«Bất
tư nghì, là diệt đế, vượt ngoài đối tượng của hết thảy
tâm thức của chúng sinh, và cũng không phải cảnh giới trí tuệ của
hết thảy A-la-hán và Bích-chi-Phật. Cũng như người mù bẩm sinh không thấy
được các sắc, con nít bảy ngày không thất được mặt trời. Khổ diệt
đế cũng như vậy, không phải là sở duyên của tâm thức của hết thảy
phàm phu, cũng không phải là cảnh giới trí tuệ của hai thừa. Thức của
phàm phu là sự điên đảo của hai kiến chấp. Trí của hết thảy A-la-hán
và Bích-chi-Phật thì vốn thanh tịnh. Biên kiến, là phàm phu đối với năm thủ
uẩn
mà thấy là ngã, vọng tưởng chấp trước, sinh ra hai kiến chấp, đó gọi
là biên kiến; tức là thường kiến và đoạn kiến. Thấy rằng các hành
là vô thường, ấy là đoạn kiến chứ không phải
chính kiến. Thấy rằng Niết-bàn là thường, ấy là thường kiến chứ không
phải chính kiến.»
«Do
vọng tưởng kiến chấp cho nên chủ trương như vầy: đối với các căn
ở nơi thân,
phân biệt, tư duy thấy rằng trong hiện tại chúng hủy
hoại,
mà không thấy dòng tương tục của sự hữu, do đó khởi lên đoạn kiến.
Vì vọng tưởng kiến chấp vậy. Đối với tâm tương tục mà ngu tối,
không tỏ rõ, không biết cảnh giới ý thức có gián đọạn trong từng sát-na,
nên khởi thường kiến. Vì do vọng tưởng kiến chấp vậy.»
«Vọng
tưởng kiến chấp này, đối với nghĩa kia, hoặc thái quá hoặc bất cập,
phát sinh phân biệt với những ý tưởng dị biệt, hoặc cho là
đoạn hoặc cho là thường.»
«Chúng
sinh điên đảo, đối với năm thủ uẩn vốn vô thường mà tưởng là thường,
vốn khổ mà tưởng là lạc, vô ngã tưởng là ngã, bất tịnh tưởng là
tịnh. Tịnh trí của hết thảy A-la-hán, Bích-chi-Phật, hoặc có chúng sinh
do tin lời Phật, đối với cảnh giới của nhất thiết trí và Pháp thân
của Như Lai vốn chưa từng được thấy, mà khởi lên ý tưởng về thường,
lạc, ngã, tịnh; đấy không phải kiến chấp điên đảo, cho nên gọi
làchính kiến. Vì sao? Pháp thân của Như Lai là thường ba-la-mật,
ngã ba-la-mật, tịnh ba-la-mật và lạc ba-la-mật. Đối với Pháp thân của
Phật mà thấy như vậy thì gọi làchính kiến. Ai cóchính kiến
tức là con chân thật của Phật, từ miệng Phật sinh, từChính pháp sinh,
từ Pháp mà hóa sinh, thừa hưởng di sản của pháp.»
«Bạch
Thế Tôn, tịnh trí ấy là trí ba-la-mật của hết thảy A-la-hán, và Bích-chi
Phật. Tịnh trí ấy tuy là tịnh trí nhưng đối với diệt đế kia vẫn
chưa phải là cảnh giới, huống chi là bốn y trí. Vì sao? Ba thừa
sơ nghiệp
mà không ngu mê đối với pháp thì sẽ có thể giác ngộ, sẽ chứng
đắc nghĩa ấy. Chính vì thế mà Thế Tôn nói bốn y cho họ. Bạch Thế
Tôn, bốn y này là pháp thế gian.»
«Bạch
Thế Tôn, một y là tất cả y chỉ, là tối thượng xuất thế gian đệ nhất
nghĩa y, đó là diệt đế.»