bởi vì, trong gần 20 thế kỷ, nhiều
chục triệu sinh mạng gồm già, trẻ, lớn, bé, nam, nữ, vô tội đã bị
giáo hội, nhân danh phúc âm, chân lý của Chúa, bắt bớ, giam cầm, tù đầy,
bạo hành, tra tấn cực hình, cắt cổ, chôn sống, thiêu sống v…v… chưa
kể đến những hành động phá hủy đền thờ miếu mạo của các tôn
giáo khác, hoặc những hành động nhằm tiêu diệt các nền văn hóa phi
Gia-Tô v..v…
Đi vào chi tiết, sự thật đó nằm
trong những lời xưng thú tội lỗi, dù rất đại cương, liên quan đến 7
"núi tội lỗi" (từ của Hội Ki Tô Học) của giáo hội, được 5
Hồng Y và 2 Tổng Giám mục long trọng tuyên đọc tại Thánh đường Phê-rô
ngày 12 tháng 3, 2000. Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Thuận được hân hạnh đọc
lên những lời xưng thú tội lỗi trong mục chống lại công lý và hòa
bình v...v... của "hội Thánh" Gia Tô⮠Giáo hoàng và ban tham mưu
thần học của ông đưa ra những lời xưng thú tội lỗi tổng quát trong 7
mục sau đây:
1. Xưng thú "tội lỗi
chung".
2. Xưng thú "tội lỗi trong
khi phục vụ "chân lý"".
3. Xưng thú "tội lỗi đưa
đến sự chia rẽ giữa các tín đồ Ki Tô".
4. Xưng thú "tội lỗi trong
sách lược bách hại dân Do Thái".
5. Xưng thú "tội lỗi trong
những hành động với ý muốn thống trị kẻ khác, với thái độ thù nghịch
đối với các tôn giáo khác, không tôn trọng truyền thống văn hóa và
tôn giáo của các dân tộc nhỏ, kém phát triển".
6. Xưng thú "tội lỗi trong sự
kỳ thị phái nữ, coi thường phẩm giá phụ nữ".
7. Xưng thú "tội lỗi trong việc vi phạm những
quyền căn bản của con người".
Học Hội Đức Giêsu KiTô Phục
Sinh đã viết trên trang nhà, www.kitohoc.com, ngày 5 tháng 4, 2000, một bài
phê bình, gọi 7 núi tội lỗi trên là "sa mạc tội lỗi dàn trải
hàng ngàn năm trên một địa bàn rộng lớn toàn cõi Aⵍ Châu, và các thuộc
địa của AⵠChâu trên khắp thế giới", và gồm "15 Lời
Bàn" về việc Giáo Hoàng "xưng thú tội lỗi" và "xin được
tha thứ". Lời bàn thứ 6 nguyên văn như sau:
"Giáo hội dạy giáo
lý nhồi sọ giáo dân rằng Tội là Quỷ Satan, và Quỷ Satan là Tội, người
phạm tội là người của Quỷ Satan, người có Tội là người bị Satan bắt
linh hồn, nắm đầu nắm cổ và chịu sai khiến như tù nhân khổ sai…Giáo
hội Công giáo Rôma Latinh ôm ấp 7 mối tội to như 7 trái núi hàng ngàn năm.
Và 7 chương tội là 7 đàn quỷ có sừng có đuôi hàng triệu đứa, Giáo hội
nằm gọn trong tay 7 đàn quỷ và bị 7 đàn quỷ này thống trị. Nhưng ngày
xưng thú ngàn năm hi hữu này, Giáo hội còn thiếu một chương thứ 8
"về tội trong hoàng cung và triều đình Giáo hoàng". Ví dụ Giáo
hoàng Tây Ban Nha dòng Borgia là Alexander VI (1492-1503) hiện nguyên hình là một
"con quỷ râu xanh" loạn luân 3 đời trực hệ đàn bà, con trai hắn
là Cesare và con gái là Lucrezia lộng hành đến nỗi thay cha cai trị Giáo hội,
có lần Lucrezia ngồi trên Tòa Phêrô và các triều thần, các thầy dòng
xúm vào hôn chân nàng… Đây là chuyện "thất tình lục dục" của
ngàn năm thứ hai, nếu ngược lên ngàn năm thứ nhất, có chuyện cổ kim
Đông Tây độc nhất vô nhị là "Phiên Tòa Đại Hình Khai Quật Xác
Giáo Hoàng Formosus (891-896) chết đã mục xương ngồi vào ghế bị
cáo", sử gọi là "Cadaver Synod", một phiên tòa Giáo hoàng xử
tội Giáo hoàng mà người đời mường tượng ra cảnh dưới âm ti cắt lưỡi
móc mắt chặt từng ngón tay, tùng xẻo phân thây ra trăm mảnh ném xuống
sông Tiber. Năm sau Giáo hoàng Stephen VI và người bố trí phiên tòa xử xác
chết này bị lật đổ, bị tù và bị thắt cổ cho chết. Hàng trăm cuộc
phế lập, tranh quyền, thanh trừng, cướp ngôi Giáo hoàng cực kỳ hung bạo,
tàn nhẫn, vô luân, y hệt thời Xuân Thu Chiến Quốc."
Dù trong bản văn xưng tội giáo
hoàng và ban tham mưu của ông chỉ đưa ra những lời hết sức đại
cương, tránh né chi tiết và nhiều trường hợp trọng đại trong lịch sử
Gia Tô Giáo và trong nội bộ Giáo hội, hành động xưng tội này cũng có một
ảnh hưởng trên toàn thế giới. Ảnh hưởng như thế nào, đó là tùy
theo sự nhận định của mỗi người.
Đối với dân tộc Việt Nam, những
lời xưng thú tội lỗi của Giáo hội Gia Tô như trên đã bạch hóa nhiều
sự kiện lịch sử. Những tác phẩm ngụy sử để biện bác, bào chữa
cho Gia Tô Giáo ở Việt Nam của những tín đồ Gia Tô Việt Nam như Phan Phát
Huồn, Vũ Đình Hoạt, Bùi Đức Sinh v..v.. đã trở thành vô giá trị. Vì sự
bách hại đạo Gia Tô ở Việt Nam không bắt nguồn từ lý do tôn giáo mà
vì ý muốn thống trị của Gia Tô Giáo, vì thái độ thù nghịch của Gia
Tô Giáo đối với các tôn giáo truyền thống của dân tộc Việt Nam, vì sự
liên kết của Giáo hội Gia Tô với những thế lực thực dân đưa đến sự
đô hộ Việt Nam của Pháp, vì sự coi thường, không tôn trọng nền văn hóa
Việt Nam, vì đã đào tạo một lớp giáo dân cuồng tín, sẵn sàng phản bội
quốc gia, vì đã khích động gây nội loạn trong đất nước Việt Nam v…v…
Tất cả những điều này đã được sử sách ghi rõ. Những lý do cấm đạo
mà những tín đồ cuồng tín Gia Tô bịa ra như các Vua Triều Nguyễn thù
nghịch Gia Tô Giáo vì đạo này đối nghịch với Nho Giáo, giới Văn Thân
"Bình Tây Sát Tả" vì Gia Tô làm cho họ mất thế đứng trong xã hội
hay mất nồi cơm, vì đạo Gia Tô chủ trương công bằng, bác ái v..v… nay
đã không còn một giá trị nào, vì toàn bộ những luận cứ này đã bị
Giáo hoàng phủ bác dứt khoát qua những lời xưng thú tội lỗi trên.
Mặt khác, những lời xưng thú tội
lỗi của giáo hội đã bảo đảm giá trị của những tác phẩm nghiên cứu
về Gia Tô Giáo trên thế giới, và của một số tác giả Việt Nam: ví dụ
như cuốn Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Tại Việt Nam của
Cao Huy Thuần, cuốn Thập Giá và Lưỡi Gươm của LM Trần Tam Tĩnh,
cuốn Công Giáo Chính Sử của Trần Chung Ngọc, cuốn Thực Chất Của
Giáo Hội La Mã của Nguyễn Mạnh Quang v..v.. vì trong những cuốn này,
các tác giả không làm chuyện gì khác hơn là đưa ra phần nào chi tiết sự
thật về những tội lỗi của Gia Tô Giáo đối với nhân loại nói chung,
đối với Việt Nam nói riêng, những sự thật mà Giáo Hoàng, đại diện
cho Gia Tô Giáo, đã thừa nhận qua những lời xưng thú tội lỗi tổng
quát và xin được tha thứ ở trên.
Vì giáo hoàng đã công khai xưng thú
tội lỗi của Giáo hội Gia Tô đối với nhân loại, những tác phẩm vạch
trần những tội lỗi trên ngày nay đã được bảo đảm giá trị trí thức.
Giáo hội và các tín đồ Gia Tô cuồng tín không còn có thể tiếp tục
theo sách lược vu khống từ trước tới nay của giáo hội, lên án các
tác phẩm nghiên cứu sự thật trên là chống Gia Tô, hay là chụp mũ CS chống
tôn giáo, hoặc là tác phẩm của những kẻ thù của Gia Tô Giáo v..v...
Theo lời diễn giải của giáo hội
thì hành động xưng thú tội lỗi này là để thanh tẩy ký ức
(purification of memory) có tác dụng cất bỏ mặc cảm tội lỗi của giáo hội
qua hành động ăn năn thống hối và thú nhận tội lỗi. Một ký giả đã
nhận xét như sau: Nhưng nếu Giáo hoàng cho rằng, với những lời xưng
thú tội lỗi của giáo hội, đọc lên trong vài mươi phút, là có thể
xóa bỏ cái lịch sử 2000 năm chứa đầy tội ác của giáo hội thì Ngài
đã lầm. (If the pope thinks that he can wipe out the criminal record of the Church
in the last 2000 years in a 15-minute sermon, he’s wrong.) Tờ Newsweek ngày 20 tháng
3, 2000 cũng viết: Nhưng làm sao mà Giáo hoàng nào có thể giải thích
được, đừng nói đến thống hối, mọi tội lỗi mà giáo hội đã phạm
nhân danh đức tin Gia Tô trong ngàn năm qua? (But how can any pope account for,
much less repent for, all the sins committed in the name of the Catholic faith over the
past thousand years?) Kết luận: "Xin được tha thứ" chỉ là một bước
đi chính trị để xoa dịu dư luận quần chúng trong một thế giới mà sự
tiến bộ trí thức không cho phép giáo hội hành xử như trước, vì như học
giả John Remsburg đã viết: bó củi (để thiêu sống người) và
cây gươm (để giết người) đã bị tước đoạt khỏi những bàn
tay đẫm máu của giáo hội (The fagot and the sword have been wrested from her
bloody hands...), hoặc che dấu sự thực lâu hơn nữa. Học Hội Đức Giêsu
Ki Tô Phục Sinh cũng viết trong lời bàn thứ 7 như sau:
"Hàng ngàn năm, để
bưng bít và che dấu 7 chương tội đối ngoại - và một chương tội đối
nội là 8 - nghệ thuật tuyên truyền của Giáo hội Roma phải đạt đến
chỗ cực kỳ ảo diệu, thiên biến vạn hóa, một nghệ thuật tuyên truyền
thần thánh, một nghệ thuật tuyên truyền nhồi sọ tuyệt vời: Giáo hội
là Thánh, Giáo hội là Mầu Nhiệm, Giáo hội là Bí Tích, Giáo hội là Hiền
Thê đức Giêu, Giáo hội là Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền,
Giáo hội là Vương Quốc của Thiên Chúa… Giáo hội tự nhận cho mình tất
cả những khái niệm (sic) cao cả thánh thiện, vừa linh thiêng siêu hình, vừa
hữu hình thế tục, chẳng bỏ sót một phạm trù nào! Ngoài nghệ thuật
tuyên truyền, Giáo hội vẫn phải xây "vạn lý trường thành đức
tin" và buông bức "màn sắt thần học" lên đầu đoàn chiên.
Mỗi tòa giảng là một cái loa tuyên truyền, dựa vào khoa thần học phù
phép, ảo thuật "núi tội thành con chuột", "kẻ cướp mặc
áo thầy tu", và "quỷ Satan có diện mạo ông thánh."
Không ai hiểu rõ đạo mình hơn nhóm
Ki Tô Học và khó ai có thể phủ bác được những lời bàn của nhóm
này.
Mặt khác, giáo hoàng có thể tự
ban cho mình cái quyền đại diện cho giáo hội để xưng thú tội lỗi và
xin được tha thứ, nhưng ai là người đại diện cho hàng
chục triệu nạn nhân của giáo hội Gia Tô trong suốt 2000 năm qua, những nạn
nhân đã bị giáo hội nhân danh "tình yêu thương" của Chúa, nhân
danh chương trình "cứu rỗi" của Chúa, nhân danh "chân lý"
của Chúa, nhân danh sự "mạc khải" của Chúa v..v.., chà đạp nhân
phẩm, bắt bớ, giam cầm, tra tấn cực hình, cắt cổ, chôn sống, thiêu sống,
tàn sát tập thể trong sách lược diệt chủng v..v.. để mà tha thứ cho
giáo hội?
Giáo hoàng và 5 hồng y cùng 2 tổng
giám mục của ông đã xưng thú tội lỗi của giáo hội Gia Tô trước công
chúng và xin được tha thứ. Nhưng, một ủy ban các nhà Thần học do
Vatican bổ nhiệm, đã tung ra một văn kiện dài 30 trang, giải thích căn bản
triết lý và thần học của việc xưng thú tội lỗi và xin được tha thứ
của giáo hoàng và viết rõ là sự xưng tội trong toàn thể giáo hội là xưng
tội cùng Chúa. (Steve Kloehn in Chicago Tribune, March 13, 2000: Last week, a panel of
Vatican-appointed theologians released a 30-page document laying out the philosophical and
theological basis for the pope’s apologies and repentance - the document makes it clear
that churchwide confession is addressed to God). Trong bản văn này, Giáo hội cũng
trốn trách nhiệm, đổ tội lên đầu các tín đồ, vài (sic) con cái của
Giáo hội gây ra tội ác, chứ còn giáo hội thì vẫn "thánh thiện bởi
vì Chúa Ki Tô là Thủ Lãnh và là vị hôn phu của giáo hội; Chúa Thánh Thần
là linh hồn linh động giáo hội v..v.." (Báo Dấn Thân số 35,
trang 4). Dù văn kiện này chỉ có mục đích vớt vát mặt mũi và uy tín của
giáo hội nhưng không có cách nào giáo hội có thể hòa hợp một tín lý
chính thức của giáo hội: rằng giáo hội là nhiệm thể của Chúa Ki Tô
(the mystical body of Christ), do đó không thể nào gây ra tội lỗi (incapable of
sin), với thực tế hiển nhiên là giáo hội như một định chế
(institution), đã gây ra nhiều tội lỗi. Linh mục Thomas Reese, một sử gia
Gia Tô, cũng phải thú nhận rằng: "Cần phải nhấn mạnh rằng, con
cái của giáo hội gồm những giáo hoàng, hồng y, giám mục và linh mục chứ
không phải chỉ có những tín đồ thông thường ngồi trên ghế nhà thờ."
(It should be emphasized that the "children" of the church include popes,
cardinals, bishops, clergy and not just the people in the pews.) Giáo hoàng, hồng y,
giám mục, linh mục là những người quyết định và thi hành đường hướng
hoạt động của giáo hội, còn đám con chiên thì "bề trên" bảo
sao nghe vậy, tuyệt đối tuân phục không có ý kiến. Điều này có nghĩa
là, những tội ác của Gia Tô Giáo đối với nhân loại không phải là do "một
vài (sic) anh em chúng ta đã sa ngã" (some of our brothers have
fallen) gây nên, mà chính là trách nhiệm của giáo hội, như tôi sẽ trình
bày với vài chi tiết trong phần sau. Vả chăng, nếu chỉ cần xưng tội với
Chúa thì cứ đóng kín cửa thánh đường Phê-rô mà xưng tội, việc gì phải
làm công khai để quảng cáo trước quần chúng? Thủ đoạn vớt vát uy
tín này đã gây nhiều bất mãn trong dư luận thế giới. R. J. Weissman viết
trong tờ Chicago Tribune ngày 16 tháng 3, 2000:
"Sự xưng thú tội lỗi
và xin được tha thứ của giáo hoàng không đặc biệt làm tôi khó chịu
vì ông ta không nhắc gì tới những Lò Thiêu Sống của Đức Quốc Xã. Nó
thực sự làm tôi khó chịu vì giáo hoàng không xin được tha thứ từ những
kẻ đã phải đau khổ gánh chịu những sự tàn bạo ác độc. Con người
là phần sống quan trọng nhất trên trái đất.. Tại sao giáo hoàng không
nhận ra điều này? Tôi là một người không chấp nhận lời xin lỗi của
giáo hoàng đối với Chúa. Có thể đó là một bước đi đúng đường.
Nhưng tôi nghĩ rằng đó là sự trốn tránh trách nhiệm."
(It doesn’t
particularly bother me that the Holocaust was not mentioned. It does bother me that the
pontiff has not ask forgiveness from the people who suffered the atrociries. People are
the most important part of life on Earth…Why doesn’t the pontiff recognize this. I,
for one, do not accept his apology to God. Perhaps it is a step in the right direction.
But I think that it is an avoidance of responsibility.)
Thật vậy, Chúa, một sản phẩm do
óc tưởng tượng của con người tạo ra, không phải là nạn nhân của
giáo hội, mà nạn nhân chính là những con người bằng xương bằng thịt,
máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn, như Giêsu khi còn sống, như các giáo
hoàng, hồng y, tổng giám mục, giám mục, linh mục, và như tất cả mọi
người chúng ta. Chúa đã chết trên thập giá từ lâu. Chúa không bị giáo
hội Gia Tô tù đầy, tra tấn cực hình, thiêu sống, giết chóc v…v…, mà
chính là con người, hàng chục triệu con người. Phạm tội đối với con
người mà lại xưng tội cùng Chúa, một nhân vật đầy huyền thoại tính
và không có một căn bản thuyết phục nào, về hiện thực cũng như về
khoa học, để chứng tỏ rằng Chúa có thể chuộc tội hay tha thứ tội lỗi
của con người, một nhân vật đã được một số đệ tử dựng lên với
nhiều chi tiết mâu thuẫn và sai lầm như được viết trong Thánh Kinh, thì
chuyện "xưng tội cùng Chúa" đúng là chuyện phi lý, chỉ có giáo
hội Gia Tô mới có thể làm như vậy. Giáo hội vẫn giữ thái độ kiêu căng
tự tôn của thời Trung Cổ: cho rằng chỉ có Chúa là có quyền tha tội
cho giáo hội. Đây cũng là điều mà khi xưa giáo hội đã từng áp dụng
ở bất cứ nơi nào giáo hội có quyền hành và ở thế mạnh: những linh
mục, giám mục v..v.. của giáo hội, bất cứ họ làm điều ác ôn nào,
không ai có quyền phán xét họ ngoài Giáo hội. Nói tóm lại, Chúa chỉ là
cái bung xung mà giáo hội đưa ra để tha hồ làm điều ác, vì làm xong chỉ
việc xưng tội với Chúa, xin Chúa tha tội là ký ức đã được thanh tẩy,
là mặc cảm tội lỗi đã được cất bỏ, là lương tâm lại yên ổn để
tiếp tục làm ác, nếu ở vị thế có quyền hành và có cơ hội thuận tiện.
Chúa chỉ là cái bình phong giáo hội đưa ra để che đậy, bảo vệ và duy
trì định chế độc tài của chính giáo hội chứ thật ra chẳng làm gì
có chuyện Chúa tha tội hay không tha tội. Chúng ta cũng biết, ở Việt Nam,
khi các con chiên phàn nàn về mấy ông linh mục làm bậy thì giám mục
"bề trên" cũng khuyên rằng: "các con đừng có nói hành các
cha mà mang tội với Chúa". Điều này có nghĩa là "cha cũng như
Chúa", đưa Chúa ra làm bung xung che đỡ cho những hành động bậy bạ
của các cha "bề trên". Nhưng ở Bắc Mỹ thì tín đồ Gia Tô tiến
bộ hơn nhiều. Tín đồ đã đưa hơn 400 ông "cha cũng như Chúa"
can tội cưỡng dâm trẻ phụ tế và nữ tín đồ vị thành niên ra tòa,
và kết quả là nhiều ông "cha cũng như Chúa" vào tù ngồi chờ
ngày lên thiên đường hưởng nhan thánh Chúa, và giáo hội đã phải bỏ
ra nhiều trăm triệu, có thể đến cả tỷ đô la để trả tiền tòa phạt
bồi thường cho các nạn nhân. Tiền ở đâu mà giáo hội có nhiều thế?
Chắc chắn một phần là do giáo dân đóng góp "để giáo hội làm việc
thiện xã hội."
Nhìn kỹ vào vấn đề xưng tội cùng
Chúa và xin Chúa tha thứ, chúng ta thấy có nhiều điều không ổn, và việc
xưng tội cùng Chúa không hợp với lôgic thông thường, không có căn bản
vững chắc, thực chất chỉ là một thủ đoạn của giáo hội trước đám
tín đồ thấp kém bị huyễn hoặc bởi những luận điệu đầy tính chất
mê tín dị đoan. Tại sao? Vì giáo hội đã theo đúng những lời trong
Thánh Kinh, được coi là chứa những lời không thể sai lầm của Chúa,
nên mới có những hành động dã man tàn bạo đối với nhân loại. Chúa
không thể tha thứ cho giáo hội, vì chính Chúa là nguồn cảm hứng và cũng
là nguồn chỉ đạo tâm linh cho giáo hội, hướng dẫn giáo hội. Vậy nếu
giáo hội phạm tội, thì theo một nghĩa nào đó, tội của Chúa nặng hơn
tội của giáo hội, vì giáo hội chỉ là cấp thừa hành. Đây không phải
là những lời vô căn cứ, có tính cách phỉ báng Chúa, mà dựa trên sự
kiện như được chứng minh qua những luận cứ sau đây.
- Đọc Thánh Kinh, Cựu Ước và Tân Ước, chúng ta
thấy rõ ràng là những hành động tội lỗi của Giáo hội Gia Tô trong
2000 năm qua bắt nguồn từ những luật lệ, những điều Chúa Cha cũng như
Chúa Con dạy trong Thánh Kinh. Trích dẫn tất cả những điều này từ
Thánh Kinh ra để chứng minh luận cứ trên thì chiếm quá nhiều chỗ trong
bài, cho nên tôi chỉ đưa ra vài tài liệu của một số học giả có địa
vị trong xã hội AⵠMỹ:
David Voas, Giáo sư đại học
tiểu bang New Mexico (New Mexico State University), trong cuốn "Cuốn Thánh
Kinh Mang Tới Tin Xấu: Cuốn Tân Ước" ("The Bad News Bible: The New
Testament", trg. 1 - 2) đã viết về nội dung tổng quát của cuốn Tân Ước
như sau:
"Vấn đề là người
ta nghĩ rằng người ta biết ở trong Thánh kinh có những gì, hoặc ít nhất
là Thánh kinh chứa loại tài liệu gì. Hầu hết đều lầm, họ chỉ quen
thuộc với vài đoạn trích dẫn đã được giáo hội chấp thuận, và họ
sẽ ngỡ ngàng khi thấy không những Thượng đế trong Cựu Ước khủng khiếp
dễ sợ như thế nào, mà con của hắn (nghĩa là Giê-Su; TCN) trong Tân
Ước cũng còn ở dưới mức hoàn hảo khá xa. Thông điệp của Giê-su
không hẳn toàn là tin mừng, thiên đường nhiều nhất là một viễn cảnh
không chắc chắn. Xét về toàn bộ thì đó rất có thể là cuốn Thánh
kinh mang tới tin xấu."
(The problem is that people think they
know what's in the Bible, or at least what kind of material it contains. Most of them are
wrong: they are only familiar with a few church-approved extracts, and are astonished not
just how awful God is in the Old Testament, but also at how much less than perfect his son
seems in the New. The message of Jesus isn't all good news; paradise is an uncertain
prospect at best. Taken as a whole, it could well be The Bad News Bible.)
Tiến sĩ Madalyn O’Hair, trong
cuốn Tất Cả Những Điều Mà Bạn Muốn Hỏi Những Người Mỹ Vô Thần
(All The Questions You Ever Wanted To Ask American Atheists), đã viết về ảnh hưởng
của điều răn thứ nhất trong Cựu Ước và điều Giêsu truyền các tông
đồ phải đi cải đạo người khác (ngày nay các học giả nghiên cứu
Tân Ước đã chứng minh rằng đây chỉ là câu được ngụy tạo và thêm
vào Thánh Kinh về sau để biện minh cho sự bành trướng của Gia Tô Giáo
trên thế giới, vì câu này mâu thuẫn với nhiều đoạn khác trong Thánh
Kinh nói về sự tái giáng trần của Giêsu và ngày phán xét đã gần kề,
ngay trong thế hệ của những người sống đồng thời với Giêsu. TCN) như
sau:
"Cái tiền
đề căn bản của Ki Tô Giáo là không khoan nhượng các tôn giáo khác. Tín
đồ Ki Tô không thể chỉ theo tín ngưỡng của mình và để cho mọi người
khác tự do theo tín ngưỡng của họ. Giê-su (thực ra là sự ngụy tạo
của giáo hội Gia Tô) đòi hỏi rằng các tín đồ Ki Tô phải đi cải
đạo người khác (nghĩa là cưỡng bách người khác phải tin vào đạo
Giê-su) và điều này đã gây nên nhiều sự đau khổ cho nhân loại hơn
bất cứ tôn giáo nào khác. Những Thần của tôn giáo đa thần sống hòa
bình với nhau. Nhưng khi Ki Tô Giáo xuất hiện với tính cách duy nhất của
nó, dựa trên điều thứ nhất của mười điều răn, "Ngươi không
được có Thần nào khác ngoài Ta", thì sự giết chóc bắt đầu."
(The basic premise of
Christianity is intolerance. The Christian cannot just have his belief and permit everyone
else to have theirs. Jesus Christ demanded that the Christian convert and this has caused
more grief to mankind than any other religion. The old pagan gods lived side by side. But
when Christianity came with its exclusivism, based on the first of the Ten Commandments,
"Thou shalt have no other god before Me," the killing began.)
Linh mục Ernie Bringas viết về
ảnh hưởng của sự tin mù quáng vào Thánh kinh như sau trong cuốn Những
Thảm Họa Trong Quá Khứ và Hiện Tại Do Sự Sùng Tín Thánh Kinh (Going
by the Book: Past and Present Tragedies of Biblical Authority) trg. 17-18:
"Trải qua
nhiều thế kỷ, sự sùng tín Kinh Thánh đã dẫn tín đồ Ki Tô trong một
niềm tin mù quáng, trong sự khủng bố, ngược đãi người Do Thái và những
người phi Ki-Tô, giết hại và khủng bố, áp bức phái nữ, đè nén dục
tính, kiểm duyệt, tạo tâm lý tôn sùng, và nhiều lầm lạc khác. Những
mô thức hành xử có tính cách hủy diệt này, người ta có thể thấy dễ
dàng là chúng bắt nguồn từ sự tin vào quyền năng tuyệt đối của những
điều viết trong Thánh Kinh…
Ki Tô Giáo đã để
lại một dấu vết kinh khoàng, khổ sở và chết chóc như đã được ghi
trong những trang sử đẫm máu. Và những biến cố tàn ác, lố bịch trong
sử sách đã được gây ra dưới ảo tưởng (đôi khi là cái cớ): đó là
sự chỉ đạo của Thần Ki Tô, là những thí dụ chủ yếu về một niềm
tin bị lạc dẫn."
(Over the past centuries, bibliolatry has
led Christians in bigotry, the persecution of Jews and other non-Christians, murder and
terrorism, the oppression of women, the suppression of sexuality, censorship, cult
mentality, and other aberrations. The destructive behavior patterns can be easily traced
to the unchallenged authority accorded biblical writing.
Christianity has left an appalling trail
of misery and death as recorded in the bloodstained pages of history. And the cruel,
grotesque events they record are prime examples of misguided faith, perpetrated under the
delusion (sometime pretext) of divine guidance.)
Robert G. Ingersoll, một tư tưởng
gia lỗi lạc của Mỹ vào cuối thế kỷ 19, đã đưa ra một thách đố:
ông sẽ tặng một giải thưởng là $100 (năm 1890) cho vị linh mục hay mục
sư nào dám lên bục giảng, giảng những đoạn mà chính Ingersoll trích dẫn
từ Thánh kinh. Trong nhiều năm, không có một người nào nhận lời thách
đố này cả. Một người có óc suy luận tối thiểu có thể mường tượng
ngay ra là nội dung những đoạn đó trong Thánh Kinh nó như thế nào. Ông viết
về những tác hại của Thánh Kinh và của niềm tin vào Chúa trên nhân loại:
" Nhân danh
Chúa Ki Tô hàng triệu nam nữ đã bị tù đầy, tra tấn và giết hại,
hàng triệu người đã bị làm nô lệ. Nhân danh hắn những tư tưởng gia,
khảo cứu gia, bị coi như là những kẻ tội phạm, và những tín đồ theo
hắn đã làm đổ máu của những người thông thái nhất, giỏi nhất.
Nhân danh hắn sự tiến
bộ của nhiều quốc gia bị chặn đứng cả ngàn năm. Trong phúc âm của hắn
chúng ta thấy cái tín lý về sự đau khổ vĩnh viễn, và những lời của
hắn đã gia thêm sự kinh khủng vô tận vào sự chết. Phúc âm của hắn
chất đầy thế giới với thù hận và trả thù, coi sự lương thiện trí
thức như một tội ác, hạnh phúc trên cõi đời là con đường dẫn xuống
địa ngục, tố cáo tình thương yêu như là thấp hèn và như súc vật,
thánh hóa sự nhẹ dạ cả tin, tôn vinh sự mù quáng và tiêu diệt tự do của
con người. Nhân loại sẽ tốt hơn nhiều nếu cuốn Tân Ước chưa từng
được viết ra - Chúa Ki Tô theo quan niệm thần học cũng chưa từng được
sinh ra."
(In Christ name millions and millions of
men and women have been imprisoned, tortured and killed. In his name millions and millions
have been enslaved. In his name the thinkers, the investigators, have been branded as
criminals, and his followers have shed the blood of the wisest and the best. In his name
the progress of many nations was stayed for a thousand years. In his gospel was found the
dogma of eternal pain, and his words added an infinite horror to death. His gospel filled
the world with hatred and revenge, made intellectual honesty a crime, made happiness here
the road to hell, denounced love as base and bestial, canonized credulity, crowned bigotry
and destroyed the liberty of man.
It would be far better had the New
Testament never been written - far better had the theological Christ never lived.)
Nhưng rõ ràng hơn cả là những đoạn sau đây của Jack
Bays viết trong cuốn Hình Bóng Của Quỷ (The Shadow Of The Demon), trg.
6-7, về những điều độc ác phi lý trong Thánh Kinh, những điều đã làm
nguồn cảm hứng cho những hành động của Giáo hội Gia Tô sau này:
"Theo Thánh
Kinh, hơn 99% những sự trừng phạt của Chúa Cha là đổ lên đầu những
người vô tội - những người không hề dính líu gì tới những trường hợp
để Chúa phải trừng phạt.
Vì Adam ăn một trái
táo mà cả nhân loại bị đày đọa: "Vì sự xúc phạm của một người,
cả nhân loại bị kết án và luận phạt" (Rom: 5:18). Những tư tưởng
như vậy là từ đầu óc của một người man rợ không hề có một mảy
may ý niệm nào về công lý.
Chúng ta được biết Thần Ki Tô
mang 10 tai họa đến cho dân Ai Cập vì tim của Vua Ai Cập (Pharaoh) trai cứng
(nghĩa là tàn nhẫn. TCN). Những người dân này không liên quan gì tới việc
Pharaoh có trái tim trai cứng. Tuy vậy, gia súc của họ bị chết hết, mùa
màng hư hại, vườn tược suy sụp, nhà cửa đổ nát, và tất cả những
đứa con sinh đầu lòng đều bị giết. Nếu là lỗi của Pharaoh thì chỉ
mình Pharaoh phải gánh chịu tai họa mà thôi. Và chúng ta cũng biết, chính
Thần Ki Tô đã làm cho trái tim của Pharaoh trai cứng.
Theo Thánh Kinh, Thần Ki Tô đã dạy
dân mà Ngài đặc biệt chọn (Do Thái) làm tội ác và giúp dân này thực
hiện những tội ác. Thần giúp Jacob lừa dối cậu của hắn ta (Gen: 30:
27-43), và Thần dạy dân ngài chọn đi lừa dối dân Ai Cập trong một cuộc
lừa đảo lớn nhất trong lịch sử (Exo: 11: 2-4). Dân Ai Cập không trả
công đủ cho dân Do Thái (đang làm nô lệ ở Ai Cập. TCN), cho nên,
bài học luân lý vĩ đại của Thần Ki Tô là: nếu chủ ngươi không trả
công xứng đáng cho ngươi thì ngươi hãy ăn cắp của chủ để bù vào sự
thiệt hại này.
Những chuyện này trong Thánh Kinh
chứng tỏ những người viết Thánh Kinh có đầu óc của những dân man rợ,
không có một ý niệm nào về công bằng và bác ái. Trong những cuộc
chiến tranh chiếm đất phát động bởi "dân được Thần chọn",
lệnh truyền ra là phải giết sạch mọi người, già hay trẻ. Ít ra là trẻ
thơ không có tội tình gì và tội lỗi duy nhất của những người lớn tuổi
là họ có đất đai và con gái mà những kẻ man dại, liều lĩnh, muốn chiếm
hữu. Những nạn nhân này cũng là người có tín ngưỡng khác, và sự
khoan nhượng tín ngưỡng của người khác là điều mà Thần quyết định
cấm, theo như Thánh Kinh. Dân "thánh Chúa" được lệnh phải tiêu
diệt tất cả những ai không cùng tín ngưỡng. Thánh Kinh dạy chúng ta là
phải giết ngay cả con trai, con gái, cha, mẹ chúng ta nếu những người này
không theo tôn giáo của chúng ta. (Phục Truyền 13: 6-10)."
(More than 99% of all the punishment meted
out by God, according to the Bible, was upon innocent people - people not even accused of
having anything to do with the incidents that brought on the punishment.
Because Adam ate a certain apple all
mankind is doomed: "By the offense of one, judment came upon all men to
condemnation" (Rom: 5:18). Such thoughts came from the mind of a savage who never had
the slightest conception of justice.
We are told that God brought the ten
scourges upon the Egyptians because Pharaoh’s heart was hardened. These people had
nothing to do with the hardening of Pharaoh’s heart. Yet their stock was killed, their
crops ruined, their orchards destroyed, their buildings broken down, and their first born
killed. If it was Pharaoh’s fault then he alone should have suffered. As the story goes
it was God who hardened his heart..
According to the Bible, God taught his
chosen people crime and aided them in it. He helped Jacob cheat his uncle (Gen: 30:
27-43), and he taught and helped his chosen people defraud the Egyptians in the largest
con game in history (Exo: 11: 2-4). The Egyptians did not pay the Israelites enough, so
the great moral lesson seems to be that if your boss does not pay you enough you are
supposed to steal from him to make up for it.
These stories show that the Bible writers
had the minds of barbarians with no conception of mercy or justice. In the wars of
conquest waged by the "chosen people of God", the command was for slaughter of
old and young. At least the children were innocent of anything wrong and the only sin for
which adults were being punished was that they had lands and young daughters that these
wild, ruthless barbarians wanted. The victims had different religious ideas, too, and
religious tolerance was positively forbidden by God according to the Bible. The "holy
people" were to exterminate all who had a different religion. The Bible commands that
son, daughter, father or mother be killed if they differ with us in religion. (Deut: 13:
6-10)).
Từ vài tài liệu nêu trên, đây
chỉ là một số nhỏ trong số rất nhiều tài liệu khảo cứu chính xác về
Ki Tô Giáo hiện hữu ngày nayﬠvà đọc lịch sử Gia Tô Giáo, chúng ta đã
hiểu tại sao "hội thánh" Gia Tô lại phạm quá nhiều tội ác đối
với nhân loại. Chúng ta đã hiểu tại sao, trong cuộc Thánh Chiến
Albigense, khi một sĩ quan hỏi đại diện của Giáo hoàng đương thời: "Làm
sao phân biệt được ai là tín đồ Gia Tô (catholics) và ai là kẻ lạc đạo
(heretics)" thì câu trả lời là: "Giết hết đi, Thần Ki Tô sẽ
nhận biết ai là tín đồ của Người" (Kill them all. God will
recognize His own.). Vì câu trả lời này mà trên 15000 người trong thị
trấn Béziers, không phân biệt già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà, con nít
đều bị tàn sát không nương tay. Chúng ta đã hiểu tại sao giáo hoàng
Paul IV lại có thể tuyên bố: "Nếu bố tôi lạc đạo (nghĩa là
không tin Chúa như tôi tin) thì tôi sẽ đích thân nhúm củi thiêu sống
ông ta."; tại sao chính quyền Gia Tô của Ante Pavelic ở Croatia
trong kỳ đệ nhị Thế Chiến, trong đó có các linh mục, giám mục làm trưởng
trại giam, làm cấp chỉ huy trong tổ chức Ustashi, đã tàn sát, cắt cổ,
thiêu sống khoảng 700000 người "ngoại đạo" theo Chính Thống
Giáo hoặc Do Thái; tại sao chính quyền Ngô Đình Diệm, người được Hồng
Y Spellman đặt lên ở Nam Việt Nam, người đã tự nhận là một Phán Quan
Tây Ban Nha, đã giết gần nửa triệu người "ngoại đạo" sau cái
bình phong "chống Cộng", đã dung túng cho các linh mục, giám mục
buôn lậu, chiếm đất công làm nhà thờ, dung túng cho người anh vô tài
vô đức như Ngô Đình Cẩn tổ chức mật vụ miền Trung, muốn giết ai
thì giết, muốn cướp đoạt tài sản của ai thì cướp v..v…; tại sao
Gia Tô Giáo tại Việt Nam đã làm tay sai cho Pháp, phản bội dân tộc, và rồi
dựa vào quan thầy Thực dân Pháp để chiếm đất Chùa làm nhà thờ, ví dụ
như nhà thờ lớn ở Hà Nội, nhà thờ La Vang ở Quảng Trị, nhà thờ Đức
Bà ở Sài gòn v..v.. đều làm trên đất cưỡng chiếm của Phật Giáo.
Thật là rõ ràng, nguồn gốc tội
lỗi của Giáo hội Gia Tô là ở trong Thánh Kinh. Tất cả tội ác của
Giáo hội Gia Tô đối với nhân loại là do sự tin tưởng của Gia Tô Giáo
vào những lời "mạc khải" không thể sai lầm của Thần Ki Tô
(Christian God) được viết trong Thánh Kinh. Từ những thế kỷ đầu, Giáo
hoàng đã ra lệnh đốt sách vở ngoại đạo. Giáo hoàng Urban II phát động
cuộc Thánh Chiến đầu tiên vào cuối thế kỷ 11; Giáo hoàng Gregory IX ký
sắc lệnh thiết lập những Tòa Hình A鮠xử
Dị Giáo vào thế kỷ 13 và sau đó, Giáo hoàng Innocent IV ký sắc lệnh cho
phép những Tòa Hình A鮠dùng cực hình tra khảo
để lấy những lời "thú tội" của những người mà giáo hội
kết án là lạc đạo hay dị giáo; các Giáo Hoàng Martin V, Callistus III,
Alexander VI, trong thế kỷ 15, ký sắc lệnh cho dân Chúa đi ăn cướp đất
đai, chiếm thuộc địa, và cưỡng bách dân thuộc địa phải làm nô lệ,
phải cải đạo. Giáo hoàng là ai? Chính là đại diện của Chúa trên trần
(Vicar of Christ), không thể sai lầm trong những quyết định về Đức Tin
hay đạo đức (Infallible in matters of Faith or Morals). Như vậy, xưng thú tội
lỗi và xin Thần tha thứ cho những hành động bắt nguồn từ chính những
luật lệ và điều răn, điều dạy của Thần trong Thánh Kinh là một điều
khôi hài đối với người ngoại đạo, những người đã hiểu rõ Thánh
Kinh và nguồn gốc những tội ác đối với nhân loại của Gia Tô Giáo. Nhưng
ít ra, hành động xưng thú tội lỗi và xin tha thứ này cũng làm sáng tỏ
một điều: những lời mà Giáo hội cho là "mạc khải" không thể
sai lầm của Thần Ki Tô trong Thánh Kinh chẳng qua chỉ là sản phẩm của
những đầu óc mọi rợ của thời bán khai, đầu óc của những người viết
Thánh Kinh, không có một ý niệm nào về đạo đức và công bằng, như
Jack Bays đã viết ở trên. Do đó, những lời "mạc khải" này
không còn một mảy may giá trị trong ánh sáng của khoa học, hoặc theo
tiêu chuẩn luân lý và đạo đức của chúng ta ngày nay. Đây chính là những
sự thật mà tín đồ Gia Tô cần phải biết qua việc xưng thú tội lỗi
và xin được tha thứ của Giáo hoàng để mà tự đó họ có thể được
giải phóng.
2. Ngoài ra, về phương diện lý
luận, chúng ta cũng còn có thể thấy rõ trách nhiệm của Chúa về những
tội ác của giáo hội Gia Tô đối với nhân loại nằm trong bí tích
"rửa tội" của Gia Tô Giáo. Để chứng minh, chúng ta hãy đi vào
chi tiết từng câu một trong nghi thức "rửa tội" của Gia Tô
Giáo.
Chúng ta biết rằng, mọi tín đồ
Gia Tô, từ Giáo hoàng cho tới dân cùng đinh khố rách áo ôm, nếu là đạo
gốc, đều bắt buộc phải thụ hưởng bí tích rửa tội từ khi mới sơ
sinh mới được công nhận làm dân Chúa. Những kẻ tân tòng lớn tuổi cũng
phải qua nghi thức rửa tội mới có thể chính thức được công nhận
làm tôi tớ hèn mọn của Chúa, thực ra là của các linh mục và Vatican.
Sách Giáo Lý Công Giáo
(Katholischer Katechismus), bản dịch của Hoài Chiên và Nguyễn Khắc Xuyên,
nhà in Zieleks, Texas, xuất bản năm 1991, trang 149-151, viết về Nghi Thức Rửa
Tội cho con nít như sau. Chỉ cần đọc nghi thức này chúng ta cũng có thể
nhận ra thực chất của "bí tích" này ra sao. Tuy nhiên, tôi xin kèm
theo vài nhận xét cá nhân để cho vấn đề sáng tỏ hơn. Nguyễn Khắc Xuyên
là một tiến sĩ Thần học của Gia Tô cho nên chúng ta có thể tin tưởng
bản dịch này. Phần chữ nghiêng thuộc nghi thức rửa tội. Phần chữ thẳng
là những lời bình luận của tôi.
A. Nghi thức ngoài cửa nhà thờ:
- Những câu hỏi đầu
tiên:
Linh mục (LM): Con tên gì?
Cha, Người đỡ đầu (NĐĐ): xưng
tên thánh đứa trẻ...
LM: Con xin gì cùng giáo hội Chúa?
NĐĐ: Con xin đức tin.
(Đứa trẻ sơ sinh chưa biết nói,
trí tuệ chưa phát triển, chưa có khả năng hiểu biết, bị cha mẹ hay
người đỡ đầu thay mặt nó, cưỡng bách nó phải xin đức tin (faith)
trong khi điều mà nó cần khi trưởng thành là lý trí, là trí tuệ để nhìn
sự vật như chúng là như vậy. Đầu óc của đứa trẻ đã bị ô nhiễm
ngay từ khi sơ sinh, vì theo định nghĩa của H.L. Mencken thì đức tin là "một
kiểu tin phi-lôgic vào sự xảy ra của những gì không chắc có thực"
(an illogical belief in the occurrence of the improbable), và theo định nghĩa trong tự
điển thì đức tin là "sự tin chắc vào một cái gì đó mà không
chứng minh được cái đó có thực" (Firm belief in something for which
there is no proof). Ngoài ra, học giả Gia Tô Joseph Daleiden trong cuốn The
Final Superstition cũng cho rằng "đức tin là con đường đi tới mê
tín" ( Faith: a path to superstition). Chẳng trách là đa số tín đồ
Gia Tô khi lớn lên trở nên cuồng tín vì đầu óc đã bị uốn nắn và
điều kiện hóa để tin mà không cần biết, không cần hiểu, vào những
điều phi lý ngay từ khi vừa mới chào đời.)
LM: Đức tin sinh ích lợi gì cho
con?
NĐĐ: Sinh sự sống đời đời.
(Sự sống đời đời trong Gia Tô
Giáo đặt căn bản trên huyền thoại về tội tổ tông và sự tin vào khả
năng "cứu rỗi" của Giê-su, sự hiện hữu của một Thiên đường,
nơi Chúa ngự. Nhưng trước những khám phá của khoa học, huyền thoại
Adam và Eve về tội tổ tông không còn một giá trị nào, vì trái đất đã
có tuổi ít ra là 4 tỷ rưỡi năm, con người đã xuất hiện trên trái đất
cách đây hàng triệu năm, chứ không phải mới được Thần Ki Tô
"sáng tạo" ra cách đây trên 6000 năm như những lời "mạc khải"
không thể sai lầm của Thần được ghi lại trong Thánh Kinh. Và gần đây,
Giáo hoàng Gion Pôn Hai đã tuyên bố là không làm gì có Thiên đường ở
trên các tầng mây. Do đó, sự sống đời đời trên thiên đường, cái
bánh vẽ ở trên trời (từ của Linh Mục Ernie Bringas) của Giáo hội đưa
ra, nay đã không còn ý nghĩa, dù vẫn còn vô cùng hấp dẫn đối với những
tín đồ muốn lên thiên đường với một giá rất rẻ, chỉ cần xin đức
tin với một linh mục)
2. Nghi thức trừ
quỷ:
Từ khi có tội tổ tông thì quỷ
Sa tăng, có quyền khuấy khuất nhân loại. Bởi vậy, linh mục thổi ba lần
trên mặt đứa nhỏ và truyền cho Sa Tăng phải rút lui, nhường chỗ cho Chúa
Thánh Thần.
(Đây là điều mê tín nhất trong
những điều mê tín: rằng Sa Tăng, cũng là một tạo vật của Chúa Cha,
có thật, và là nguồn gốc của những sự xấu ác, có quyền khuấy khuất
nhân loại, và có sẵn trong mọi người từ khi sơ sinh. Đây cũng là tín
điều man rợ nhất và xúc phạm nhất đối với những người không theo
đạo Ki Tô. Tín điều này, chỉ có thể có trong đầu óc của những tín
đồ Gia Tô, cho rằng: bất cứ đứa trẻ nào sinh ra cũng đều bị Sa Tăng
ngự trị trong đó, nếu không đuổi Sa Tăng ra khỏi thân thể đứa trẻ bằng
những nghi thức "rửa tội" hoang đường phản khoa học, thì Sa Tăng
sẽ còn ở lại với đứa trẻ suốt đời. Đông phương cho rằng: "Nhân
chi sơ, tính bản thiện". Trái lại, Gia Tô Giáo của Tây phương quan niệm
"Nhân chi sơ, tính bản ác". Lịch sử đã chứng minh rằng, không
thiếu gì người Gia Tô, những người đã chịu lễ rửa tội, từ Giáo
hoàng trở xuống, tệ hại và ác độc hơn những người ngoại đạo. Khi
rửa tội thì Sa Tăng đã rút lui, nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần. Vậy
Chúa Thánh Thần chính là nguồn gốc của những sự xấu ác trong những
con người Gia Tô xấu ác khi đã trưởng thành này. Ngoài giáo hội cũng có
không thiếu gì những người "ngoại đạo" suốt đời không làm
điều gì xấu ác, trái với lương tâm. Điều này chứng tỏ Sa Tăng trong
những người ngoại đạo chưa rửa tội còn tốt hơn gấp bội lần Chúa
ba ngôi thay thế Sa Tăng trong những tín đồ xấu ác sau khi đã rửa tội)
3. Ghi
dấu Thánh giá:
Linh mục vẽ dấu thánh giá trên
trán và ngực đứa nhỏ.
(Để làm gì và có tác dụng gì?
Không thấy giải thích)
4. Nghi
thức đặt tay:
Linh mục giơ bàn tay phủ lên đầu
đứa nhỏ, chỉ dấu Chúa Ki Tô chinh phục nó.
(Chúa Ki Tô ở trong bàn tay của
linh mục? Cùng một lúc ở trên thế gian này có biết bao nhiêu đứa trẻ
đang làm lễ rửa tội. Chúa "quyền phép vô cùng" như Tề Thiên Đại
Thánh nên có thể cùng lúc nằm trong bàn tay của vô số linh mục để mà
chinh phục những đứa trẻ sơ sinh chưa biết gì. Mà chinh phục đứa trẻ
sơ sinh để làm gì? Để sau này lớn lên làm tôi tớ hèn mọn của Chúa
như Linh mục Trần Lục tự nhận và được khắc trên tấm mộ bia của
ông? Các bậc cha mẹ mang con đi rửa tội không muốn cho con mình làm người
tự do, chỉ muốn con mình được một người Do Thái đã chết cách đây
hai ngàn năm chinh phục làm tôi tớ hèn mọn? Thật là tội nghiệp cho những
đứa trẻ này.)
5. Ban
muối:
Linh mục ban muối cho đứa nhỏ.
Muối giữ cho khỏi hư thối, chỉ rằng đức tin gìn giữ khỏi sự tội.
(Đức tin có thực sự gìn giữ khỏi
sự tội không? Tội đây tuyệt đối không phải là tội của con người
trong đời sống hàng ngày, vì thực tế cho thấy đức tin đâu có gìn giữ
tín đồ khỏi tội lỗi đâu? Vậy tội đây là "tội Tổ Tông".
Nhưng, như trên đã nói, "tội Tổ Tông" chỉ là một huyền thoại
của dân Do Thái cổ xưa, cho nên lễ tiết "ban muối" trở thành
vô nghĩa, đượm màu mê tín của người dân Do Thái bán khai)
6. Lại
trừ quỷ:
Linh mục lại truyền cho Sa tăng
lần nữa, phải ra khỏi đứa nhỏ. Ngài vẽ dấu thánh giá trên trán, bởi
vì dấu đó là ấn tích của Chúa Ki Tô, đoạn truyền cho Sa tăng không bao
giờ được làm mất dấu ấn tích đó.
(Trong nghi thức trừ quỷ lần đầu,
Linh mục đã ra lệnh cho Sa Tăng phải rút lui nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần.
Một là Sa Tăng coi thường lệnh của Linh mục chẳng có uy lực gì, hai là
Chúa Thánh Thần đã biến thành Sa Tăng trong thân thể đứa trẻ nên Linh mục
lại phải đuổi Sa Tăng ra khỏi đứa trẻ lần nữa. Điều thứ hai này
có thể đúng hơn vì khi lớn lên, đứa trẻ vẫn có thể làm ác, dù rằng
mọi hành động, suy nghĩ của đứa trẻ sau này đều được Chúa Thánh Thần
chỉ đạo. Khó mà có thể đổ tội cho Sa Tăng được nữa. Mặt khác, đứa
trẻ chưa biết nghe. Linh mục nói gì nó có hiểu gì đâu. Nhiều khi đang nói
thì nó ị đùn, tè dầm, hay khóc oe oe. Mà có thật là có Sa Tăng trong người
đứa trẻ không? Thật tội nghiệp cho một đứa trẻ ngây thơ trong trắng,
hồn nhiên, vô tội. Nếu Sa Tăng có thật thì cũng không ở trong đứa trẻ.
Theo một nghĩa nào đó, chính Sa Tăng nằm trong Linh mục, người đã tin
vào những điều hoang đường của thời bán khai, cưỡng nhét Sa Tăng vào
trong đứa bé để rồi có cớ mà đuổi Sa Tăng ra, một quyền lực giả dối
tự ban để ngự trị trên đầu óc của đám tín đồ.)
B. Rước
vào nhà thờ:
LM đặt dải khăn quàng của ngài
trên mình đứa nhỏ, rồi đưa vào nhà thờ Chúa, vừa đi vừa đọc: Con hãy
vào nhà Chúa để thông phần sự sống đời đời cùng Chúa Ki Tô.
(Lại sống đời đời. Ai đọc câu
trên chẳng được, cứ gì phải Linh mục, một người chỉ có nhiệm vụ
học thuộc lòng và nhắc lại những điều "giáo hội dạy rằng",
bất kể những điều này vô nghĩa tới đâu.)
C. Trước
giếng rửa tội.
- Mọi người cùng đọc Kinh Tin Kính
và Lạy Cha.
(Nội dung Kinh Tin Kính ra sao, tôi sẽ
luận về Kinh này ở một nơi khác. Đại cương thì Kinh Tin Kính, đặt ra
khoảng năm 150, đưa ra những khẳng định về những đức tin chính trong
Gia Tô Giáo. Trong thời đại đế Constantine, qua công đồng Nicene năm 325,
kinh này được thêm vào vài đoạn nâng Giêsu Kitô lên cùng hàng với Chúa
Cha với những lời vô nghĩa như "Thần của Thần, ánh sáng của ánh
sáng" (God of God, light of light) v..v.. Kinh này đưa đến một sự mâu thuẫn,
bất đồng ý kiến giữa giáo hội miền Đông và giáo hội miền Tây. Đến
thế kỷ thứ 7, kinh này lại được thay đổi nữa, dài hơn kinh Tông đồ
và kinh Nicene nhiều, trong đó thuyết Chúa Ba Ngôi và nhiều điều hoang đường
khác được thêm thắt vào. Kinh này có tên là kinh Tin Kính Athanasius. Vì
kinh này dài và lủng củng nên chẳng có mấy ai đọc nó. Anh Giáo thường
dùng kinh Nicene làm căn bản và Công Giáo dùng kinh Tông đồ làm căn bản.
Trong sách Giáo Lý Công Giáo của Việt Nam chỉ có kinh Tin Kính của Tông đồ
chứ không có những kinh Nicene hay Athanasius.
Các tín đồ Gia Tô
được dạy phải đọc Kinh Tin Kính hàng ngày để giữ vững đức tin gồm
có: tin rằng Thượng đế phép tắc vô cùng, đã dựng nên trời đất; tin
rằng Giêsu là con một của Thượng đế; tin rằng do Thánh Linh mà bà Maria
đồng trinh mang thai sinh ra Giêsu; tin rằng Giêsu đã chết, xuống ngục tổ
tông, nhưng sau ba ngày lại sống lại và bay lên trời lên trời ngự bên hữu
Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; tin rằng Giêsu ngày sau bởi trời lại xuống
phán xét kẻ sống và kẻ chết; tin rằng có Hội Thánh hằng có ở khắp
thế này; tin ở phép tha tội, và tin xác loài người ngày sau sống lại.
Mọi người lạy Cha nào? Cha trên
trời chỉ có một con là Giê-su. Còn Cha trên đời đứng trước mặt mình
chỉ là một danh xưng tiếm vị của các linh mục.)
- LM lại còn truyền cho quỷ lần
nữa phải dứt bỏ đứa nhỏ; để tâm hồn em bé trở nên Đền thờ Chúa
hằng sống ngự.
(Nghĩa là quỷ vẫn còn ở trong đứa
nhỏ? Nhưng đã hai lần Linh Mục truyền nó phải rút lui nhường chỗ cho
Chúa Thánh Thần rồi cơ mà. Hai lần trước thất bại, có gì bảo đảm là
lần này ông thành công?)
- LM vừa sờ vào tai, lỗ tai của
đứa nhỏ vừa đọc: "Ephphêta", nghĩa là: "hãy mở ra" có
ý chỉ: hãy mở tâm hồn đón rước Chúa.
(Ô⮧ có vừa sờ vào tai, lỗ tai của
đứa nhỏ vừa đọc "Ephêta" thì đứa nhỏ cũng chẳng hiểu Ephêta
là cái quái gì. Bố nó còn chẳng hiểu nữa là nó, vừa mới sinh ra chưa
biết đọc, biết viết, và chưa hề học cái ngôn ngữ chết (dead language)
là tiếng La Tinh, hoặc tiếng Do Thái (Linh mục Joseph McCabe cho biết ông thường
đọc Ephetha bằng tiếng Do Thái (Hebrew)). Dù ông có đọc bằng tiếng Việt
nó cũng chẳng hiểu. Vậy hành động của ông có tác dụng gì đối với
nó? Mà thực ra, ông nhét Chúa vào tâm hồn trong trắng của nó chứ nó đâu
có tự nguyện mở tâm hồn để đón rước Chúa đâu?)
- LM hỏi: "Con có bỏ Sa tăng
không? Có bỏ mọi việc dối trá nó làm không? Người đỡ đầu trả lời
thay: Con xin bỏ.
(Ông Linh mục ơi, Ông đã truyền
cho Sa Tăng phải bỏ đứa trẻ, đi sang phía Tin Lành hay đi đâu đó (xin đọc
tài liệu của Linh mục Joseph McCabe ở phần sau), nhường chỗ cho Chúa
Thánh Thần mấy lần rồi? Sa Tăng ở đâu nữa mà ông còn phải hỏi đứa
con nít còn khóc oe oe chưa biết nói, chưa hiểu gì, một câu hỏi ngớ ngẩn
như vậy? Mà Bố nó trả lời chứ đâu có phải là nó trả lời. Nhỡ nó
không muốn bỏ Sa Tăng thì ông làm gì nó? Thực tế ở ngoài đời cho thấy,
từ Giáo hoàng trở xuống cho đến tín đồ cùng đinh, trong số này có thể
có cả ông nữa, không thiếu gì người khi lớn lên không muốn bỏ Sa Tăng
qua những hành động phi luân lý, phi đạo đức của họ)
- LM lấy dầu thánh xức trên ngực
và vai đứa nhỏ chỉ rằng nó sẽ có sức mạnh chống nổi Sa tăng.
(Thật hoang đường. Chính ông còn
không đủ sức chống Sa Tăng nằm đầy trong Giáo hội, nhất là trong
Vatican, làm sao mà chút "dầu Thánh", cái dầu mà chính ông đã xức
khi nhỏ, có tác dụng chống Sa Tăng? Ông có biết trong giáo hội của ông
có bao nhiêu Giáo hoàng, Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám mục, Linh mục phạm
tội giết người, nghiện rượu, đàng điếm trai gái, cưỡng bách tình dục
trẻ em, đồng giống luyến ái, bị bệnh AIDS v...v... không? Mặt khác, ông
có biết rằng việc làm của ông vô giá trị hay không? Vì Thánh Kinh đã
viết rõ, dầu Thánh chỉ để xức cho người Do Thái, không được xức
cho người ngoài, xức cho người ngoài là vô hiệu lực (Exodus 30: 22-33). Thỉnh
ông hãy đọc lại Thánh Kinh đi )
C. Ở Giếng
Rửa Tội:
Ở giếng rửa tội, LM còn bảo người
đỡ đầu tuyên xưng đức tin lần nữa.
- LM đổ nước ba lần thành hình
thánh giá trên đầu kẻ chịu phép rửa tội, vừa đổ vừa đọc lời rửa
tội.
- LM lại xức dầu thánh trên đỉnh
đầu đứa nhỏ đã trở nên giáo hữu được dự phần con cái trong gia đình
Chúa Kitô.
- LM trao áo trắng cho đứa nhỏ mà
nói rằng: Con hãy nhận lấy áo trắng này. Ước gì con sẽ giữ mãi cho
tinh truyền, tới ngày ra trước tòa Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta mà lĩnh
sự sống đời đời.
(Thánh Kinh viết rằng, Chúa sẽ trở
lại trần để lập tòa phán xét nhân loại ngay khi vài môn đồ của Chúa
còn sống. Sau đó thì Chúa biệt tăm. Đến nay đã 2000 năm, người ta đã
tiên đoán ngày Chúa phán xét bao nhiêu lần rồi, và lần nào cũng sai. Lời
hứa "lĩnh sự sống đời đời" trước Tòa Chúa rút cục chỉ là
những lời hứa hẹn vô trách nhiệm của giới chăn chiên, lừa dối những
tín đồ đầu óc thấp kém, cả tin.)
- LM lại trao cho đứa nhỏ cây nến
thắp sáng mà bảo:
Con hãy nhận lấy ngọn nến sáng
này. Hãy giữ luật Chúa, bảo vệ ân sủng đã nhận khi chịu phép rửa tội.
Như vậy, tới ngày Chúa đến ban tiệc cưới đời đời, con sẽ có thể
cùng các thánh ra đón rước Người, đi vào triều đình thiên quốc, hưởng
phúc đời đời.
Đoạn LM chúc lành bình an cho đứa
nhỏ.
(Miễn phê bình)
Bản văn của nghi thức rửa tội
đã chứng minh rằng lễ tiết rửa tội vô giá trị vì không có gì chứng
tỏ là cái "tội tổ tông" hoang đường đã được rửa sạch, quyền
lực của Linh mục chỉ là ngụy tạo để lừa dối tín đồ vì không có
gì bảo đảm là Sa Tăng đã rút lui nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần trừ
phi chúng ta hiểu rằng Sa Tăng và Chúa Thánh Thần tuy hai mà là một, theo
như tinh thần bản văn và những thực tế ở ngoài đời. Thật vậy, sách
Giáo Lý Công Giáo viết, trang 153:
"Khi chịu phép rửa tội
rồi, ta được Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần tới ngự trong tâm hồn.
Người giáo hữu trở nên đền thờ Chúa ngự."
Như vậy thì ai chịu trách nhiệm
về những hành động xấu xa, ác độc, vô luân v..v.. của một số Giáo
hoàng, Giám mục và Linh mục và vô số con chiên sau khi tất cả những người
này đã rửa tội và được Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần ngự
trong tâm hồn? Đổ tội cho Sa Tăng chăng? Nhưng như vậy thì rõ ràng là cả
ba Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần họp lại cũng không chống nổi Sa
Tăng, vậy bày đặt ra chuyện "toàn năng" với "cứu rỗi",
với "ban cho sự sống đời đời" v...v... làm gì? Có phải chỉ
là để lừa dối những kẻ nhẹ dạ, cả tin, không có đầu óc suy luận
hay không? Để hiểu rõ hơn về hiệu lực của lễ rửa tội, chúng ta hãy
đọc nhận xét sau đây của Linh mục Joseph McCabe, một linh mục có 25 năm
trong nghề, và đã làm lễ rửa tội cho không biết bao nhiêu con nít, trong
cuốn Sự Thực Về Giáo Hội Gia Tô (The Truth About The Catholic Church),
trang 64-65:
"Bí tích rửa
tội là để cho các trẻ sơ sinh…vì một lý do rất nghiêm trọng. Mọi hậu
duệ của Adam đều mang cái tội của Adam và phải chịu trừng phạt. Mới
đầu, người ta tin tưởng rằng, đàn ông, đàn bà, trẻ con nào không được
nước rửa tội rửa sạch cái tội tổ tông đó đi thì sẽ bị đầy đọa
vĩnh viễn trong hỏa ngục. Niềm tin này thật là quá đáng, ngay cả đối
với con người trong thời Trung Cổ, và các nhà Thần học bèn sửa đổi:
Ai không rửa tội thì không được lên Thiên đường, Giáo hội bám chặt
vào tín điều này. Nhưng những đứa trẻ ngây thơ vô tội không phải xuống
hỏa ngục. Chúng bị đầy vào một nơi u ám, cánh tay hiện đại nối dài
của hỏa ngục, và có thể sung sướng ở đây, nhưng chúng không bao giờ
được "thấy Chúa", hoặc gặp lại cha mẹ chúng.
Do đó, đứa trẻ
được mang vội tới nhà thờ chiều ngày Chủ Nhật ngay sau khi sanh. Nếu
nó bị cảm lạnh và chết thì cha mẹ không được than khóc. Nó đã đi thẳng
lên Thiên đường, nơi tuyệt đối không có tì vết nào… Tuy nhiên, ngày
nay nước rửa tội đã được làm ấm, và rồi cái lễ kỳ quặc bắt đầu.
Ông (Linh mục) nhổ vào đầu ngón
tay rồi bôi vội lên miệng và mắt đứa bé và nói "Ephetha" (bằng
tiếng Do Thái). Ông ta cho ít muối vào miệng đứa bé; đương nhiên nó
vùng vẫy chống lại và khóc lên. Ông ta nghiêm trọng ra lệnh cho bất cứ
những con quỷ nào trong nó ra khỏi nó và đi đến - bọn Tin Lành hay bất
cứ đâu. Rồi ông đổ ít nước, đã được trừ quỷ và ban phép lành rất
kỹ, lên đầu đứa bé ( phải hết sức cẩn thận đổ nước lên da đầu
chứ không chỉ trên tóc, nếu không đứa bé sẽ không bao giờ được lên
Thiên đường); và rồi cái án phạt khủng khiếp treo trên đầu nó鬠vì một nhân vật hoang đường tên là Adam ăn một trái
táo hoang đường trong một cái vườn hoang đường dưới triều vua
Khammurabi ở Babylon, đã được ân huệ (của Chúa) hủy bỏ…
Thật khó mà có thể thảo luận
bí tích số 1 này một cách nghiêm túc. Nhổ nước bọt và quỷ, dầu
thánh và nước thánh, đèn cầy thắp sáng và hộp thu tiền, đã đủ hoang
đường rồi, nhưng cái nguyên lý chủ yếu của lễ rửa tội này thật
là không thể chịu được. Ngay cả ý tưởng đọa đầy tương đối nhẹ
những đứa trẻ không rửa tội (vào một nơi u ám, cánh tay nối dài của
hỏa ngục như đã viết ở đoạn trên. TCN), với tất cả sự thích hợp
với thời đại mới, cũng quá ngu xuẩn để có thể viết lên thành lời.
Ngày nay có những học giả Gia Tô coi chuyện Adam và vườn Eden như là
"một huyền thoại thích thú". Tuy vậy, bí tích này vẫn là giáo
điều xác định rõ ràng và bắt buộc của giáo hội, rằng đứa trẻ nào
sinh ra, (trừ Mary - đây chính là nghĩa thực của "thụ thai vô nhiễm")
đều phải mang "cái tội của Adam", và phải trải qua những nghi
thức kỳ lạ tôi đã mô tả"
"The sacrament of baptism is for
infants…For a very serious reson. Every child of Adam has incured the sin of Adam, and
must pay the penalty. At first it was drastically held that every man, woman, or child who
had not this stain "washed away" in the waters of baptism would burn in hell for
ever. That was too much even for medieval human nature, and the theologians made a
compromise… The unbaptized cannot enter heaven. The church sticks to that. But the
innocent babes do not go to hell. They go into a sort of dim modern extension of the
underworld, and may even be happy there, but they will never "see God", or see
their parents again.
So the babe is rushed to the church on the
first Sunday afternoon after its birth. If it caches a fatal cold, the parents must not
grieve. It has gone stright to heaven, absolutely spotless. The water is, however, now
warmed, and the weird ceremony proceeds.
You spit on your finger, and daub the babe’s
mouth and eyes, and say to it "Ephetha" (in Hebrew). You put some salt into its
mouth; which is generally resents in the usual manner and tone. You talk very severely, to
whatever devils there may be and bid them to go - to Protestants or anywhere. Then you
pour a shell of water, very highly exorcized and blessed, over its head (taking extreme
care that it touvhes the skin, not merely the hair, or the babe will never go to heaven);
and the dreadful sentence which overhung it, because a legendary being named Adam ate a
legendary apple in a legendary garden in the reign of King Khammurabi of Babylon, is
mercifully cancelled.
It is difficult to discuss sacrament No. 1
seriously. Spittle and devils, holy oils anf holy water, lighted candles and collecting
boxes, are bad enough, but the essential principle of the thing is intolerable. Even the
comparative damnation of the unbaptized, with "every modern convenience", is too
stupid for words. There are Catholic scholars now who regard Adam and Eden as "a
beautiful legend."..Yet it is still the emphatic and obligatory teaching of the
Church that every child born (except Mary - that is the real meaning of the
"Immaculate Conception") shares "the sin of Adam", and must be put
through the extraordinary performance I have described.)
Linh mục McCabe viết những điều
trên năm 1942. Ngày nay, có thể một số chi tiết trong những nghi thức rửa
tội đã thay đổi, như được viết trong cuốn Giáo Lý Công Giáo. Nhưng
tính chất mê tín hoang đường trong những nghi thức rửa tội nằm trong
điều "giáo hội dạy rằng" thì vẫn còn nguyên. Đó chính là điều
đáng nói. Và sau cùng, học giả Gia Tô Henri Guillemin, trong cuốn Cái
Giáo Hội Khốn Nạn (Malheureuse E駬ise) cũng
nhận xét về phép rửa tội trong Gia Tô Giáo như sau:
"Một Giáo
hội mà phải dùng đến ảo thuật để thực hiện hai "bí tích
chính" của mình (Bí tích rửa tội và bí tích ban thánh thể. TCN)
Mới đầu, với một chút nước và vài câu đối thoại khôi hài, giáo hội
giật đứa trẻ sơ sinh ra khỏi móng vuốt của con quỷ đã giam cầm đứa
bé trong cái "tội tổ tông"…"
(Une E駬ise qui, pour ses deux "grands sacrements", recourt à la
magie. Elee arrache d’abord, avec un peu d’eau et la comédie d’un dialogue, le
nouveau-né aux griffes du Démon refermées sur lui par le "péché
originel"...)
Trước những tài liệu nêu trên, một
của linh mục, và một của một học giả Gia Tô, và trước bản văn mô tả
nghi thức "rửa tội" trong sách Giáo Lý Công Giáo của Việt
Nam mà tôi vừa bình luận ở trên, các tín đồ Gia Tô Việt Nam ngày nay đứng
trước một vấn đề nan giải, vì họ chỉ có thể chấp nhận một trong
hai điều sau đây, chứ không thể chấp nhận cùng lúc cả hai. Hai điều này
có tính cách loại trừ hỗ tương (mutual exclusive), có điều này thì không
thể có điều kia.
Một là tin vào hiệu năng của
bí tích rửa tội qua quyền phép ảo thuật của linh mục hay giám mục mô
tả trong nghi thức rửa tội. Vậy thì tất cả những tội lỗi của Gia
Tô Giáo đối với nhân loại là tội của Chúa ba ngôi, vì sau khi rửa tội,
Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần đã tới ngự trong tâm hồn của tín
hữu Gia Tô. Người giáo hữu đã trở nên đền thờ nơi Chúa Ngự. Những
hành động của các tín đồ Gia Tô, do đó, đều do sự hướng dẫn tâm
linh của Chúa Thánh Thần. Vả chăng, giáo hội thường dạy các con chiên:
Giáo hoàng là do sự mạc khải linh ứng của Chúa Thánh Thần cho các Hồng
Y trong việc tuyển lựa Giáo hoàng, Giáo hoàng được Thánh Linh chỉ đạo,
không thể sai lầm về đức tin hay đạo đức, giáo hội là nhiệm thể của
Chúa cho nên không thể sai lầm. Nhưng nay giáo hoàng đã công khai xưng thú
những tội lỗi mà giáo hội đã phạm dưới sự hướng dẫn tâm linh của
Chúa ba ngôi, và xin được tha thứ . Vậy, đúng ra điều này phải được
giải thích là giáo hoàng đã đại diện cho Chúa để xin lỗi những nạn
nhân của Chúa. Việc ủy ban Thần học của Tòa Thánh Vatican đưa ra luận
điệu "xưng tội cùng Chúa" xét ra thậm vô lý vì Chúa là thủ phạm
chính. Đầy tớ theo lời dạy của chủ đi làm điều ác, rồi khi bị thế
giới lên án, lại đi xưng tội với chủ và xin chủ tha thứ. Trên thế
gian này làm gì có chuyện ngược đời như vậy? Những chuyện ngược đời
như vậy chỉ có thể tồn tại trong đầu óc của những tín đồ cuồng tín,
bất chấp lẽ phải. Thế giới văn minh tiến bộ ngày nay không thể chấp
nhận những chuyện vô lý như vậy.
Hai là tin rằng những tội lỗi của
giáo hội Gia Tô đối với nhân loại không phải do Chúa chủ mưu, mà
chính là do Sa Tăng khuấy khuất. Điều này đưa đến sự vô hiệu của
"bí tích" rửa tội, quyền năng đuổi bỏ Sa Tăng của linh mục là
quyền giả tạo, vì đã năm lần bảy lượt đuổi Sa Tăng ra khỏi đứa
nhỏ để nhường chỗ cho Chúa Thánh Thần mà sau cùng Chúa Thánh Thần vẫn
bị đánh bạt ra khỏi con người của đứa nhỏ. Nói tóm lại, dù trong lễ
rửa tội, linh mục đã làm đủ mọi cách, trổ hết tài năng quyền phép
Chúa trao cho (thực ra đây chỉ là điều giáo hội bịa đặt ra để giới
linh mục ngự trị đám tín đồ thấp kém), tội tổ tông vẫn không rửa
được, Chúa vẫn thua Sa Tăng, đứa trẻ khi lớn lên vẫn không đủ sức
chống nổi Sa Tăng, tâm hồn người được rửa tội vẫn không có Chúa ngự,
những ân sủng đã nhận khi chịu phép rửa tội trở thành những bánh vẽ
trên trời, và lẽ dĩ nhiên chẳng làm gì có cuộc sống đời đời, cứu
cánh chung cùng của phép rửa tội.
Phần chắc là các tín đồ Gia Tô
không dám tin rằng chính Chúa là nguồn gốc của mọi tội lỗi trong Gia
Tô Giáo. Như vậy thì bí tích "rửa tội" chỉ là trò ma thuật của
giáo hội bày đặt ra, dựa theo một tục lệ cổ xưa của những người sống
trong miền Trung Đông trong đó có Do Thái, để lừa dối đám tín đồ kém
hiểu biết, nhồi sọ tín đồ khiến cho họ tin tưởng rằng linh mục có
quyền thay Chúa, thực sự có khả năng rửa sạch cái tội tổ tông hoang
đường, cũng như đuổi quỷ Sa Tăng nằm sẵn trong mọi đứa trẻ sơ
sinh. Vì như tôi vừa chứng minh ở trên, quyền năng giáo hội ngụy tạo
cho giới linh mục không có mảy may hiệu lực khi làm lễ rửa tội cho con
chiên. Điều này kéo theo nhiều điều khác, tất cả bí tích trong Gia Tô
Giáo đều chỉ là những điều huyễn hoặc thuộc loại mê tín. Thật vậyﬠnếu
linh mục chẳng có quyền năng gì trong phép rửa tội, điều này thật là
hiển nhiên như đã trình bày ở trên, thì có gì bảo đảm là họ có quyền
năng để nhận lời xưng tội và tha tội cho các tín đồ? Hoặc biến chất
một mẩu bánh thành thịt của Chúa khi làm lễ ban Thánh thể (Eucharist) để
cho tín đồ ăn vào và hiệp thông cùng Chúa? Những quyền phép mà họ tự
nhận ở đâu mà ra? Ai cho họ cái quyền đó? Có gì chứng tỏ những quyền
phép đó là có thật và có tác dụng thực sự? Chúa cho ư? Cho khi nào? Khi
tốt nghiệp chương trình huấn luyện linh mục có tính cách nhồi sọ của
giáo hội? Dù Chúa có cho đi chăng nữa thì đó cũng chỉ là những hứa hẹn
không thực, vì quyền phép này vô hiệu lực trong phép rửa tội. Đây
không phải là nơi bàn về những bí tích trong Gia Tô Giáo. Ở một nơi khác
tôi sẽ trình bày thực chất của 7 bí tích chính trong Gia Tô Giáo và chứng
minh rằng những bí tích đó được giới tu sĩ Gia Tô bày đặt ra để kiểm
soát đầu óc và đời sống của các tín đồ từ lúc sinh ra cho tới lúc
chết. Những sự thực này sẽ giải phóng họ ra khỏi những cơn mê muội
đã làm cho họ tin vào những điều phi lý, mâu thuẫn, phi lôgic, và phản
khoa học.
Qua những tài liệu vừa trích dẫn
ở trên và qua sự phân tích về bí tích rửa tội trong Gia Tô Giáo, chúng
ta thấy rằng luận điệu "xưng tội cùng Chúa" và "xin Chúa
tha thứ" của các nhà Thần học Gia Tô thật ra chỉ để cho những tín
đồ thuộc loại bảo sao nghe vậy đọc. Đối với giới hiểu biết trong
cũng như ngoài giáo hội, luận điệu này không thể thuyết phục được
ai vì nó hoàn toàn phi lý.
Người Gia Tô tin rằng, sau khi được
rửa tội, họ chính thức là giáo hữu của "hội Thánh". Họ được
nhồi sọ để tin tưởng rằng cái hội Thánh của họ là thánh thiện,
thiên khải, cao quý v…v…Nhưng họ sẽ nghĩ sao trước những lời xưng thú
tội lỗi vừa qua của giáo hoàng? Họ có tin rằng với vài lời xưng thú
tội lỗi và xin được tha thứ là lịch sử đen tối của Gia Tô Giáo
trong suốt 2000 năm trở thành trong sạch không còn chút tì vết nào? Họ
có tin rằng thế giới sẽ quên đi tất cả những tội lỗi của Gia Tô
Giáo đối với nhân loại, hoặc các tác phẩm nghiên cứu về những tội
lỗi này sẽ biến mất trên thế gian? Hơn nữa, đi sâu vào mọi vấn đề
trong xã hội, ngay cả trong những hoạt động mà giáo hội thường thổi
phồng phô trương như mở nhà thương, trường học, viện tế bần, hay các
công cuộc từ thiện, chúng ta cũng có thể thấy mặt trái của chúng khác
hẳn với những điều giáo hội thường tuyên truyền. Vậy làm sao họ
còn có thể hãnh diện về tôn giáo của họ? Hãnh diện về cái gì, so với
những tôn giáo khác? Trong lịch sử nhân loại, không có một tín đồ tôn
giáo Đông phương nào, ví dụ như Phật Giáo, nhân danh Giáo chủ hay tôn
giáo mình đi giết người để truyền đạo. Nếu chỉ vì một chiếc bánh
vẽ trên trời (từ của Linh mục Ernie Bringas chỉ Thiên đường: A
Pie-in-the sky), hoặc vì một viễn tượng không chắc chắn (từ của
giáo sư đại học David Voas chỉ Thiên đường: Paradise is an uncertain
prospect at best), mà họ phải nép mình trong một cộng đồng mà tiếng xấu
trong mọi lãnh vực không sao xóa sạch được, một cộng đồng mà bản chất
chỉ "là một sự giả dối trống rỗng và là một cặp nạng cho những
người có đầu óc yếu kém cần đến sức mạnh trong số đông"
(theo định nghĩa Ki Tô Giáo của Thống Đốc Tiểu Bang Minnesota Jesse
Ventura: Christianity is a sham and a crutch for weak-minded people who need strength in
numbers), thì quả thật là tội nghiệp cho họ.
Trở lại vấn đề xưng thú tội
lỗi của giáo hội: ngoài việc đổ tội cho "vài con cái" của
giáo hội chứ không phải là chính giáo hội phạm tội, và chỉ "xưng
tội cùng Chúa", Giáo hoàng còn đưa ra một luận cứ thần học có
tính cách lừa dối về ý nghĩa chuộc tội của Giêsu:
"Chúa KiTô, bậc
Thánh, tuy tuyệt đối không có tội, nhưng đã bằng lòng gánh những tội
lỗi của chúng ta. Người đã bằng lòng hoàn thành sứ mệnh nhận từ
Chúa Cha để chuộc tội cho chúng ta."
(Christ, the Saint, although
absolutely without sin, agreed to take our sins upon himself. He agreed, in order to
redeem us,..to accomplish the mission he received from the father.)
Tiếng nói chính thức của
Vatican, L’Osservatore Romano, ngày 15 tháng 3, 2000, cũng đưa ra cùng một luận
điệu:
"Đức Ki Tô
đã gánh hết những tội lỗi của mọi người, những tội lỗi của chính
chúng ta, để qua sự hi sinh cứu chuộc của Người, chúng ta có thể hòa
giải với Thần Ki Tô."
(Christ took upon himself
the burden of the sins of all people, the burden of our own sins, so that through his
saving sacrifice we might be reconciled with God).
Tôi cho đây là những luận điệu
thần học méo mó và mơ hồ, vì Giáo hội không giảng rõ những tội trên
là tội nào. Nhưng trong khuôn khổ một bản văn liên quan đến hành động
xưng thú tội lỗi của Giáo hội, chúng ta phải hiểu rằng đó là những
tội mà Giáo hội đang xưng thú. Chúng ta hãy phân tích câu trên trong ánh
sáng của lý trí và những sự kiện bất khả phủ bác trong khoa học.
Trước hết, chúng ta thấy ngay rằng,
về phương diện luân lý và đạo đức, những câu trên đã khuyến khích
con người phạm tội, vì nếu hiểu rằng Chúa đã gánh hết tội lỗi, những
tội lỗi thế tục như giết người, cướp của v..v.. của giáo hội và
tín đồ từ trước tới nay, thì giáo hội và tín đồ vẫn có thể tiếp
tục phạm tội mà không còn phải e ngại điều gì. Thứ đến, nếu "Đức Ki Tô đã gánh hết tội lỗi của mọi người"
thì trong "mọi người" này chắc chắn là có tôi. Tuy nhiên,
tôi vẫn thắc mắc một điều. Nếu tôi, khi đọc Thánh Kinh, nhận thấy
những hành động Chúa Cha cũng như Chúa Con trong đó không đáng để tôi
kính trọng, đừng nói đến chuyện tôn thờ, vậy thì Chúa có gánh cái tội
đó, nếu có thể gọi là tội, cho tôi không? Hay là Chúa vẫn giữ lập trường
trong Tân Ước, Luke 19:27 : "Hãy mang những kẻ thù của Ta ra đây, những
người không muốn Ta ngự trị trên họ, và giết chúng ngay trước mặt
Ta" (Bring here those enemies of mine who did not want me to reign over them and
slay them before me) hoặc sẽ đầy đọa tôi xuống hỏa ngục vĩnh viễn? Tôi
nghĩ rằng, theo giáo lý Gia Tô, Chúa chỉ gánh hộ và tha thứ cho những tội
thuộc 7 núi tội lỗi của những tín đồ tin Chúa, chứ kkông bao giờ
gánh tội và tha thứ cho cái tội tự do tư tưởng, tận dụng lý trí và
suy tư của những người ngoại đạo, không tin Chúa.
Thật ra thì Giáo hoàng và ủy ban
thần học của ông ta đã chơi trò nhập nhằng, đồng hóa "tội tổ
tông" với 7 núi tội mà giáo hội xưng thú để vuốt ve, an ủi, làm
yên lòng tín đồ. Đây chính là sự thiếu thẳng thắn của những luận
điệu thần học như trên của Gia Tô vì những luận điệu này không phù
hợp với vai trò "chuộc tội" của Giêsu mà các nhà thần học đã
bày đặt ra để chiêu dụ tín đồ.
Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ
nghĩa của danh từ "redeem": chuộc. Chuộc có nghĩa là dùng cái gì
đó có giá trị để mua lại cái đã mất chứ không phải cái chưa xảy
ra. Chúa chết đã 2000 năm nay, không thể "chuộc" những tội của
tín đồ mà Chúa không thể biết là những tội đó như thế nào và xảy
ra khi nào sau khi Chúa chết. Nếu Chúa thực sự hứa hẹn một cách vô
trách nhiệm là sẽ gánh hết những tội lỗi của con người, bất kể đó
là những tội nào, theo như lời diễn giải của giáo hội, thì Chúa đã
là đồng lõa với tội lỗi, khuyến khích sự phạm tội, nghĩa là nguồn
gốc của tội lỗi. Sự thực là, vai trò "cứu chuộc" của Giêsu
bắt nguồn từ huyền thoại về sự sáng tạo của Chúa Cha, về sự sa
ngã của Adam và Eve được coi như là tổ tông của loài người do đó đã
gây ra cái gọi là "tội tổ tông", về cái chết của Giêsu trên
giá gỗ hình chữ thập. Trong nhiều thế kỷ, nhiều nhà lãnh đạo Gia Tô
đã vật lộn với cái mà họ gọi là "Thần học về cây thập
giá" (Theology of the Cross) để cố tìm chất liệu biện minh cho vai trò
cứu chuộc của Giêsu: Vì Adam và Eve nghe theo lời xúi bậy của Satan (thực
ra chính là lời khuyên tốt để cho họ mở mắt ra, biết rõ phải trái,
thoát khỏi cảnh nô lệ ngu đần trí thức) nên đã cưỡng lời Thần Ki Tô,
ăn một trái trên cây hiểu biết (the tree of knowledge). Điều này làm cho Thần
Ki Tô giận dữ vì như vậy là trí tuệ của con người trở thành ngang với
của Thần (thực ra thì trí tuệ con người ngày nay đã vượt xa trí tuệ
của Thần như được viết trong Thánh Kinh), cho nên Thần trừng phạt con
người từ kiếp này sang kiếp khác cho đến vô tận. (Đây là chuyện của
những người trong thời bán khai. Vì, truy nguyên gốc gác của sự sa ngã của
Adam và Eve, lỗi về phần Thần chứ không phải là Adam và Eve. Thật vậy,
Thần "sáng tạo" ra Adam và Eve theo hình ảnh của Thần và tự khen
là tuyệt hảo (very good), nhưng hai người này lại không đủ sức chống lại
sự cám dỗ của một con rắn biết nói. Thần là bậc "toàn năng"
và "toàn trí", nghĩa là làm gì cũng được và cái gì cũng biết,
nhưng Thần lại thản nhiên ngồi nhìn một tác phẩm sáng tạo khác của
Thần là Satan, dưới dạng một con rắn, len lỏi vào vườn Eden để cám dỗ
Adam và Eve, rồi cứ để yên cho Adam và Eve nghe theo lời khuyên tốt lành của
con rắn ăn trái cây trên cây hiểu biết để mở mang trí tuệ, mà không
có một hành động nào ngăn cản, tuy Thần đã biết trước việc gì sẽ
xảy ra (toàn trí). Ngày nay còn ai tin được những chuyện phi lý như trên
không?) Vì cái gọi là "tội tổ tông" trên, hình phạt nặng nhất
của Thần dành cho loài người là con người ai cũng phải chết (thực ra
thì từ thời ông Bành Tổ, chẳng có ai sống mãi, nên dân Do Thái mới cho
rằng đó là hình phạt của Thần mà không biết đến 4 giai đoạn thành,
trụ, hoại, diệt của các pháp hữu vi trong đó có con người). Trải qua
4000 năm (theo Thánh Kinh: Thần sáng tạo ra vũ trụ và muôn loài cách đây
6000 năm), Thần không nghĩ gì tới chuyện hòa giải với con người. Cho tới
cách đây 2000 năm, Thần mới hóa thân làm Thánh Ma (Holy Ghost), xâm phạm tiết
hạnh của một người đàn bà đã có chồng là Maria (trong khi thiếu gì
các trinh nữ khác chưa chồng) để sinh ra "con một" của Thần là
Giêsu, rồi bắt Giêsu phải chịu cực hình bị đóng đinh trên thập giá,
lấy máu "rửa sạch tội lỗi" của con người, tội đã cưỡng lời
Thần ăn đại một trái trên cây hiểu biết, để con người có thể được
Thần tha tội và hòa giải lại với Thần. Đó chính là nhiệm vụ "cứu
chuộc" của Giêsu. Giêsu dùng máu của mình (tương tự như thời xưa
con người dùng máu của người hay của loài vật, để làm nguôi cơn giận
của các Thần trong dân gian) để chuộc cái "tội tổ tông" của
con người và cứu con người khỏi sự trừng phạt của Thần Ki Tô. Do đó,
"Giáo hội dạy rằng": người nào tin Giêsu thì sẽ không còn bị
luận phạt (nghĩa là bị đày đọa xuống hỏa ngục vĩnh viễn) và sẽ hưởng
"sự sống đời đời", lẽ dĩ nhiên là sau khi chết, ở trên một
thiên đường mà theo lời tuyên bố của giáo hoàng Gion Pôn Hai gần đây,
không ở trên các tầng mây mà chính ở trong tâm con người. Theo thuyết này
thì tất cả những người trong những thời đại trước khi Giêsu sinh ra
đời, trong đó có cả tổ tiên, họ hàng Giêsu, vì không biết đến một
Giêsu sinh sau đẻ muộn để mà tin, nên bị luận phạt hết.
Đó là sơ lược, vô cùng sơ lược,
lý thuyết "thần học về cây thập giá" của Gia Tô Giáo. Còn chuyện
Giêsu tình nguyện "gánh hết những tội lỗi của mọi người" là
chuyện thêm thắt về sau, với mục đích gì, chẳng phải là một thần đồng
mới đoán ra nổi.
Chỉ có điều, trong thời buổi
này, chẳng còn ai, kể cả nhiều người trong Giáo hội Gia Tô, tin vào những
chuyện hoang đường như Giêsu "chuộc tội" và "tội tổ
tông". Trọng điểm của Tân Ước là vai trò "chuộc tội" và
"cứu rỗi" của Chúa Con, Giêsu. Nhưng vai trò này, như chúng ta đã
biết, đặt trên giả thuyết là con người có tội, cần đến một sự
"chuộc tội" và "cứu rỗI". Do đó, câu chuyện con người
sa ngã, phạm tội với Chúa Cha và bị Chúa Cha nguyền rủa, hành hạ, đày
ải, trừng phạt v...v...được đặt ra qua các nhân vật của huyền thoại
Adam và Eve như tôi vừa trình bày hết sức sơ lược ở trên. Ông Đỗ Mạnh
Tri, một trí thức Gia Tô, trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng, đã phủ
nhận những lời "mạc khải" không thể sai lầm của Thần Ki Tô
trong Cựu Ước, chấp nhận chuyện Adam và Eve ăn trái cấm tạo thành tội
tổ tông là một huyền thoại. Theo rõi thời cuộc, chúng ta cũng biết rằng
Giáo Hoàng Gion Pôn Hai đã công nhận thuyết vũ trụ sinh ra từ một Big
Bang cách đây trên 15 tỷ năm, nghĩa là phủ nhận vai trò sáng tạo ra vũ
trụ của Thượng đế cách đây mới 6000 năm, và công nhận thuyết Tiến
Hóa của Darwin và những khai triển của thuyết này sau Darwin, nghĩa là phủ
nhận huyền thoại "tội tổ tông". Vậy thì, vai trò "chuộc tội"
và "cứu rỗi" của Chúa Con có ý nghĩa gì trong thời đại này
ngoài việc trở thành một chuyện hoang đường? Tội tổ tông chỉ là một
huyền thoại của dân Do Thái, vậy thì ai cần ai "chuộc tội", và
ai cần ai "cứu rỗi"? Điều này kéo theo chuyện Chúa Con chịu đóng
đinh trên Thập Giá để "chuộc tội" cho nhân loại là chuyện
hoang đường nhất trong những chuyện hoang đường. Nói tóm lại, vai trò
"chuộc tội" và "cứu rỗi" của Chúa Con, Giêsu, đặt nền
tảng trên huyền thoại về các nhân vật Adam và Eve trong cuốn đầu trong
Cựu Ưóc, Sáng Thế (Genesis), và cùng sống hay cùng chết với huyền thoại
này. Nhưng, trong ánh sáng của khoa học và lý trí, giá trị đích thực của
huyền thoại về tội tổ tông trong Cựu Ước đã được chứng minh rằng
không hơn giá trị của một mớ huyền thoại khác thuộc lịch sử của
dân tộc Do Thái. Cũng vì nhận rõ được tính chất hoang đường, vô hiệu,
lỗi thời của "bí tích rửa tội", của vai trò "chuộc tội"
và "cứu rỗi" của Giê-su, mà trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải
Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die), Giám mục John
Shelby Spong đã dành riêng chương 6 để viết về đề tài Giê-su Như Là
Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ련Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go). Trong chương này,
Giám Mục Spong viết như sau, trang 98-99:
"Nhân loại
chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi.
Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa
tội. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi
nếu chúng ta không rửa tội. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ
khôi phục tình trạng trước khi sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê
tín trước thời Darwin và một sự vô nghĩa sau thời Darwin."
(We human beings do not live in sin. We
are not born in sin. We do not need to have the stain of our original sin washed away in
baptism. We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized... A
savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and
post-Darwinian nonsense.)
Trong cuốn "Thần Vẫn Sống:
Từ Sợ Hãi Tôn Giáo Đến Tự Do Tâm Linh" (God Lives: From Religious
Fear To Spiritual Freedom, Steven J. Nash Publishing, IL., 1993), trang 114, Linh mục
James Kavanaugh cũng đưa ra nhận xét sau đây về tín điều "chuộc tội"
trong Gia Tô Giáo:
"Đối với bất
cứ người nào trong thế giới cổ xưa đứng trước Thần Ki Tô như là một
nạn nhân bất lực, tin rằng mình là một