Trang tiếng Anh

Đạo Phật Ngày Nay 

Trang tiếng Việt   

   

...... ... ..  . ..  .  .
KINH TỤNG HẰNG NGÀY
TỔNG HỢP 49 KINH CĂN BẢN CỦA HAI TRUYỀN THỐNG PHẬT GIÁO
NAM TÔNG VÀ BẮC TÔNG

HƯỚNG DẪN HÀNH TRÌ

Đây là Kinh Tụng Hằng Ngày thuần Việt, tổng hợp 48 bài Kinh và bài Thi Kệ Cuộc Đời Đức Phật. Phần chánh kinh chủ yếu chọn lọc các bài kinh căn bản từ hai nguồn kinh điển chính của Phật giáo là nguồn kinh tạng Nam tông (Pali) và nguồn kinh tạng Bắc tông (Hán tạng). Nghi thức tụng niệm này góp phần tạo sự an lạc và chánh nhân giải thoát cho người thọ trì ở hiện tại và tương lai.  Do đó, người Phật tử xuất gia và tại gia nên thọ trì hằng ngày để nắm vững tinh hoa, áo nghĩa lời đức Phật dạy, vận dụng vào cuộc sống hành trì.

 

1. NỘI DUNG TỔNG QUÁT CỦA CÁC KINH

Về mặt xã hội, các kinh này nhắm vào mục đích giáo dục nhân cách bản thân, tạo dựng hạnh phúc gia đình, ổn định các mối quan hệ và đời sống cộng đồng.

Về mặt tu tập, bộ kinh này thể hiện tinh thần nhân bản hoàn hảo nhất, chỉ bày phương pháp tu tập giải thoát, chứng đắc bốn quả Thánh và những phương châm hành đạo của các bậc Bồ-tát.

Về mặt Phật học, bộ kinh được phân bố theo trình tự từ căn bản đến chuyên sâu, từ Nhân thừa đến Thiên thừa, Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ-tát thừa rồi cuối cùng qui về Phật thừa.

Từ góc độ tổng quát nhất, một số kinh đóng vai trò hộ niệm người sống và người mất. Có kinh dạy cách nuôi dưỡng đời sống lứa đôi chung thủy và hạnh phúc. Có kinh dạy về cách làm phước đức, gieo tình thương, sống hòa hợp, xây dựng đức tin  chân chánh và các mối tương quan đạo đức xã hội. Có kinh ôn lại cuộc đời của Đức Phật và những di huấn của Ngài. Có kinh chuyên dạy về cách quán chiếu, tu tập thiền định, sống tự tại, giải thoát mọi nơi, mọi lúc. Có kinh giới thiệu về Đại thừa, tu tập các pháp môn viên thông, phát huy trí tuệ, chứng đắc giải thoát. Có kinh dạy về cách nương tựa có khả năng phá chấp, thể nhập chân lý không hai, hiển bày chân tâm và cúng dường chánh pháp. Có kinh chỉ bày phương tiện và cứu cánh, dạy cách tu để dứt bỏ mọi chấp thủ, hướng đến giải thoát trọn vẹn.

 

2. THỜI KHÓA ỨNG DỤNG

Bộ Kinh Tụng Hằng Ngày này lúc đầu được biên soạn để thọ trì vào Thời Kinh Tối tại các chùa, hay tư gia. Tuy nhiên, tuỳ theo thời gian thích hợp của từng đạo tràng tu tập, người thọ trì có thể đọc tụng Kinh vào các thời điểm thuận tiện khác, có thể mỗi buổi sáng, hoặc mỗi buổi chiều, hoặc thậm chí tụng xuyên suốt trong ba ngày hay một tuần, trong những dịp lễ Phật giáo. Nói chung, tuỳ theo thời gian cho phép và truyền thống tu tập ở từng nơi, bộ Kinh này có thể được ứng dụng khác nhau.

Đặc biệt có một số bài Kinh có thể ứng dụng vào các khóa lễ cầu an. Ví dụ, đối với khóa lễ cầu nguyện thế giới hòa bình, nước nhà hưng thạnh, gia đình bình an hay cho các cơ quan, xí nghiệp, hội đoàn và chợ thì nên tụng một trong các Kinh sau đây: Kinh Quốc Gia Cường Thịnh, Kinh Tình Thương, Kinh Phước Đức, Kinh Nền Tảng Đạo Đức Xã Hội, Kinh Mười Pháp Đến Bờ Kia, Kinh Sống và Tu trong Hòa Hợp, hay Kinh Hiền Nhân.  Đối với khóa lễ cầu an cho bệnh nhân ta có thể lần lượt tụng các Kinh sau đây: Kinh Giáo Hóa Người Bệnh, Kinh Mười Pháp Quán Niệm, Kinh Dụ Ngôn Bọt Nước, Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm, Kinh Người Biết Sống Một Mình, Kinh Người Cư Sĩ Tại Gia hay Kinh Danh Ngôn Chánh Pháp.

Các Kinh nêu trên cung cấp cho người đọc tụng những tấm bản đồ tu tập thiền định, an tịnh thân tâm, xây dựng hạnh phúc và an lạc cho mình và người ngay bây giờ và tại đây. Do vậy, các Kinh này không chỉ là phương diệu dược cho người bệnh mà còn là toa thuốc bổ không thể thiếu đối với tất cả những người khỏe mạnh về thể chất nhưng chưa phát triển toàn diện về tinh thần.

Cũng có các bài Kinh có thể dùng trong các khoá lễ cầu siêu, đặc biệt trong các dịp lễ tang, cúng thất, cúng giổ, cúng cô hồn, cúng cầu siêu cho ông bà cha mẹ, cho hương linh chết oan, chết tự vẫn, chết bất đắc kỳ tử… mà chưa thác sanh được do nghiệp chướng và thiếu sự gia trì của Ba Ngôi Báu.

Ví dụ, đối với hương linh đã từng quy y Tam Bảo, tu tập và làm nhiều công đức, ta có thể tụng các kinh như Kinh Tám Điều Giác Ngộ của Hàng Bồ-tát hay Kinh Ba Cánh Cửa Giải Thoát. Nếu người quá cố từng tu thiền nhập định thì nên tụng Kinh Quán Niệm Hơi Thở hay Kinh Bốn Lãnh Vực Quán Niệm. Đối với hương linh và tang quyến chưa quy y Tam Bảo, chưa thấu rõ ba quy luật của mọi sự vật hiện tượng là vô thường, khổ não và vô ngã hay quá bi lụy đau thương về sự sinh ly tử biệt mà trở nên bi quan yếm thế thì ta nên tụng các kinh như Kinh Qui Luật Cái Chết, Kinh Nhổ Mũi Tên Sầu Muộn hay Kinh Nhận Thức Vô Thường và Đau Khổ.  Đối với hương linh và tang quyến chưa tường tận về giáo lý nghiệp báo và tái sanh của đạo Phật thì ta nên tụng Kinh Cúng Thí Người Mất, Kinh Nghiệp Báo Tái Sanh hay Kinh Na-tiên Đàm Đạo.

Các kinh vừa nêu một mặt khẳng định cái già, bệnh và chết là một quy luật không loại trừ một ai, mặt khác khuyên dạy tất cả mọi người, nhất là thân quyến của người chết nên bình tĩnh, không than khóc, sầu thảm, mà trái lại niệm Phật, tạo nhiều phước lành, hồi hướng cho người quá vãng, để giúp cho người chết một hành trang tốt trong lúc tái sanh. Được như vậy, chắc chắn rằng cuộc đời sẽ bớt đi các tình trạng đau thương, sầu thảm cũng như những hậu quả của nó do cái chết gây ra; thế giới sẽ không còn cảnh bi lụy do không hiểu được quy luật của sanh tử, sống chết chập chùng.

Nói chung, tùy theo trường hợp và đối tượng mà ta nên chọn Kinh nào tụng cho thích hợp với từng khóa lễ.

 

3. TRÌNH TỰ NGHI THỨC

Trình tự của nghi thức thọ trì kinh này gồm 3 phần: phần Nghi Thức Dẫn Nhập, phần Chánh Kinh và phần Nghi Thức Sám Nguyện và Hồi Hướng.

Phần Nghi Thức Dẫn Nhập được biên soạn tổng hợp từ các nghi thức Phật giáo Bắc Tông xưa nay, bao gồm: nguyện hương, ca ngợi Phật và quán tưởng, đảnh lễ Tam Bảo, tán hương, phát nguyện trì Kinh và tán dương giáo pháp.

Phần Chánh Kinh tổng hợp 49 bài Kinh căn bản trong hai truyền thống Phật giáo Nam tông và Bắc tông, bắt đầu từ Thi Kệ Cuộc Đời Đức Phật và kết thúc bằng Kinh Lời Dạy Sau Cùng. Các bài kinh khác giới thiệu các lời Phật dạy về các phép tu tâm dưỡng tánh, phát triển đạo đức, trau dồi trí tuệ, đáp ứng cho nhiều đối tượng khác nhau. Chiều dài của các bài Kinh này không đồng đều. Có bài Kinh dài 50 trang nhưng cũng có nhiều bài chỉ có hai ba trang. Do đó, đọc mỗi ngày một kinh, hai kinh hay ba kinh, bốn kinh là tuỳ thuộc vào trang dài ngắn của các kinh đó, cũng như thời gian đọc tụng tại các đạo tràng. Trung bình tụng từ 20 đến 25 trang là vừa. Bài Kinh nào dài quá thì có thể tụng trong hai ba thời Kinh liên tiếp. Khi thọ trì hết bài kinh thứ 49, tiếp tục thọ trì lại từ đầu. Cứ vậy, tuần tự thọ trì quanh năm. Tuy nhiên, việc thọ trì Kinh cũng phải linh động. Nếu quý Phật tử tu tại gia, phải đi làm hay bận rộn nhiều việc, có thể chọn thọ trì những kinh nào thích hợp với pháp tu của mình mà không cần phải đọc tụng từ đầu đến cuối.

Phần Sám Nguyện - Hồi Hướng được biên soạn theo cách thức mà truyền thống Phật giáo Bắc tông hành trì, bắt đầu bằng bài Bát-nhã Tâm Kinh, tóm thâu tinh túy của Kinh Đại Bát-nhã. Mặc dù chỉ có 260 chữ, nhưng bài kinh này tập trung các pháp tu căn bản của Phật giáo đại thừa, giúp hành giả diệt trừ tất cả các khổ đau trong cuộc đời bằng phương pháp quán chiếu năm yếu tố (ngũ uẩn) hình thành nên con người là không có một thực thể hay ngã thể. Từ đó, với trí tuệ duyên khởi, hành giả thấu suốt mọi sự vật hiện tượng theo một cách thức tương tự. Kế đến là niệm Phật. Hành giả tu Tịnh Độ thì niệm Phật A-di-đà, hành giả các pháp môn khác thì niệm Phật Bổn Sư. Các mục còn lại trong phần này bao gồm: xướng lễ Phật và Bồ-tát, mấy điều quán tưởng hoặc quán chiếu thực tại, sám nguyện (có thể chọn một trong tám bài, hoặc luân phiên mỗi bài cho mỗi thời Kinh), hồi hướng công đức (người không tu Tịnh Độ có thể tỉnh lược bốn câu 9-12 phát nguyện sanh Tây Phương), lời nguyện cuối, và đảnh lễ Ba Ngôi Báu, để kết thúc thời Kinh.

Nghi Thức Dẫn NhậpNghi Thức Sám Nguyện-Hồi Hướng là hai phần cần thiết và không thể thiếu trong mỗi thời Kinh. Mặc dù không phải là chánh văn của Kinh điển, nhưng hai phần nầy được biên soạn dựa trên tinh thần của lời Phật dạy, theo cách thức mà các vị Tổ sư của Trung Quốc và Việt Nam đã làm trong các nghi thức tụng niệm trong quá khứ và hiện tại. Nếu phần đầu chủ yếu tán thán Phật bảo và Pháp bảo để giúp cho hành giả tụng tăng thêm niềm tin đối với Phật và giáo pháp cao thượng của Ngài, trước khi thọ trì, thì phần cuối là phần nhắc nhở người đọc tụng các quy luật vô thường, khổ não, vô ngã của con người và thế giới này, để giúp chúng ta sống một cách an lạc không vướng mắc. Phần này còn bao gồm các cách tu tập như lễ Phật và quán tưởng, chuyên chú tâm và hồi hướng công đức.

 

4. CÁCH THỨC TỤNG NIỆM

Phần Nghi Thức Dẫn NhậpNghi Thức Sám Nguyện-Hồi Hướng được tụng giống như các khóa lễ xưa nay, tuỳ theo từng truyền thống.

Riêng phần chánh kinh, để người đọc tụng và người nghe dễ hiểu và được lợi ích, người đọc nên ngừng một hoặc hai nhịp không tụng sau mỗi chấm câu hoặc sang hàng hay hết một đoạn, trong khi mõ vẫn được gõ đều đặn. Tụng như vậy thì nghĩa lý của kinh sẽ được rõ ràng, người đọc đỡ mệt sức do quá cố gắng, nhất là, tránh được sự ngắt nhịp tùy tiện. Phần chánh Kinh phải đọc một cách chậm rãi, rõ ràng theo nhịp trường canh của mõ.

Khi miệng đọc tụng, tâm của hành giả phải “niệm” theo lời Kinh, nghĩa là người tụng phải chuyên chú tâm hoàn toàn vào từng câu từng lời Kinh, để hiểu rõ nghĩa lý sâu xa huyền diệu chứa đựng trong từng bài Kinh, rồi ứng dụng vào cuộc sống hằng ngày. Chính sự ứng dụng lời kinh vào cuộc sống mới thật sự đem lại phước báu, an lạc và giải thoát cho người thọ trì.

 

5. CÁCH ĐÁNH MÕ VÀ ĐIỂM CHUÔNG

a. Ký hiệu được sử dụng

Ký hiệu O chỉ cho “đánh chuông.” Ký hiệu C chỉ cho "nhắp chuông" (nhắp dùi chuông vào vành chuông để báo hiệu rằng sẽ có một tiếng chuông được vọng lên). Ký hiệu M chỉ cho “gõ mõ.”

b. Cách vào chuông mõ

C O O O  M M M MM M M

O               M

O               M

O               M MM M C

 

c. Đánh mõ và điểm chuông

Ngoài mục đích tạo trường canh và nhạc điệu cho các khóa lễ, mõ và chuông còn có tác dụng thức tỉnh người đọc. Để các tác dụng này được phát huy triệt để, mõ phải được đánh đều đặn, nhịp nhàng, chậm rãi; không được đánh quá mạnh hay quá nhẹ để tránh trường hợp tiếng lớn, tiếng nhỏ làm mất trang nghiêm và khó đọc tụng cho đều. Chuông được điểm ngân nga sau các đoạn hay câu có ký hiệu O, đối với phần nghi thức dẫn nhập và hồi hướng. Đối với Chánh Kinh, chuông sẽ được điểm lên ngay sau mỗi đoạn Kinh hay sau mỗi ý Kinh hoàn chỉnh, nhằm đưa người đọc tụng trở về với thực tại, lắng niệm và ghi nhớ sâu lời Phật dạy.

 

d. Phối hợp chuông, mõ, khánh và lời tụng

Sau tiếng nhắp chuông của vị Duy-na, vị chủ lễ bắt đầu xướng tụng. Chủ lễ xướng hết chữ thứ hai thì đại chúng mới bắt đầu hòa theo và cùng tụng. Chữ đầu và chữ thứ ba của đoạn do chủ lễ khởi xướng thì không có nhịp mõ. Nhịp mõ được gõ vào nhịp chữ thứ hai và thứ tư. Nghĩa là tiếng mõ thứ nhất sẽ đi với chữ (tiếng) kinh thứ hai, tiếng mõ thứ hai sẽ đi với chữ (tiếng) kinh thứ tư. Sau đó, cứ mỗi chữ thì có một nhịp mõ cho đến hết một bài kinh. Riêng chữ (tiếng) kinh áp chót thì gõ hai nhịp mõ liền nhau và chữ (tiếng) kinh cuối thì một tiếng mõ dứt. Cứ như vậy, chúng ta tụng hết thời kinh.

Đối với bài Sám Nguyện trước bài Hồi Hướng, ta có thể phối hợp mõ với khánh. Tiếng mõ đầu sẽ đi với chữ kinh thứ hai, tiếng khánh đầu sẽ đi với chữ kinh thứ ba. Sau đó, một chữ một tiếng mõ, một chữ một tiếng khánh, cứ như vậy phối hợp mõ và khánh tụng cho hết bài sám. Phần kết thúc bài sám như sau: chữ áp chót của bài sám sẽ đi kèm với hai tiếng mõ liền nhau hơi nhanh và chữ cuối sẽ đi kèm với một tiếng mõ; trong khi từ chữ áp chót của bài sám, khánh được đánh theo hồi, từ bảy đến mười nhịp, khoảng cách của các nhịp khít dần đều và âm thanh của các nhịp nhỏ dần đều.

 

6. LỢI ÍCH CỦA ĐỌC TỤNG VÀ THỌ TRÌ

Người đọc tụng, thọ trì và truyền bá kinh này sẽ gặt hái nhiều lợi ích cho mình và tha nhân:

- Nắm vững yếu nghĩa lời Phật dạy qua hai truyền thống kinh điển Nam tông và Bắc tông. Nhờ đó,  người thọ trì xóa bỏ cái nhìn phân cách, ngộ nhận giữa hai truyền thống. Tất cả chỉ có một nguồn chánh pháp, chỉ thuần nhất hương vị: an lạc, giác ngộ, giải thoát.

- Đọc tụng để lời nói, ý nghĩ, việc làm được trong sạch; để  từ bỏ các điều ác, thực hành các hạnh lành, sống tùy hỷ, sống theo bi-trí-dũng, thương yêu, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau, để làm hành trang cho cuộc sống, làm hương thơm cho đời.

- Đọc tụng để mở rộng tầm nhìn đúng đắn về con người, về thế giới, về nguyên nhân sai biệt cũng như yếu tố hình thành vũ trụ. Đọc tụng để xóa bỏ mê lầm, trở về chánh pháp, sống chánh tín, chánh mạng và an lạc.

- Đọc tụng để chuyển hóa nhận thức và hành động. Nhờ đó, cá nhân được thuần thiện, gia đình được đầm ấm, xã hội được an vui và nhân loại được thái bình, hạnh phúc trong chánh pháp Phật-đà.

Đọc tụng Kinh Phật có nhiều công đức như thế, kính xin tất cả mọi người hãy tinh tấn hơn nữa, trong việc đọc tụng, thọ trì và truyền bá lời Phật dạy !

                                                                  Mùa Phật Đản  PL. 2538, DL. 1994
                                                                             Soạn giả
                                                              Tỳ-kheo Thích Nhật Từ
                                                                              Kính đề
~~oOo~~
1 | 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 |  22 | 23 | 24 | 25
26 | 27 | 28 | 29 | 30 | 31 | 32 | 33 | 34 | 35 | 36 | 37 | 38 | 39 | 40 | 41 | 42 | 43 | 44 | 45 | 46 | 47 | 48 | 49

 


Vào mạng: 22-3-2002

Trở về mục "Nghi thức Phật giáo"

Đầu trang