý đến cái vẻ thẹn thùng lạ lùng của Sư Huệ Siêu, có vẻ
như e ngại bậc Đại tông sư trước mặt chê cười mình vì sao vẫn chưa
giải đáp vấn đề này thì có thể suy ngẫm ra được rằng, Sư đã quan
tâm đến việc tu học trở thành Phật từ nhiều năm nay, không phải chỉ
nghiên cứu văn tự không thôi, mà còn vật lộn, đấu tranh dai dẳng với
sự việc tối trọng này. Sư biết tất cả về đức Phật, về truyền
thuyết, xem Phật là bậc thầy tôn nghiêm nhất và tu tập ngày ngày để một
ngày nào đó có thể bằng ngài. Nhưng, càng tiến triển trên đường tu học
thì mục đích lại càng xa dần, và câu hỏi Phật lại càng trở nên quái
gỡ.
Như vậy thì giờ đây, Pháp
Nhãn thấy nỗi lòng của vị tăng mới đến. Sư biết rõ vấn đề này,
và có thể Sư đã chờ đợi giây phút này từ lâu. Sư nhìn thấy ngay hạt
bụi cản trở trong mí mắt kẻ đang hỏi. Hạt bụi quấy nhiễu này chẳng
phải gì khác hơn chính danh hiệu: Phật. Ông ta vẫn còn ôm ấp quan niệm
là Phật ở trước mặt, ở bên ngoài, Phật vẫn còn là một sự việc xa
lạ. Dĩ nhiên, nếu như thế thì chẳng bao giờ ông ta đạt được mục đích.
Sự việc này tương tự như lời thuỳ thị của Viên Ngộ: »Ở nơi không
Phật mà có thể tự vỗ ngực xưng tôn....«. Tuyệt nhiên không được nói
về Phật. Ngươi là Huệ Siêu, như vậy đã đủ. Vị tăng này chẳng thiếu
gì cả, chỉ cần được gọi tên một lần thôi là đủ. Chẳng cần phải
tư lượng gì cả. Như Thiền sư Viên Ngộ thuật lại, ông ta thấy ánh
sáng chói loà ngay trước mặt.
Dưới dạng Tứ tuyệt, một dạng
thơ bao gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ, được các thi hào Trung Hoa đời
Đường phát triển đến tuyệt đỉnh, Thiền sư Tuyết Đậu ca tụng hiện
tượng huyền diệu xảy ra giữa Pháp Nhãn và Huệ Siêu trên ngọn Thanh Lương,
nơi người ta có một tầm nhìn bao la, nhìn thấy cả con sông Dương Tử.
Nơi đây, vị tăng từ lâu đã tranh đấu dành lấy ánh sáng tự do tâm thức.
Mùa đông đối với ông đã quá dài. Nhưng, đông càng dài thì xuân lại
càng gần. Như chúng ta đã thấy, Viên Ngộ rất muốn nghe ra những nét mừng
xuân đầu tiên từ những câu »... muốn thổi nhưng thổi chẳng xong«.
Nhưng chúng ta chẳng cần diễn
giảng, tô hoạ ảnh tượng được trình bày nơi đây làm gì. Nó muốn
được thưởng thức trọn vẹn với tất cả những nhịp sống, những làn
hơi thở nồng nhiệt trong đó. Lời thơ thuyết minh rất rõ. Vùng đồng bằng
hạ lưu sông Dương Tử vẫn còn bị ảnh hưởng của sự khác biệt nhiệt
độ rất lớn giữa mùa đông và mùa xuân, một đặc tính khí hậu chung của
lục địa Trung Hoa. Vì ảnh hưởng của bờ biển lạnh nên thời gian giao
tiết đông xuân thậm chí kéo dài hơn cả miền Bắc với khí hậu khô
ráo ở đây. Tháng tư rồi mà Thượng Hải vẫn chẳng ấm hơn thủ đô Bắc
Kinh bao nhiêu mặc dù thế giới thực vật đã đua nhau đâm hoa đâm chồi.
Chỉ khi nước biển đã thâu nhập đủ năng lượng, đủ ấm thì những
làn gió xuân ấm áp đầu tiên mới bắt đầu thổi từ phương đông. Huệ
Siêu chính là đứa con của miền đất này. Gió xuân đã chuẩn bị lâu
trong thâm tâm Sư. Đã đến lúc phải hiện diện. Nhưng, cảm giác xuân vẫn
chưa đến, vẫn còn để người mong đợi. Sự việc này thôi thúc thâm
tâm Sư, khiến Sư đến Pháp Nhãn tham vấn.
Mặc dù vậy, xuân đã đến!
Trong những bụi cỏ rậm trên đồng hoang thì Chá Cô, một loại gà rừng
bên sông Dương Tử đã bắt đầu nuôi nấng đám con mới nở của mình.
Gà con vừa nở ra thì người ta đã nghe tiếng gọi của mẹ chúng: ›Nam,
nam‹, xem như đó là tiếng gọi mừng xuân. Người ta không thể nào trình
bày âm thầm nhẹ nhàng những hiện tượng xảy ra giữa Pháp Nhãn và vị
tăng Huệ Siêu hơn là cảnh tượng được miêu hoạ. Chá Cô kêu Nam nam; sư
phụ gọi: Huệ Siêu! Như gà con rõ được ý nghĩa của tiếng gọi Nam nam,
Huệ Siêu cũng lĩnh hội được sự việc khi vị thầy gọi ngay tên của
mình. Như vậy đã đủ, cao siêu hơn bất cứ một giáo lí, bất cứ một
trí huệ nào khác. Đó chính là, như Rilke có lẽ phát biểu nơi này, »Một
cảm nhận sung sướng nắm giữ đáy lòng của chúng ta một cách thầm lặng«.
Nó chính là, như Thiền sư Viên Ngộ đã nói, »một câu nhỏ đi trước lời
nói«.
Trong phần thứ hai của bài kệ
thì cảnh tượng đã được biến đổi, được dời từ sông Dương Tử
đến miền Bắc, nơi sông Hoàng mãnh liệt sau một hướng chảy xuôi Nam bỗng
nhiên bẻ gắt qua hướng Đông, lìa miền cao nguyên núi đồi ngăn cản, để
rồi tuôn xuống miền đồng bằng miền Bắc Trung Quốc. Theo truyền thuyết
cổ thì vua Vũ đã cho khoan phá rặng núi, xây tam cấp để chuyển hướng
chảy và giảm sức mạnh của dòng sông cũng như sử dụng nó làm thuỷ lợi,
tưới nước đồng ruộng. Và truyền thuyết cho rằng, hễ vào ngày mồng
ba tháng ba thì cá chép tụ họp lại và tìm cách vượt ba cấp của thác nước
này. Nếu vượt được tam cấp thì nó trở thành rồng, Hán ngữ »Long«,
hiện thân hạnh phúc của tất cả những năng lực hướng thượng được
tìm thấy trong những vùng cao nguyên, nói rõ hơn là hiện thân của hơi nước
bay cao trở thành mây, chuyển biến tự do tự tại để rồi hội tụ, gây
sấm chớp long trời lở đất. Tuy nhiên, phần lớn những con cá này không
kham nổi công trình vượt thác, phải quay lại với đầu mang thương tích.
Với dòng kệ này, độc giả sẽ
nhận ra Tuyết Đậu chỉ ngay vị tăng Huệ Siêu và với dòng cuối cùng, Sư
hướng về những người không tin vào những điểm huyền diệu vừa được
nêu trên. Và Viên Ngộ cũng chẳng quên đóng góp phần của mình vào mẩu
chuyện thú vị này.