- KINH TỤNG HẰNG
NGÀY
- TỔNG HỢP 49 KINH CĂN
BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO
- NAM TÔNG VÀ BẮC
TÔNG
- KINH
CÁC PHÁP TU VIÊN THÔNG
- Thứ
bốn mươi sáu
-
Bấy
giờ đức Thế Tôn bảo khắp các đại Bồ-tát và hàng A-la-hán đã dứt
hết lậu hoặc rằng: Các ông là Bồ-tát và A-la-hán sanh trong Phật Pháp
đã chứng quả vô học. Nay Như Lai hỏi các ông: Lúc mới phát tâm, trong mười
tám giới, các ông tâm đắc ở giới nào ? Do nhân duyên gì ? Nhờ phương
tiện nào mà các ông được Tam-ma-đề viên thông tâm tánh ? O
1.
DO THANH TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Lúc
đó, Tỳ-kheo Kiều-trần-như từ chỗ ngồi đứng dậy cung kính chắp tay
thưa:
-
Bạch Đức Thế Tôn ! Sau khi Như Lai thành đạo ở Lộc Uyển, chúng con gặp
Phật trước tiên. Chúng con được Phật khai thị cho về pháp Tứ
Diệu Đế.
Do nghe tiếng Pháp của Phật mà con tỏ ngộ. Lúc đó Đức Thế Tôn hỏi
con: Có hiểu không, con thưa là đã hiểu. Nhơn đó Thế Tôn đặt cho
con cái tên là A-nhã, ấn chứng chúng con là những người A-la-hán. Nay Phật
hỏi viên thông, đối với con thanh trần là mầu nhiệm nhất. O
2.
DO SẮC TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Ưu-ba Ni-sa-đà đứng dậy chắp tay cung kính thưa:
-
Bạch Đức Thế Tôn ! Con cũng được gặp Phật sau những ngày Như Lai thành
đạo không lâu. Trông vào tướng hảo quang minh của Thế Tôn con quán sâu vào tướng bất tịnh của sắc
thân ô trược. Từ cái tử thi bắt đầu trương sình, đến tướng bạch
cốt, vi trần, con sanh lòng nhàm chán tột bậc, chợt tỏ ngộ tánh: sắc,
không, không sắc đều chẳng ra gì. Như Lai ấn chứng cho con cái tên là
Ni-sa-đà, con được A-la-hán quả. Nay Phật hỏi duyên cớ được viên
thông, xin thưa: Đối với con sắc trần là ưu việt nhất.
O
3.
DO HƯƠNG TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Đồng Tử Hương Nghiêm đứng dậy cung kính chắp tay thưa:
-
Bạch Đức Thế Tôn ! Trước đây Như Lai dạy con quán sát kỹ về các
pháp tướng hữu vi. Một hôm con tĩnh tọa trong giảng đường các tỳ-kheo
đốt hương trầm thủy, mùi hương thoang thoảng trong tĩnh mịch u nhàn,
tác dụng đến mũi con. Con tư duy quán xét: Hương này không phải do gỗ,
không phải do hư không, không phải do khói, không phải do lửa. Đi ra không
dính vào đâu. Đến đâu không chỗ dừng trụ. Quán chiếu như vậy, ý thức
phân biệt của con tự khắc tiêu vong. Trí vô lậu phát sanh, Như Lai ấn chứng
cho con danh hiệu là Hương Nghiêm. Vì do con thể nghiệm mùi hương mà chứng
được A-la-hán quả. Nay Phật hỏi phương tiện được viên thông,
xin thưa: Với con, hương trần là tối thắng nhất.
O
4.
DO VỊ TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Hai
vị Bồ-tát Dược Vương, Dược Thượng, cùng năm trăm Phạm thiên trong hội
chúng đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Bạch Đức Thế Tôn ! Từ
vô lượng kiếp, chúng con là lương y cứu tế thế nhân. Miệng chúng con
thường nếm những lá hoa cây cỏ kim thạch trong cõi Ta-bà này. Tất cả
những vị: mặn, lạt, chua, cay, ngọt, đắng… vị biến đổi sanh, vị hòa
hợp có; vị nào lạnh vị nào nóng thứ có độc, thứ không con đều biết
cả. Được phục vụ các đức Phật và tất cả chúng sanh, rõ biết tánh
chất của vị trần: Không phải không, không phải có, không phải tức
thân tâm, không phải ly thân tâm. Nhờ con phân biệt vị trần mà
được khai ngộ. Phật ấn chứng cho chúng con danh hiệu là Dược Vương và
Dược Thượng. Nay Phật hỏi nhân duyên và phương tiện được viên
thông, xin thưa: Đối với chúng con vị trần là ưu việt nhất. O
5.
DO XÚC TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Bạt-đà-bà-la cùng với mười sáu vị tăng sĩ đồng là đạo bạn cùng
đứng dậy cung kính chắp tay thưa:
-
Bạch Đức Thế Tôn ! Chúng con trước kia ở thời Phật Oai Âm Vương, nghe
pháp xuất gia. Lúc chư Tăng tắm, con theo thứ lớp vào nhà tắm để tắm.
Bỗng nhiên con tư duy và nhận thức rằng: Nước vốn không rửa bụi và cũng
chẳng rửa chân, trung gian an nhiên lặng lẽ. Con tâm đắc tột độ cái
chân lý: "Chẳng có gì". Tập quán trước không quên, đến nay con
theo Phật xuất gia được quả vô học. Đức Phật thuở ấy gọi con với
cái tên: Bạt-đà-la (thiên thủ). Do con phát hiện tánh mầu nhiệm của
xúc trần mà thành Phật tử. Nay Phật hỏi duyên cớ được viên thông,
xin thưa: Đối với con xúc trần là hơn tất cả. O
6.
DO PHÁP TRẦN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Đại Ca-diếp và Tỳ-kheo-ni Tử Kim Quang v.v… đồng đứng dậy cung kính
chắp tay thưa:
-
Bạch Đức Thế Tôn ! Kiếp xa xưa trong cõi này có Phật ra đời hiệu Nhật
Nguyệt Đăng. Sau khi Phật diệt độ chúng con thắp sáng ngọn đèn chánh
pháp để cúng dường; đem tâm trong sáng vàng thắm thếp tô Phật tượng.
Do đó đời đời kiếp kiếp thân thường viên mãn, rực rỡ như vàng
ròng. Chúng con quán sát sáu trần luôn luôn biến hoại. Con trụ tâm trong vắng
lặng, nhập định diệt tận, thân tâm rỗng rang, thời gian trăm nghìn kiếp
tựa hồ như trong cái khảy móng tay. Do thành tựu pháp không quán mà
con được quả A-la-hán. Thế Tôn ấn chứng con là: Đầu-đà đệ nhất;
pháp trần thâm diệu nhờ tuệ nhãn con được khai minh, lậu hoặc được
dứt trừ. Nay Phật hỏi duyên cớ viên thông, với sở ngộ chứng của
con thì pháp trần là tối thượng. O
7.
DO NHÃN CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả A-na-luật-đà đứng dậy cung kính chắp tay thưa:
-
Bạch Đức Thế Tôn ! Lúc con mới xuất gia thường ưa thích nằm và ngủ
li bì. Như Lai quở con là loại súc sanh. Nghe lời quở của Phật, con thầm
khóc, tủi hổ và tự trách mình. Con cương quyết thề không ngủ và con thức
suốt bảy ngày đêm. Hai con mắt con bệnh và hư mất. Thế Tôn thương dạy
cho con pháp: Lạc Kiến Chiếu Minh Kim Cang Tam-muội. Sau khi được tam
muội, con thấy suốt hiện tượng trong mười phương như trái chanh, trái
quít để trên bàn tay. Như Lai ấn chứng cho con quả A-la-hán. Nay Phật hỏi
nguyên nhơn nào được viên thông, xin thưa: Theo chỗ tâm đắc của
con là xoay tánh thấy của nhãn căn trở về bản thể thanh tịnh bản
nhiên là ưu việt nhất. O
8.
DO TỶ CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Châu-lợi-bàn-đặc đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật rằng:
Bạch
đức Thế Tôn, con vì thiếu trì tụng kinh điển nên không có tuệ đa
văn. Khi mới gặp Phật, con xin xuất gia nghe học pháp Phật con cố nhớ một
bài kệ của Như Lai mà không sao nhớ nổi. Con gắng học suốt cả một trăm
ngày, nhớ câu trước thì quên câu sau; nhớ câu sau lại quên câu trước.
Phật thương con ngu muội, dạy con ở một nơi yên tĩnh tu tập pháp môn
điều hòa hơi thở ra vào. Bấy giờ con vận dụng quán trí theo dõi từng
hơi thở, từ thô đến vi tế, từng sát na nhiếp ý, vận dụng tư duy,
chia hơi thở thành bốn thời kỳ: Hít vô gọi là sanh. Đầy hơi gọi
là trụ. Thở ra gọi là dị. Mãn hơi gọi là diệt. Thực
hiện một thời gian, tâm con bừng sáng rỗng rang được đại vô ngại,
các lậu hoặc dứt hết, thành A-la-hán. Trước pháp tòa, Phật ấn chứng
cho con thành quả vô học. Nay Phật hỏi viên thông, theo chỗ sở
hành của con: Tập trung tư tưởng xoay vào quán hơi thở ra vào minh bạch,
là pháp hành hiệu quả nhất. O
9.
DO THIỆT CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Kiều-phạm-ba-đề đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng con
mắc khẩu nghiệp trong kiếp quá khứ, nhiều đời phải tật nhơi mãi như
trâu. Như Lai thương, dạy cho con pháp: Nhất vị thanh tịnh tâm địa.
Nhờ đó con diệt phân biệt, được Tam-ma-đề. Con quán chiếu rằng: Tánh
biết vị không phải do thân thể, cũng không phải do ở ngoại vật. Do đó,
trong thì thân tâm giải thoát; ngoài thì như rời bỏ thế gian. Viễn ly ba
cõi như chim sổ lồng; cấu nhiễm không còn, tiêu vong hóa trần tướng, pháp
nhãn thanh tịnh, được quả A-la-hán. Như Lai ấn chứng cho con lên hàng Vô
học. Nay Phật hỏi phương tiện được viên thông, xin thưa: Theo con
thì: trả vị về cho phân biệt của thiệt căn là ưu việt nhất. O
10.
DO THÂN CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Tất-lăng-già-bà-ta đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật rằng:
Lúc con mới phát tâm xuất gia theo Phật, thường nghe Phật dạy: "Cuộc
đời chẳng có gì vui". Đang khi đi khất thực, vừa đi vừa tư duy lời
Phật, bỗng dưng con đạp phải cái gai độc. Cả thân đều đau đớn.
Trong lúc đau đớn, con quán chiếu tư duy: Giác tâm thanh tịnh vốn không
có cái đau và cái biết đau ! Một thân thể lẽ đâu lại có hai tánh biết
! Nhiếp niệm không bao lâu thân tâm bỗng nhiên rỗng rang thanh tịnh. Hai mươi
mốt ngày sau, các lậu hoặc được tiêu trừ, Phật ấn chứng cho con lên
hàng Vô học chứng A-la-hán quả. Nay Phật hỏi duyên cớ nào được viên
thông, xin thưa, đối với con: Nắm giữ giác tánh xem nhẹ thân căn
là thành công dễ nhất. O
11.
DO Ý CĂN ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Tu-bồ-đề đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật rằng: Từ nhiều
kiếp đến nay, con vẫn được tâm vô ngại thường trú nơi không tịch. Sự
vật hiện tượng trong mười phương đối với con trở thành "chân
không hóa" chẳng chút vương víu buộc ràng. Như Lai phát minh tánh giác
là chân không; con tư duy thể nhập: Bảo minh không hải tam muội, tri
kiến đồng như Phật. Con được Phật ấn chứng lên hàng vô học
A-la-hán. Nay Phật hỏi nhơn duyên được viên thông, theo chỗ chứng
ngộ của con: Quán các tướng đều là phi tướng. Cái phi tướng đối tượng
cũng không lưu lại. Nhìn hiện tượng vạn pháp đúng như thật của nó:
"Có mà thật chẳng có gì", đối với con, đó là phương tiện
chinh phục ý căn hữu hiệu nhất. O
12.
DO NHÃN THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Xá-lợi-phất đứng dậy cung kính chắp tay thưa: Bạch Đức Thế Tôn
! Từ nhiều kiếp đến nay, sự nhận thức của con thường thanh tịnh. Số
kiếp thọ sanh lên xuống nhiều như số cát sông Hằng. Do vậy mà các
pháp biến hóa thế gian, xuất thế gian một khi thấy là con nhận thức
không xa chân lý, được vô chướng ngại. Trong lần gặp gỡ giữa đường,
ba anh em tôn giả Ca-diếp dụng ý theo con để thuyết pháp. Các ông nói cho
con nghe về giáo lý nhân duyên sâu xa của Phật. Nhân buổi đàm đạo đó,
con được tỏ ngộ; nhận thức được rằng: "Tâm không ngằn mé".
Rồi con theo Phật xuất gia. Trí tuệ sáng suốt ngày càng viên mãn, được
đại vô úy, thành A-la-hán quả, trưởng tử Phật. Nay Phật hỏi nguyên
nhân tỏ ngộ viên thông, xin thưa: Theo chỗ chứng đắc của con thì
sự nhận thấy rõ ràng, nhận thức đánh giá chính xác đúng như thực của
sự vật hiện tượng là thành công ưu việt nhất. O
13.
DO NHĨ THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát
Phổ Hiền đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng con đã từng
làm Pháp vương tử cho các Như Lai nhiều như số cát sông Hằng. Mười
phương Như Lai dạy các đệ tử Bồ-tát tu hạnh Phổ Hiền chính là do dựa
theo đức tinh tấn của con mà đặt ra cái tên Phổ Hiền Hạnh.
Bạch
Đức Thế Tôn ! Con sử dụng tánh nghe của tâm mà nhận biết nguyện vọng
của chúng sanh. Do vậy, giả sử ở một phương khác, cách ngoài hằng sa
thế giới, có chúng sanh phát phát tâm tu hạnh Phổ Hiền thì liền trong
lúc ấy, con cỡi voi sáu ngà, phân thân trăm nghìn đến chỗ người ấy.
Giả sử người kia nghiệp chướng sâu dày chưa thấy được con, con cũng
thầm kín xoa đầu an ủi ủng hộ khiến cho sở nguyện thành tựu. Nay Phật
hỏi nguyên nhân tu chứng viên thông, con xin thưa: Sử dụng tánh nghe
của nội tâm mà nhận biết tự tại, đối với con là pháp môn ưu việt
nhất. O
14.
DO TỶ THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Tôn-đà-la-nan-đà đứng dậy cung kính chắp tay thưa với Phật: Lúc
con mới xuất gia theo Phật học đạo, trong khi tu tam ma đề, tâm thường tán
loạn. Đức Thế Tôn dạy con quán điểm trắng ở chót mũi. Con bắt đầu
thực hành, trải qua thời gian hai mươi mốt ngày, thấy hơi thở trong mũi
ra vào như khói; thân tâm trong sáng như ngọc lưu ly. Tướng khói lần lần
không còn, tâm con được khai ngộ, các lậu tận sạch trong, thành
A-la-hán. Thế Tôn thụ ký cho con thành quả Bồ đề. Nay Phật hỏi sở nhân
được viên thông, xin thưa: Đối với con tập trung ý niệm, quán hơi
thở và điểm trắng ở tỷ căn là thành tựu hữu hiệu nhất. O
15.
DO THIỆT THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Phú-lâu-na Di-đa-la-ni-tử đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật:
Con từ nhiều kiếp đến nay biện tài vô ngại, tuyên thuyết các pháp: khổ,
không, hiểu sâu thật tướng, cho đến những pháp môn bí mật như hằng
sa của Như Lai, con có thể diễn giảng trước đại chúng không hề có sự
sai lầm và sợ sệt. Thế Tôn biết con có đại biện tài, dạy con tuyên dương
chánh pháp, giúp Phật chuyển pháp luân. Con nhờ giảng nói chánh pháp mà
được quả A-la-hán. Thế Tôn ấn chứng cho con là: "thuyết pháp đệ
nhất". Nay Phật hỏi nguyên nhân được viên thông, xin thưa: Con
dùng pháp âm hàng phục tà ma ngoại đạo, tiêu trừ hoặc lậu là ưu việt
nhất. O
16.
DO THÂN THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Ưu-ba-ly đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng chính con theo
Phật xuất gia, con thấy Như Lai sáu năm cần khổ, cuối cùng hàng phục
tà ma, chế ngự ngoại đạo, giải thoát các lậu thế gian. Phật dạy con
trì giới, giữ gìn tánh nghiệp và nghiệp biểu hiện của thân, miệng,
ý, giữ vẹn ba nghìn oai nghi, tám vạn tế hạnh. Nhờ vậy, thân tâm tịch
tịnh thành quả A-la-hán. Nay làm kỷ cương trong đại chúng, Như Lai ấn chứng
con là "trì luật đệ nhất". Hôm nay Phật hỏi phương tiện được
viên thông, xin thưa: Đối với con do giữ gìn thân được thanh
tịnh. Thân đã thanh tịnh thì tâm sẽ thanh tịnh theo. Đó là phương pháp
uốn dẹp tu sửa thân tâm hữu hiệu nhất. O
17.
DO Ý THỨC ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Đại Mục-kiền-liên đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng
lúc nọ con đi khất thực giữa đường được ba anh em tôn giả Ca-diếp:
Ưu-lâu-tần-loa, Dà-gia và Na-đề giảng nói lý nhân duyên thậm thâm của
Phật, tâm con bừng ngộ thông suốt rỗng rang. Như Lai ban cho cà-sa mặc
vào thân, râu tóc tự cạo. Con có khả năng du hí khắp mười phương không
trở ngại. Đại chúng suy tôn con là "thần thông đệ nhất", trong
hàng vô học A-la-hán. Nay Phật hỏi viên thông, xin thưa: Con xoay ý thức
trở về tánh sáng suốt trạm nhiên. Giống như lóng nước đục, lóng nước
lâu trở về tự thể trong sạch. Đó là phương tiện tu sửa đối với
con hữu hiệu nhất. O
18.
DO HỎA ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Tôn
giả Ô-sô-sắt-ma đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con nhớ những
kiếp xa xưa, tánh con nhiều tham dục. Bấy giờ nhằm thời Đức Phật Không
Vương trụ thế. Đức Không Vương Như Lai bảo rằng: "Người đa dâm
như đống lửa hồng". Rồi Phật dạy con quán hơi nóng trong cơ thể cả
khắp tứ chi. Nhờ quán như vậy tinh thần sáng suốt, nội tâm đứng lặng,
tâm háo dâm trở thành lửa trí tuệ. Từ đó, chư Phật gọi con với cái
tên Hỏa Đầu. Con dùng sức hỏa quang tam muội mà chứng quả A-la-hán. Con
phát đại nguyện, nếu có chư Phật thành đạo thì con làm lực sĩ hầu cận
Phật để đánh dẹp bọn tà ma khuấy phá. Nay Phật hỏi nhân duyên được
viên thông, xin thưa rằng: Do con quán hơi ấm trong thân, lưu thông
không ngăn ngại; từ đó các lậu tiêu trừ, sanh lửa trí tuệ. Đối với
con, đó là pháp tu hữu hiệu nhất. O
19.
DO ĐỊA ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát
Trì Địa đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng con nhớ lại
trong những kiếp xa xưa, con từng được gặp Phật và cúng dường chư Phật
như hằng sa, và cũng từng phục vụ vô lượng chúng sanh đem đến chúng
sanh nhiều lợi lạc. Trong một kiếp nọ, ở vào thời Phật Phổ Quang trụ
thế, con là một Tỳ-kheo phát tâm sửa chữa những đoạn đường gồ ghề
sụp lở, những bến xe, bến đò bất tiện cho sự đi lại của nhiều
người. Ngoài những công trình gánh đất, bưng sỏi, đắp bồi sửa chữa
như vậy, con còn mang gánh giúp đỡ những người gánh gồng nặng nhọc
ở chợ búa mà không lấy tiền công. O
Vào
thời Phật Tỳ-xá-phù trụ thế, nhân gian nhiều đói kém, con phải cõng
giúp nhiều người không kể gần xa mà chỉ lấy một đồng tiền… có
lúc con ra sức kéo phụ xe trâu qua những nơi quá lầy lội. Có lúc vì Phật
con sửa đường bằng phẳng đợi Phật đi hóa trai.
Một
hôm Đức Như Lai Tỳ-xá-phù đi qua đoạn đường con vừa sửa chữa. Phật
xoa đầu con mà dạy rằng: "Nên bình cái tâm địa thì đất đai trên
thế giới đều bình". Con nghe, tâm liền sáng bừng tỏ ngộ. Con quán
thấy vi trần trong cơ thể cùng tất cả vi trần tạo thành thế giới bên
ngoài không sai khác gì nhau. Tự tánh vi trần không chạm sát với nhau, cho
đến đao binh các thứ tự nó cũng không va chạm gì. Nhờ nhận thức như
vậy, con tỏ ngộ vô sanh nhẫn, thành A-la-hán hồi tâm. Nay ở trong hàng Bồ-tát
nghe Phật dạy: Tri kiến Phật như diệu liên hoa, con lãnh hội trước
tiên, đại chúng suy tôn là thượng thủ. Nay Phật hỏi nguyên do đạt đến
viên thông, xin thưa: Do con quán trần ở nội thân và trần cấu của
thế giới bên ngoài bình đẳng không sai khác. Tất cả từ Như Lai tàng
tùy duyên biến hiện. Vọng tâm chấp mắc trần tướng tiêu vong thì trí
tuệ viên mãn thành đạo Bồ Đề. Đó là đối tượng sở quán, đối với
con đem lại thành công ưu việt nhất. O
20.
DO THỦY ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát
Đồng Tử Nguyệt Quang đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Rằng con
nhớ hằng sa kiếp trước có đức Phật ra đời hiệu Thủy Thiên. Thủy
Thiên Như Lai dạy các Bồ-tát nên quán về nước để nhập Tam-ma-đề.
Phật dạy quán tánh nước không gì lấn cướp làm cho mất hẳn được. Từ
nước mắt, nước mũi, nước miếng, nước tiểu, nước tân dịch trong
châu thân… đều quán một tánh nước đồng nhau. Tánh nước trong tự thân
và tánh nước trong các bể Hương Thủy của thế giới Hoa Tạng, đồng
nhau không sai khác. Lúc con thành tựu pháp thủy quán này, con chỉ thấy
được tánh đồng của nước mà chưa thấy được "thân không". Hồi
bấy giờ, con là một tỳ-kheo tọa thiền trong một tịnh thất, có người
đệ tử trông cửa sổ nhìn vào, thấy toàn là nước. Vì nhỏ dại nó liền
lấy một miếng ngói ném vào, rồi tự bỏ đi. Khi xuất định con thấy
tim đau một cách lạ thường. Truy nguyên ra duyên cớ, con bảo người đệ
tử: Khi con nhập định, trông thấy nước trong thất thì hãy vào nhặt miếng
ngói mà người đã ném ấy ra. Quả thật, khi xuất định, con không còn
đau đớn nữa. O
Qua
vô lượng kiếp sau con được gặp vô lượng Phật, nhưng chưa chứng ngộ.
Mãi đến thời Như Lai Sơn Hải Huệ Tự Tại Thông Vương thì con mới chứng
được "không thân". Bây giờ con thấy rõ nước trong tự thân
cùng với nước bể Hương Thủy trong mười phương thế giới đồng một
tánh chân không, không sai khác. Ở nước Phật Sơn Hải Huệ Tự Tại, con
được hiện là Đồng Chân, dự vào hàng Bồ-tát. Nay Phật hỏi nguyên
nhân được viên thông, xin thưa: Do con quán tánh nước dung thông
mà được vô sanh nhẫn. Đối với con, pháp Thủy quán là ưu việt nhất.
O
21.
DO PHONG ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát
Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con nhớ
lại hằng sa kiếp trước có Phật ra đời hiệu là Vô Lượng Thanh. Phật
khai thị cho các Bồ-tát về: Bản giác diệu minh. Dạy các Bồ-tát
quán: Thế giới và chúng sanh đều do sự vận động của sức gió vọng
duyên chuyển biến mà hình thành. Riêng con, lúc bấy giờ, con quán
không gian an lập; quán thời gian trôi đi mãi; quán thân, khi động khi dừng;
quán tâm, niệm trước diệt, niệm sau sanh… Tất cả những chuyển động
biến diệt, con thấy không hai không khác. Con nhận thức rõ rằng tánh của
các thứ động: Đến không chỗ từ, đi không chỗ tới. Tất cả chúng
sanh trong tam thiên đại thiên thế giới có trong pháp giới mười phương
do sức gió vọng duyên mà hình thành, mà sanh hoạt với nhau trong
tánh bản giác diệu minh, chân tâm minh diệu. Giống như hàng vạn muỗi
mòng trong một cái đồ đựng, kêu vo vo rầm rỉ, ào ào rối rít với
nhau.
Con
quán sát tư duy như vậy, không bao lâu, con được vô sanh pháp nhẫn làm vị
Pháp Vương tử. Nay Phật hỏi viên thông, xin thưa: Do con quán tánh phong
đại "đi không chỗ từ, đến không chỗ tới" mà tỏ ngộ
tâm bồ-đề. Đối với con thì quán phong đại là đệ nhất. O
22.
DO KHÔNG ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát
Hư Không Tạng đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con nhớ lại con
cùng Như Lai đồng chứng được "vô biên thân" hồi thời Phật Định
Quang. Lúc đó tay con cầm bốn đại bảo châu chiếu sáng cõi Phật mười
phương như số vi trần đều hóa thành hư không. Bấy giờ tâm con sáng suốt
thành trí Đại Viên Cảnh. Con quán sát khắp thế giới Liên Hoa Tạng và
cùng tột hư không, hoà quyện trong thân con. Thân con và hư không chẳng ngăn
ngại gì nhau. Do vậy, con khéo vận dụng hài
hòa vào cõi nước như vi trần làm Phật sự được thuận lợi lớn lao. Sức
thần to lớn đó do con quán sát tứ đại không có chỗ sở y. Do vọng tưởng
mà thấy có diệt có sanh. Hư không không hai, cõi Phật vốn đồng. Do con
phát minh được tánh đồng mà chứng được vô sanh pháp nhẫn. Nay Phật hỏi
nhơn duyên nào được viên thông, xin thưa: Do con quán chiếu hư không
vô biên mà thể nhập Tam-ma-đề là phương tiện ưu việt nhất. O
23.
DO THỨC ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát
Di-lặc đứng dậy cung kính chắp tay bạch Phật: Con nhớ lại vi trần kiếp
trước có Đức Phật hiệu Nhật Nguyệt Đăng Minh. Con được theo Phật xuất
gia, nhưng tâm còn trọng hư danh thế gian, ưa giao du với các hàng vọng tộc.
Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh dạy con tu tập định: Duy tâm thức và
con được nhập Tam-ma-đề. Trải hằng sa số kiếp đến nay, con sử dụng
tam muội ấy, phụng sự hằng sa chư Phật, tâm
cầu danh, được diệt hết. Đến thời Phật Nhiên Đăng ra đời con mới
chứng được tam muội thức tâm diệu viên vô thượng. Bấy giờ con
quán thấy cõi nước của chư Như Lai, tột bờ mé hư không, tịnh uế, có
không đều do thức tâm biến hiện.
Bạch
Đức Thế Tôn ! Do con tỏ ngộ Duy tâm thức, thức tánh của con xuất
hiện vô lượng Như Lai, và hiện nay được Phật thọ ký, con sẽ được
bổ xứ thành Phật ở cõi Ta-bà sau này. Nay Phật hỏi nguyên nhân viên
thông, xin thưa: Con quán mười phương đều duy thức. Thức tâm tròn
sáng thì xa lìa tánh biến kế, nhận thức đúng thực thể của tánh y tha
khởi thì chứng nhập tánh viên thành thật, được vô sanh nhẫn. Đối với
con đó là pháp quán ưu việt nhất. O
24.
DO KIẾN ĐẠI ĐƯỢC VIÊN THÔNG
Bồ-tát
Đại Thế Chí Pháp Vương Tử cùng với 52 vị Bồ-tát đồng tu một pháp
môn cùng đứng dậy cung kính chắp tay bạch
Phật: Con nhớ hằng sa kiếp trước có Đức Phật ra đời hiệu Vô Lượng
Quang. Thời đó có 12 đức Phật ra đời trong một kiếp. Đức Phật sau hết
hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang dạy cho con phép niệm Phật tam-muội: Rằng
các đức Như Lai ở mười phương thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con.
Nếu con cũng đồng nhớ mẹ như mẹ nhớ con thì đời đời mẹ con không
xa cách. Tâm chúng sanh nhớ tưởng Phật
thì tâm ấy là Phật. Nhất định thấy Phật, không cần phương tiện nào
khác. Ví như người ướp hương thì toàn thân thể sẽ thành thơm, ấy gọi
là hương quang trang nghiêm. Chính con nhờ niệm Phật mà được vô sanh nhẫn.
Nay ở cõi Ta Bà, con nguyện hướng dẫn người niệm Phật để có được
tịnh độ. Phật hỏi nhân duyên nào được viên thông, xin thưa: Con
thu nhiếp tất cả sáu căn không vọng niệm. Do chánh niệm tương tục mà
được Tam-ma-đề đối với con đấy là pháp môn thù thắng nhất. O
***
PHÁP
TU NHĨ CĂN VIÊN THÔNG
CỦA
BỒ-TÁT QUÁN THẾ ÂM
Lúc
bấy giờ Bồ-tát Quán Thế Âm đứng dậy cung kính chắp tay thưa: Bạch Đức
Thế Tôn ! Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có Đức Phật ra đời hiệu là
Quán Thế Âm và con đã phát bồ-đề tâm thời ấy. Đức Phật Quán Thế
Âm dạy
con phương pháp nghe, suy nghĩ và tu để được thể nhập
chánh định. O
Bạch
Đức Thế Tôn ! Trước hết con sử dụng tánh nghe: Nghe động và nghe tĩnh,
rồi con xóa đi ý niệm động tĩnh ấy; từ đó sức tịch tĩnh tăng dần,
con dứt được chủ thể nghe và đối tượng nghe. Sức tịch
tĩnh không dừng ở đó bấy giờ giác tánh con lại hiển hiện ra. Con tiếp
tục tư duy: Dù là giác tánh nhưng tánh "năng giác", "sở
giác" hãy còn, con bèn xóa đi về ý niệm giác; bấy giờ tâm tánh con
rỗng rang lặng lẽ như hư không. Con lại diệt đi cái giác tri "như
hư không" ấy. Cuối cùng con diệt cả cái khái niệm "diệt".
Khi con diệt hết khái niệm vi tế về "diệt sanh, sanh diệt" bỗng
dưng con nhận thấy toàn thể pháp giới trong mười phương chỉ còn là cảnh
giới "bất nhị" tịch diệt hiện tiền. Tâm tánh của con viên
mãn khắp giáp mười phương vượt hẳn tầm nhận thức thường tình của
thế gian, con được hai thù thắng: Một là tâm con hợp với bản giác nhiệm
mầu của mười phương Thế Tôn, đồng một từ tâm hướng về cứu độ
chúng sanh. Hai là hợp với tâm của lục đạo chúng sanh trong mười
phương, đồng một bi tâm hướng thượng cầu vô thượng bồ-đề. O
DO
TỪ TÂM, HIỆN 32 ỨNG THÂN
Bạch
Đức Thế Tôn ! Do cúng dường pháp đến Đức Như Lai Quán Thế Âm, con
được Phật truyền thụ cho con như huyễn văn huân văn tu Kim Cang Tam-muội
nên thân con thành tựu 32 ứng thân vào các cõi nước. O
Bạch
Đức Thế Tôn !
Một
là, nếu các Bồ-tát vào Tam-ma-đề tiến tu pháp vô lậu, thắng giải
viên mãn, con hiện thân Phật vì họ mà thuyết pháp khiến cho được giải
thoát. O
Hai
là, nếu các hàng hữu học tu pháp tịch tĩnh diệu minh viên mãn, con hiện
thân Độc Giác vì họ mà thuyết pháp.
O
Ba
là, nếu các hàng hữu học dứt mười nhơn duyên, phát ra thắng tánh viên
mãn, con hiện thân Duyên Giác vì họ mà thuyết pháp. O
Bốn
là, nếu các hàng hữu học được pháp không của tứ đế, tu đạo đế,
thể nhập diệt đế, thắng tánh viên mãn, con hiện thân Thanh Văn vì họ
mà thuyết pháp O
Năm
là, nếu chúng sanh muốn tâm tỏ ngộ, không vướng vào ngũ dục, muốn thân
được thanh tịnh, con hiện thân Phạm Vương vì họ mà thuyết pháp. O
Sáu
là, nếu chúng sanh muốn làm thiên chủ thống lãnh chư thiên, con hiện
thân Đế- thích vì họ mà thuyết pháp. O
Bảy
là, nếu chúng sanh muốn thân được tự tại dạo khắp mười phương, con
hiện thân Tự Tại Thiên vì họ mà thuyết pháp. O
Tám
là, nếu chúng sanh muốn thân được tự tại, bay đi trên hư không, con hiện
thân Đại Tự Tại Thiên vì họ mà thuyết pháp. O
Chín là, nếu có chúng sanh thích thống lãnh quỷ thần
cứu quốc hộ dân, con hiện thân Thiên Đại Tướng Quân, vì họ mà thuyết
pháp. O
Mười
là, nếu chúng sanh muốn thống lãnh quỷ thần, cứu giúp cõi nước, con hiện
thân Thiên Đại Tướng Quân vì họ mà thuyết pháp. O
Mười
một là, nếu các chúng sanh muốn sanh ở thiên cung, con hiện thân Thái tử,
con Tứ Thiên Vương vì họ mà thuyết pháp.
O
Mười
hai là, nếu các chúng sanh muốn làm vua cõi người, con hiện thân vua vì họ
mà thuyết pháp. O
Mười
ba là, nếu các chúng sanh muốn làm chủ gia đình danh tiếng, thế gian kính
nhường, con hiện thân trưởng giả vì họ mà thuyết pháp. O
Mười
bốn là, nếu các chúng sanh thích luận lời hay, giữ mình trong sạch con hiện
thân cư sĩ vì họ mà thuyết pháp.
O
Mười
lăm là, nếu các chúng sanh muốn kinh bang tế thế, con hiện thân tể quan
vì họ mà thuyết pháp. O
Mười
sáu là, nếu các chúng sanh thích chú thuật toán số, thu nhiếp nhân tâm,
con hiện thân Bà-la-môn vì họ mà thuyết pháp.
O
Mười
bảy là, nếu các thiện nam muốn xuất gia tu học, con hiện thân tỳ khưu
vì họ mà thuyết pháp. O
Mười
tám là, nếu có người tín nữ muốn xuất gia, con hiện thân tỳ khưu ni vì
họ mà thuyết pháp. O
Mười
chín là, nếu có người thiện nam muốn giữ giới tu hành, con hiện thân
ưu bà tắc vì họ mà thuyết pháp. O
Hai
mươi là, nếu có người tín nữ, muốn thọ năm giới tập tu, con hiện thân
ưu bà di vì họ mà thuyết pháp.
O
Hai
mươi mốt là, nếu có người nữ thích đường chánh trị phụ quốc an
bang con hiện thân mệnh phụ phu nhân, thân nữ chúa vì họ mà thuyết
pháp. O
Hai
mươi hai là, nếu có chúng sanh nam căn chưa ô nhiễm, con hiện thân đồng
nam vì họ mà thuyết pháp. O
Hai
mươi ba là, nếu có người nữ thích thân xử nữ, con hiện thân đồng nữ
vì họ mà thuyết pháp. O
Hai
mươi bốn là, nếu có hàng chư thiên muốn ra khỏi loài trời, con hiện
thân chư thiên vì họ mà thuyết pháp. O
Hai
mươi lăm là, nếu có rồng muốn ra khỏi loài rồng, con hiện thân rồng
vì họ mà thuyết pháp. O
Hai
mươi sáu là, nếu có dược-xoa muốn ra khỏi loài mình, con hiện thân dược-xoa
vì họ mà thuyết pháp. O
Hai
mươi bảy là, nếu có càn-thát-bà muốn thoát khỏi loài mình, con hiện
thân càn-thát-bà vì họ mà thuyết pháp. O
Hai
mươi tám là, nếu có a-tu-la muốn ra khỏi loài mình, con hiện thân a-tu-la
vì họ mà thuyết pháp. O
Hai
mươi chín là, nếu có khẩn-na-la muốn thoát khỏi loài mình, con hiện
thân khẩn-na-la vì họ mà thuyết pháp. O
Ba
mươi là, có ma-hầu-la-già muốn thoát khỏi loài mình, con hiện thân ma-hầu-la-già
vì họ mà thuyết pháp. O
Ba
mươi mốt là, nếu có chúng sanh thích làm người, con hiện thân người vì
họ mà thuyết pháp. O
Ba
mươi hai là, nếu có loài phi nhân hoặc có hình hoặc không hình, hoặc có
tưởng hoặc không tưởng, muốn thoát khỏi loài mình, con hiện thân như họ
vì họ mà thuyết pháp. O
Đó
là 32 ứng thân nhiệm mầu có thể hiện vào các cõi nước trong mười
phương, do kết quả của văn huân văn tu Tam-muội mà thành tựu sức
nhiệm mầu "vô tác" như vậy.
*
DO
BI TÂM THÀNH TỰU 14 ĐỨC VÔ ÚY THÍ
Bạch
Đức Thế Tôn ! Do vô tác diệu lực “văn huân văn tu” Kim Cang Tam-muội
cho nên con và tất cả sáu đường chúng sanh trong mười phương ba đời cùng
có một bi tâm hướng thượng cho nên con và tất cả chúng sanh thành tựu
được 14 thứ công đức vô úy:
Một
là, con không quán âm thanh đối tượng mà con quán cái tâm năng quán của
mình, khiến cho chúng sanh khổ não trong mười phương quán âm thanh như vậy
thì được giải thoát. O
Hai
là, con xoay tri kiến của mình soi rọi nội tâm, khiến chúng sanh dù vào
trong lửa (dâm, sân, thù hận) mà lửa không đốt cháy. O
Ba
là con quán tánh nghe xoay vào nội tâm, khiến chúng sanh dù có bị nước
(tham ái) to cuốn đi mà không hề bị chìm đắm.
O
Bốn
là con đoạn diệt hết vọng tưởng, không còn tâm sát hại, khiến chúng
sanh dù phải vào trong cõi nước của quỷ (sát, đạo, dâm, ác), quỷ cũng
không hại được. O
Năm
là con huân tập cái tánh nghe, nghe vào tự tánh. Tánh thấy, tánh ngửi,
tánh nếm, tánh xúc, biết cũng như vậy, khiến chúng sanh đang khi bị hại
thì dao mác, vũ khí gãy rơi từng khúc chẳng xúc phạm được. O
Sáu
là, con huân tập tánh nghe đến độ tinh thuần, sáng suốt khắp trùm pháp
giới; tất cả những gì đen tối không tồn tại được, khiến cho chúng sanh dù ở gần bên
với
ác quỷ: Dược-xoa, cưu-bàn-trà (quỷ thô bạo), tỳ-xá-xà (quỷ bất nghĩa),
phú-đơn-na (quỷ vô lương) v.v… mà chúng không nhìn thấy được. O
Bảy
là, đối với tánh năng văn con quán xoay vào, thanh trần đối tượng tiêu
vong, khiến chúng sanh xa tránh tất cả gông cùm xiềng xích (của pháp ác)
không vướng chạm đến thân. O
Tám
là con diệt âm thanh đối tượng, tánh nghe viên mãn sanh sức từ cùng khắp,
khiến chúng sanh đi qua đường hiểm mà giặc cướp phiền não không thể
cướp được. O
Chín
là do con huân tập tánh nghe được
thanh tịnh, tách khỏi trần tướng. Sắc, thanh… không cám dỗ được, khiến
cho những chúng sanh đa dâm xa lìa được lòng tham dục nặng nề.
Mười
là con chỉ lưu lại thuần một viên âm thanh tịnh, không còn đối tượng
thanh trần, căn cảnh viên dung, dứt đối đãi năng văn sở văn khiến chúng
sanh xa lìa được tham, sân, si phẩn nhuế.
O
Mười
một là con tiêu diệt thanh trần đối tượng, rồi con xoay cái nghe về
tánh bản minh, thân tâm cảnh giới trong sáng như lưu ly, chẳng vương chút
trần ai vọng chấp, khiến chúng sanh xiển-đề mê tối xa lìa câm điếc tối
tăm. O
Mười
hai là, viên dung các hiện tượng, con xoay tánh nghe trở về bất động. Hài
hòa thế gian mà không hủy hoại thế gian; cúng dường Như Lai mười
phương như số vi trần, con ở bên mỗi mỗi Phật làm Pháp Vương tử, khiến
trong pháp giới những chúng sanh không con, cầu có con trai, sanh được con
trai phúc đức trí tuệ.
O
Mười
ba là sáu căn con viên thông, soi sáng không hai, khắp trùm thập phương
thế giới, đứng trước đại viên kính ở trong Như Lai tàng, con vâng
lãnh những pháp môn bí mật của thập phương Như Lai như vi trần không hề
thiếu sót, khiến cho trong pháp giới những chúng sanh không con mà cầu có
con gái, sanh được con gái tướng tốt đoan chính, phúc đức và dịu dàng
được nhiều người kính quý. O
Mười
bốn là trong tam thiên đại thiên thế giới này các Pháp Vương Tử đông
như số cát 62 sông Hằng. Trí tuệ và phương tiện giáo hóa chúng sanh mỗi
Ngài đều khác. Vậy mà chúng sanh chấp trì một danh hiệu của con, bằng
ngang với công đức chấp trì danh hiệu số lượng Pháp Vương tử nói
trên. O
Bạch
Đức Thế Tôn ! Sở dĩ con được những điều ưu việt như vậy là do con
tu tập pháp văn huân văn tu Kim Cang Tam-muội, cho nên con được tánh viên
thông chơn thật, gọi đó là 14 đức vô úy thí đem lại phúc lành cho
tất cả chúng sanh. O
BỐN
ĐỨC KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN
Bạch
Đức Thế Tôn ! Con được viên thông vô thượng cho nên có bốn đức
vô tác nhiệm mầu không thể nghĩ bàn:
Một
là con xoay tánh nghe để nghe tiếng mầu nhiệm của nội tâm. Tánh nghe này
không chút nhiễm ô. Con ngăn dứt tất cả âm thanh đối tượng của nhĩ
căn; bấy giờ tánh thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết của sáu căn còn là
một tánh giác thanh tịnh có thể dùng thay thế cho nhau mà không ngăn ngại.
Con còn có thể hiện ra nhiều hình tướng và nói vô số chân ngôn bí mật;
từ 1 đầu, 3 đầu, 5 đầu, 7 đầu, 9 đầu, 11 đầu, 108 đầu, 1.000 đầu,
10.000 đầu cho đến 84.000 đầu. Con có thể hiện ra 2 tay, 4 tay, 6 tay, 12
tay, 14 tay, 16 tay, 18 tay, 20 tay, 24 tay, 108 tay rồi 1.000 tay, 10.000 tay cho đến
84.000 tay uyển chuyển. Con có thể hiện ra 3 mắt, 4 mắt, 9 mắt, 108 mắt,
rồi 1.000 mắt, 10.000 mắt, cho đến 84.000 mắt thanh tịnh, hoặc từ, hoặc
uy, hoặc định, hoặc tuệ cứu độ chúng sanh được đại tự tại. O
Hai
là tánh nghe và suy nghĩ của con thoát ngoài sáu trần, như âm thanh luồn
xuyên qua vách. Do sức nhiệm mầu vô tác, con hiện nhiều hình tướng nói
nhiều chơn ngôn đem lại cho chúng sanh sức vô úy. Vì vậy cõi nước trong
mười phương nhiều như vi trần đều gọi con là vị Bồ-tát "thí vô
úy".